48 Lời Nguyện của Phật A Di Đà (Song Ngữ)

48 Lời Nguyện của Phật A Di Đà (Song Ngữ) 1

 48 Lời Nguyện của Phật A Di Đà 

 48 Vows of
Amitabha Buddha

 1. Giả sử
khi tôi thành Phật, nước tôi còn có địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh thì tôi chẳng
lấy ngôi chánh giác. 

 

1.”Provided I become a
Buddha, if in my Buddha-land there should be either hell, or the animal state
of existence, or the realm of hungry ghosts, then may I not attain
enlightenment.

2. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn
nước tôi sau khi mạng chung còn trở lại ba ác đạo thì tôi chẳng lấy ngôi chánh
giác. 

 

2.”Provided I become a
Buddha, if the beings born in my Buddha-land should retrogress into the three
evil realms, then may I not attain enlightenment.

3. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn
nước tôi chẳng đều thân màu vàng ròng thì tôi chẳng lấy ngôi chánh
giác. 

3.”Provided I become a
Buddha, if the beings born in my Buddha-land are not all of the color of
genuine gold, then may I not attain enlightenment.

4. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn
nước tôi sắc thân chẳng đồng có kẻ xấu người đẹp thì tôi chẳng lấy ngôi chánh
giác. 

 

4.”Provided I become a
Buddha, if the beings who are born in my land are not all of identical
appearance, without any distinction of noble looks or ugliness, then may I
not attain enlightenment.

5. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn
nước tôi chẳng biết túc mạng, tối thiểu là biết sự việc trong trăm ngàn ức na
do tha kiếp thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

5.”Provided I become a
Buddha, if the beings born in my land are not possessed of the supernormal
ability to remember their previous lives, and the ability to know the events
of of a hundred thousand nayuta years of kalpas in the past, then may I not
attain enlightenment.

6. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn
nước tôi chẳng được thiên nhãn, tối thiểu là thấy trăm ngàn ức na do tha cõi
nước chư Phật thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

6.”Provided I become a Buddha, if the beings who
are born in my land do not possess of the divine-eye, which can see a
hundred thousand nayuta of Buddha-lands, then may I not attain
enlightenment.

 

7. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn
nước tôi chẳng được thiên nhĩ, tối thiểu là nghe lời thuyết pháp
của trăm ngàn ức na do tha chư Phật và chẳng thọ trì hết, thì tôi chẳng lấy
ngôi chánh giác. 

7.”Provided I become a Buddha, if the beings of my
land do not possess the divine-ear, which can hear the Teachings of a hundred
thousand kotis of nayuta of Buddhas, or do not faithfully observe those
Teachings, then may I not attain enlightenment

8. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn
nước tôi chẳng được tha tâm trí, tối thiểu là biết tâm niệm của chúng sanh
trong trăm ngàn ức na do tha cõi nước, thì tôi chẳng lấy ngôi chánh
giác. 

 

8.”Provided I become a Buddha, if the beings of my
land do not all possess the intuitive-mind, which knows the thoughts of all
beings of a hundred thousand kotis of nayuta of Buddha-lands, then may I not attain
enlightenment.

9. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn
nước tôi chẳng được thần túc, tối thiểu là khoảng một niệm qua đến trăm ngàn
ức na do tha nước Phật thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

 

9.”Provided I become a Buddha, if the beings of my
land do not all possess the heavenly -step, which can of one thought travel
over a hundred thousand kotis of nayuta of Buddha-countries in the shortest
fraction of a moment, then may I not attain enlightenment.

10. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn
nước tôi nếu sanh lòng tưởng nghĩ tham chấp thân thể thì tôi chẳng lấy ngôi
chánh giác. 

 

10.”Provided I become a Buddha, if there should arise
in the minds of any beings in my land the idea of selfishness and covetous
thoughts, even with regard to their own bodies, then may I not attain
enlightenment.

11. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn ở
nước tôi, chẳng an trụ định tụ quyết đến diệt độ thì tôi chẳng lấy ngôi chánh
giác. 

 

11.”Provided I become a Buddha, if the beings of my
land do not all firmly abide in a concentrated state of meditation and
equanimity (samadhi) until they have reached nirvana, then may I not attain
enlightenment.

12. Giả sử khi tôi thành Phật, quang minh có hạn
lượng, tối thiểu chẳng chiếu đến trăm ngàn ức na do tha cõi nước chư Phật thì
tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

12.”Provided I become a Buddha, if my light is
limited in such a way that it cannot illuminate a hundred thousand nayuta of
kotis of Buddha-lands, then may I not attain enlightenment.

13. Giả sử khi tôi thành Phật, thọ mạng có hạn
lượng, tối thiểu là trăm ngàn ức na do tha kiếp thì tôi chẳng lấy ngôi chánh
giác. 

 

13.”Provided I become a Buddha, if the length of my
life is limited, even to a hundred thousand nayuta of kotis of kalpas, then
may I not attain enlightenment.

 

14. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng Thanh Văn trong nước
tôi mà có người tính đếm được, nhẫn đến chúng sanh trong cõi Ðại Thiên đều
thành bực Duyên Giác cùng nhau chung tính đếm suốt trăm nghìn kiếp mà biết
được số lượng ấy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

 

14.”Provided I become a Buddha, if any being is able
to count the number of innumerable pupils in my land — even if it takes a
hundred thousand nayuta of kotis of kalpas for all the beings of three
million worlds and the whole triple universe, after becoming
Pratyeka-Buddhas, to count that number — then may I not attain
enlightenment.

 

15. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn
nước tôi thọ mạng không ai hạn lượng được, trừ họ có bổn nguyện dài ngắn tự
tại. Nếu chẳng như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

 

15.”Provided I become a Buddha, if the lives of the
beings in my land are not eternal, except by their own free will whenever
they choose to pass away from life, then may I not attain the enlightenment.

 

16. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn
nước tôi mà còn nghe danh từ bất thiện thì tôi chẳng lấy ngôi chánh
giác. 

 

16.”Provided I become a Buddha, there will be no evil
or sinful existence in my land; even its very name will be unknown.
Otherwise, may I not attain enlightenment.

 

17. Giả sử khi tôi thành Phật, mười phương vô
lượng chư Phật chẳng đều ngợi khen xưng tụng danh hiệu của tôi thì tôi chẳng
lấy ngôi chánh giác.

 

17.”Provided I become a Buddha, if the innumerable
Buddhas of the worlds of ten quarters do not glorify my name, then may I not
attain the enlightenment.

 

18. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng sanh ở mười
phương chí tâm tin ưa muốn sanh về nước tôi nhẫn đến mười niệm, nếu không được
sanh thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

 

18.”Provided I become a Buddha, if any sentient being
in the ten quarters who hears my name and is thus awakened to the highest
faith and aspires toward rebirth in my land, recollects that thought for as
few as ten times, that being will be reborn there, with the exception of
those who have committed the five grave offenses, or who have blasphemed the
Dharma. Otherwise, may I not attain enlightenment.

19. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng sanh ở mười
phương phát Bồ đề tâm, tu các công đức chí tâm phát nguyện muốn sanh về nước
tôi. Lúc họ mạng chung, tôi và đại chúng vây quanh hiện ra trước mặt họ. Nếu
không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

 

19.”Provided I become a Buddha, then at the moment of
death of any sentient being in the ten quarters who has directed his thoughts
towards the Bodhi and has cultivated his stock of various merits with a
fervent desire for rebirth in my land, if I do not appear with an assembly of
retinue before him, then may I not attain enlightenment.

20. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng sanh ở mười
phương nghe danh hiệu của tôi, chuyên nhớ nước tôi, trồng những cội công đức,
chí tâm hồi hướng muốn sanh về nước tôi mà chẳng được toại nguyện thì tôi
chẳng lấy ngôi chánh giác.

 

20.”Provided I become a Buddha, if any sentient being
of ten quarters hears my name and then constantly longs for my land and
cultivates various essential merits for the purpose of realizing his earnest
wish to be born in my country, and then fails to attain that wish, then may I
not attain enlightenment.

 

 21. Giả
sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn nước tôi chẳng đều đầy đủ ba mươi hai
tướng đại nhơn thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

 

21.”Provided I become a Buddha, if any sentient being
in the ten quarters is not endowed with a glorious body perfected with the
thirty-two attributes (laksanani) of a great being, then may I not attain
enlightenment.

22. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở
cõi nước khác sanh về nước tôi rốt ráo tất cả đến bực nhứt sanh bổ xứ. Trừ
người có bổn nguyện tự tại hóa độ, vì chúng sanh mà mặc giáp hoằng thệ chứa
công đức độ tất cả, đi qua các nước Phật tu hạnh Bồ Tát, cúng dường chư Phật
mười phương, khai hóa hằng sa vô lượng chúng sanh khiến họ đứng nơi đạo chánh
chơn vô thượng, vượt hơn công hạnh của hạng tầm thường, hiện tiền tu công đức
Phổ Hiền. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

 

22.”Provided I become a Buddha, the Bodhisattvas
whose activities have surpassed the stage of ordinary beings, who practice
the universal virtue of Universal Worthy Boddhisatva, and who come to be born
in my land will be subject to that one birth only, and then will become
Buddha-elect (ekajatipratibuddhas), with the exception of those who, by their
own free will, wish to remain in the stage of Bodhisattvahood to serve the
Buddhas of ten quarters for the sake of delivering various beings. Then they
will wear the armor of their vows and will travel to all worlds, performing
their Bodhisattva’s duties and accumulating their stock of merit, converting
the various beings whose numbers are as great as the grains of sand of the
River Ganges to the highest perfect knowledge. Otherwise may I not attain
enlightenment.

23. Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước
tôi thừa thần lực Phật đi cúng dường chư Phật, khoảng bữa ăn nếu không đến
khắp vô số vô lượng ức na do tha cõi nước thì tôi chẳng lấy ngôi chánh
giác. 

 

23.”Provided I become a Buddha, if those Bodhisattvas
in my land, through the Grace of the Buddha, are not able to serve all the
Buddhas throughout the countless nayuta of Buddha-worlds within a less than a
moment, then may I not attain the enlightenment.

24. Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước
tôi ở trước chư Phật hiện công đức mình, nếu những thứ dùng để cúng dường
không có đủ theo ý muốn thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

 

24.”Provided I become a Buddha, if any Bodhisattva in
my land wishes to use his stock of merit to produce any object to be used
before the Buddhas, and if such an object does not appear before him to his
satisfaction, then may I not attain enlightenment.

 25. Giả
sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước tôi chẳng thể diễn nói nhứt thiết
trí thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

 

25.”Provided I become a Buddha, if Bodhisattvas in my
land are not able to preach the law of wisdom to completion, then may I not
attain enlightenment.

26. Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước
tôi chẳng được thân Kim Cương Na la diên thì tôi chẳng lấy ngôi chánh
giác. 

 

26.”Provided I become a Buddha, if any Bodhisattva in
my land does not possess a golden body as strong as the diamond of Narayana,
then may I not attain enlightenment.

27. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn
và tất cả vạn vật trong nước tôi trang nghiêm thanh tịnh sáng rỡ hình sắc đặc
biệt lạ lùng vi tột diệu không ai lường biết được, dầu là có thiên nhãn mà
biện biệt được danh số ấy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

 

27.”Provided I become a Buddha, the heavenly beings
and the various properties produced in my land shall all be of supreme beauty
and shall abound in boundless quantity, and in an infinity of various forms.
If any being therein, even one who even possesses the divine-eye, is able to
perceive all the appellations and quantity of such beauties, then may I not
attain the enlightenment.

28. Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước
tôi, nhẫn đến người công đức ít nhứt mà chẳng thấy biết đạo tràng thọ màu
sáng vô lượng cao bốn trăm muôn dặm thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

 

28.”Provided I become a Buddha, if any Bodhisattva of
my land who possesses even the slightest stock of merit does not perceive the
boundless shining beauty of the Bodhi-trees of my sanctuary, their height
being at least four million miles, then may I not attain enlightenment.

29. Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát trong nước
tôi nếu đọc tụng thọ trì diễn thuyết kinh pháp mà chẳng được trí huệ biện tài
thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

 

29.”Provided I become a Buddha, if the Bodhisattvas
of my land do not all possess the wisdom of eloquent oration after having
read, recited, and observed the Dharma of the Sutras, then may I not attain
the enlightenment.

30. Giả sử khi tôi thành Phật, trí huệ biện tài
của Bồ tát trong nước tôi mà có hạn lượng thì tôi chẳng lấy ngôi chánh
giác. 

 

30.”Provided I become a Buddha, if the Bodhisattvas
of my land are limited in the wisdom of their oration, then may I not attain
enlightenment.

31. Giả sử khi tôi thành Phật, nước tôi thanh
tịnh soi thấy tất cả vô lượng vô số bất khả tư nghị thế giới chư Phật mười
phương, như gương sáng soi hiện hình gương mặt, nếu không như vậy thì tôi
chẳng lấy ngôi chánh giác. 

 

31.”When I have obtained the Buddhahood, if my land
is not so reflective and raidant that it reflects the miniatures of the
innumerable, inconceivable and boundless Buddha-worlds in all the ten
quarters as clearly as one’s face is seen in a bright mirror, then may I not
attain enlightenment.

32. Giả sử khi tôi thành Phật, từ mặt đất lên
đến hư không, những cung điện, lâu đài, ao nước, cây hoa, tất cả vạn vật
trong nước tôi đều dùng vô lượng châu báu, trăm ngàn thứ hương hiệp lại làm
thành xinh đẹp kỳ lạ hơn hàng thiên nhơn. Hương ấy xông khắp vô lượng thế
giới mười phương. Bồ Tát nghe mùi hương ấy đều tu hạnh Phật. Nếu không như
vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

 

32.”After I have obtained Buddhahood, there shall be
in my land magnificent palaces towering up from the ground to the void, also
lakes, winding streams, blossoming trees, and myriad other properties which
are compounded of various jewels and thousands of kinds of perfumes, minutely
embellished in the most wondrous state, surpassing all heavenly and human
worlds. And the scent of perfumes shall thoroughly pervade the worlds of ten
quarters in such a way that when Bodhisattvas smell them, their minds are
directed to Bodhi. Otherwise, may I not attain enlightenment.

33. Giả sử khi tôi thành Phật, những loài chúng
sanh của vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương, được quang minh tôi chiếu
đến thân, thân họ nhu nhuyến hơn hẳn hàng thiên nhơn. Nếu không như vậy thì
tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

 

33.”When I obtain the Buddhahood, if the body of any
sentient being in the boundless and inconceivable Buddha-worlds in any of the
ten quarters is touched by the rays of my splendor, and if that being’s body
and mind do not then become gentle and peaceful, in a state that is far more
sublime than those of the gods and men, then may I not attain enlightenment.

34. Giả sử khi tôi thành Phật, những loài chúng
sanh của vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương nghe danh hiệu tôi mà
chẳng được Bồ Tát vô sanh pháp nhẫn các thâm tổng trì thì tôi chẳng lấy ngôi
chánh giác. 

 

34.”When I obtain Buddhahood, if the beings of
boundless and inconceivable Buddha-worlds do not attain the “Endurance
of Nirvanic Life” (ajatah sarvadharmah) of Bodhisattva, and the deep
knowledge of “Adharanamudro” (or dharani) afterhearing my name,
then may I not attain enlightenment.

 

35. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng nữ nhơn của
vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương nghe danh hiệu tôi vui mừng tin ưa
phát tâm Bồ đề nhàm ghét thân người nữ, nếu sau khi chết mà họ còn sanh thân
người nữ lại thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

 

35.”When I obtain Buddhahood, women in boundless and inconceivable
Buddha-worlds across the ten quarters will hear my name and will thereby been
awakened in faith and joyful aspiration. Turning their minds towards Bodhi,
they will dislike their own female lives, and then, when they are born again,
in their next life they will be reborn in male bodies. Otherwise may I not
attain enlightenment.

 

36. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát
trong vô lượng bất tư nghì thế giới mười phương thế giới nghe danh hiệu tôi
sau khi thọ chung thường tu phạm hạnh đến thành Phật đạo. Nếu không như vậy
thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

 

36.When I obtain Buddhahood, the Bodhisattvas of boundless
and inconceivable Buddha-worlds across the ten quarters, having heard my
name, after their death [in their next life] will still continue their
Bodhisattva-duty until they have obtained Buddhahood. Otherwise, may I not
attain enlightenment.

37. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn
trong vô lượng bất tư nghị thế giới mười phương nghe danh hiệu tôi rồi năm
vóc gieo xuống đất cúi đầu vái lạy vui mừng tin ưa tu hạnh Bồ Tát thì được
chư Thiên và người đời đều kính trọng. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy
ngôi chánh giác. 

 

37.When I obtain Buddhahood, the heavenly beings of the
boundless and inconceivable Buddha-worlds across the ten quarters, having
heard my name, will worship me with prostrate reverence, and will joyfully
and faithfully perform their Bodhisattva-duty, and will be honored by gods
and men. Otherwise, may I not attain enlightenment.

38. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn
nước tôi muốn được y phục liền tùy nguyện hiện đến, y phục đẹp đúng pháp như
Phật khen ngợi tự nhiên mặc trên thân. Nếu còn phải may cắt nhuộm giặt thì
tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

 

38.When I obtain the Buddhahood, the heavenly beings of my
land, should they desire a garment, will be able to perceive themselves, as
quick as thought, covered by apparitionally produced costumes, excellent to
their satisfaction, worthy to be praised by the Buddha, without the work of
sewing, washing, dying, and so on. Otherwise, may I not attain enlightenment.

39. Giả sử khi tôi thành Phật, hàng thiên nhơn
nước tôi hưởng thọ khoái lạc chẳng như bực lậu tận Tỳ Kheo thì tôi chẳng lấy
ngôi chánh giác. 

 

39.”When I attain the Buddhahood, if the heavenly
beings of my land do not enjoy happiness as great as that of the holy
bhikkhus, then may I not attain enlightenment.

40. Giả sử khi tôi thành Phật, Bồ Tát nước tôi
tùy ý muốn thấy vô lượng nước Phật trang nghiêm thanh tịnh mười phương thì
liền được toại nguyện, đều được soi thấy ở trong những cây báu, như thấy mặt
mình hiện rõ trong gương sáng. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh
giác. 

 

40.”When I attain Buddhahood, if the Bodhisattvas of
my land wish to see the boundless, holy, pure Buddha-worlds of the ten
quarters, they will at once behold them from the jewel-trees as though their
faces were being reflected in a highly burnished, brilliant mirror.
Otherwise, may I not attain the enlightenment.

41. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở
quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi, từ đó đến lúc thành Phật nếu các căn
thân còn thiếu xấu chẳng được đầy đủ thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

 

41.”When I attain the Buddhahood, if the Bodhisattvas
of other worlds, after having heard my name, suffer from any diminution in
the functional powers and are not endowed with all sense-organs in completion
before reaching the Buddhahood, then may I not attain enlightenment.

42. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở
quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi thảy đều chứng được thanh tịnh giải
thoát tam muội, khoảng một lúc phát ý, cúng dường vô lượng bất khả tư nghị
chư Phật Thế Tôn, mà không mất tâm chánh định. Nếu không như vậy thì tôi
chẳng lấy ngôi chánh giác. 

 

42.”When I obtain the Buddhahood, if the Bodhisattvas
in other Buddha-lands whohear my name do not all attain, in one moment of
thought, the pure samadhi of emancipation from which they could serve
innumerable and inconceivable number of Buddhas [Tathagatas], or if their of
their samadhi should come to an end meanwhile, then may I not attain
enlightenment.

43. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở
quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi, sau lúc thọ chung sanh nhà tôn quý.
Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

 

43.”After I have obtained the Buddhahood, if any
Bodhisattva of another land hears my name, that Bodhisattva will, after
death, be reborn as a member of a noble family if he or she so desires.
Otherwise, may I not attain enlightenment.

44. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở
quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi vui mừng hớn hở tu hạnh Bồ Tát đầy đủ
cội công đức. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

 

44.”When I obtain the Buddhahood, the Bodhisattvas of
other lands, having heard my name, will all obtain a combination of full
virtues and will joyfully perform their Bodhisattva-duty. Otherwise, may I
not attain enlightenment.

45. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở
quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi thảy đều chứng được phổ đẳng tam muội,
an trụ trong tam muội nầy đến lúc thành Phật thường thấy vô lượng bất khả tư
nghị tất cả chư Phật. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh
giác. 

 

45.”When I have obtain Buddhahood, all Bodhisattvas
of other lands who hear my name will obtain the samantanugata (the thoroughly
and equal samadhi in a fixed state of meditation). Through that samadhi, they
will see innumerable and inconceivable Buddhas constantly until they have
obtained the Buddhahood. Otherwise may I forbear from obtaining
enlightenment.

 

46. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở
trong nước tôi tùy chí nguyện của mỗi người muốn được nghe pháp liền tự nhiên
được nghe. Nếu không như vậy thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác. 

 

46.”When I obtain Buddhahood, the Bodhisattvas of my
land shall be able to hear the Teaching of the Dharma whenever they desire.
(The voices of teaching will present themselves naturally to their ears).
Otherwise may I refrain from attaining enlightenment.

47. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở
quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi mà chẳng liền được đến bực bất thối
chuyển thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

 

47.”When I obtain Buddhahood, if Bodhisattvas of
other lands, after having heard my name, do not immediately reach the state
of never turning back from Bodhi, then I will refrain from attaining
enlightenment.

48. Giả sử khi tôi thành Phật, chúng Bồ Tát ở
quốc độ phương khác nghe danh hiệu tôi mà chẳng liền được đệ nhứt nhẫn, đệ
nhị nhẫn và đệ tam pháp nhẫn, nơi các Phật pháp chẳng liền được bực bất thối
chuyển thì tôi chẳng lấy ngôi chánh giác.

 

48.”When
I have obtained Buddhahood, if Bodhisattvas of other lands who hear my name,
do not reach the first, second, and third degrees of Dharma-endurance
immediately, or if they turn back from the Buddha Dharma, then I will refrain
from attaining enlightenment.

 

Thành kính dâng lên Đức Thế Tôn Vô Lượng
Quang nhân ngày Đản Sanh

17-11- Quý Tỵ / 19-12-2013

Tuệ Uyển

Xem thêm: https://www.phaphay.com/phat-phap/

Nguồn: https://www.niemphat.vn/

Add Comment