Bài Pháp đầu tiên

Bài Pháp đầu tiên 1

Khi bắt đầu vào bài đó, tôi nói những lý do để cho quý vị thấy
điều cần yếu của sự tu, bởi vì tất cả chúng ta là con người, thì con
người nào cũng mang nặng những tánh yêu thương, quý trọng, gìn giữ, lo
âu, sợ hãi, khổ đau v.v… là tại sao? Ðều là vì cái bản thân này mà ra.
Thì như vậy chủ yếu của sự tu hành là chúng ta phải biết được cái bản
thân của người chúng ta như thế nào?

Lâu nay mỗi người chúng ta cứ quen nhìn ra ngoài, cứ thấy hay, dở,
tốt, xấu. Nói chung lại là chúng ta cứ chạy theo ngũ dục, chạy theo sáu
trần mà quên ngay rằng con người mình là thế nào? Bởi không biết mình
như thế nào, cho nên cả đời cứ quay cuồng trong sự tạo nghiệp, thọ khổ
mà tự mình không biết. Vì vậy cho nên Ðức Phật đầu tiên khi nói pháp cho
năm anh em ông Kiều Trần Như thì ngài đi thẳng vào vấn đề. Vấn đề đó là
gì? Ngài không nói điều gì khác, mà chỉ thẳng nơi con người. Phải biết
con người mình như thế nào? Con người mình đau khổ hay là an vui? Nếu
mình thương nó, mình trọng nó, mình gìn giữ nó thì hỏi nó là thật an vui
mà mình quý trọng, mình thương yêu, mình gìn giữ, hay là nó là đau khổ
mà mình quý trọng, mình thương yêu. Nếu không hiểu nó, mà mình đi hiểu
tất cả sự vật bên ngoài thì đó là ngọn nhánh chớ không phải cội gốc.

Nếu chúng ta đem hết tâm tư, đem hết khả năng của mình tìm kiếm,
hiểu những gì ngoài chúng ta, thì đó chưa phải là căn bản. Cũng như cái
nhà, chúng ta muốn hiểu cái nhà đó, trước tiên phải hiểu ông chủ nhà.
Ông chủ nhà biết rồi thì cái nhà chúng ta phanh phui tìm hiểu không khó.
Thì như vậy, con người mới là chủ, còn tất cả sự vật chung quanh chỉ là
bạn mà thôi. Theo danh từ chuyên môn trong nhà Phật gọi là Chánh Báo và
Y Báo. Chánh Báo là con người, mà Y Báo là hoàn cảnh hay là ngoại cảnh.
Chánh Báo tốt thì Y Báo theo đó mà tốt. Chánh Báo xấu thì Y Báo theo đó
mà xấu. Vì vậy cho nên Chánh Báo là chủ mà Y Báo là phụ. Thế mà chúng
ta quen tìm hiểu Y Báo, mà không thấy rõ được Chánh Báo. Ðó là một
khuyết điểm lớn lao.

Vì vậy cho nên khi Phật muốn dạy tu, đầu tiên Ðức Phật bắt chúng
ta phải xác định thân này là khổ hay vui? Thấy rõ điều đó, thì mọi vấn
đề chúng ta mới thấy đúng. Bởi vì mọi phán đoán đều qua chúng ta, rồi
mới nhìn sự vật. Nếu mình không biết mình, mà nói biết sự vật đúng lẽ
thật thì chắc không bao giờ có. Cho nên phải biết mình đúng như sự thật
rồi mới biết ngoại cảnh, biết nơi người đúng như sự thật. Còn nơi mình
mà mình biết một cách sai lầm, thì với người, mình cũng biết một cách
sai lầm! Rồi với ngoại cảnh mình cũng biết một cách sai lầm! Chủ yếu của
đạo Phật là phải biết mình. Cho nên cái bài thuyết giảng đầu tiên của
Ðức Phật mang đề tài – Pháp Tứ Ðế, mà trong Pháp Tứ Ðế đó có cái đế số
một Phật nói về Khổ Ðế. Nghe nói Khổ Ðế thì quý vị tưởng nói cái khổ đó
là cái gì xa lạ bên ngoài, nhưng sự thật Khổ Ðế là chỉ xác nhận nơi con
người. Nơi con người này là khổ hay vui? Phải xác nhận lại con người
mình là khổ hay vui. Nếu mình biết nó là khổ thì mình phải cố gắng mà tu
để cho nó hết khổ. Còn mình biết nó là vui, thì tu làm chi cho thừa.
Như vậy thì khi nhìn thẳng thân này, chúng ta biết nó là khổ hay là vui?
Biết đúng như thật rồi thì sau đó mới nói tới chuyện tu hành. Còn nếu
chưa biết nó đúng như thật thì đừng nói tu làm gì. Tại sao vậy? Bởi vì
thân này là cái gốc, là cội nguồn mà nếu mình không biết nó thì nói gì
khác cũng là chuyện bên ngoài thôi. Cho nên Phật bắt chúng ta phải xác
nhận thân này là khổ hay là vui. Ðó là cái gốc của bài thuyết pháp đầu
tiên.

Nhưng mà nói tới cái gốc đó, thì mọi người chúng ta nghe Phật nói
thân này là khổ. Mà mình xác nhận có khổ thật không? Ðây là điều tôi
phải nhắc lại lần nữa cho quý vị thấy. Ai nấy nghe Ðức Phật nói thân này
là khổ, thì họ đều cho rằng quan niệm đạo Phật là bi quan. Nghĩa là
nhìn tới thân là thấy khổ. Khổ rồi đâm ra chán đời. Nhưng mà sự thật
không phải vậy. Ðây là lẽ Ðức Phật bắt chúng ta phải nhìn thấy cho đúng.
Cho nên chữ “Khổ” không chưa đủ mà phải thêm chữ “Khổ Ðế”, cái khổ đó
là đúng như thật. Chớ không phải chuyện tưởng tượng, không phải chuyện
phi lý. Ðức Phật nêu lên hoặc là Tứ Khổ hoặc là Bát Khổ.

Tứ khổ là sinh, già, bệnh, chết. Nói sinh thì ta cứ nghĩ sinh là
khi mình mới lọt lòng mẹ rồi thì khóc oa oa. Ðó là khổ. Nhưng theo tôi
thì mình phải nói sinh ra là trong một cuộc sống. Sinh hoạt hiện tại của
mình, là khổ hay vui? Chứ lúc mới lọt lòng mẹ có khóc đi nữa, cũng
không có cảm giác đau khổ như thế nào. Bây giờ ngay trong cuộc sống hàng
ngày mà mình đang sống, quý vị thấy khổ hay vui? Nếu chúng ta xét kỹ từ
thuở bé cho đến hiện giờ, người già thì sáu bẩy mươi, trẻ hơn thì bốn
năm mươi, người trẻ nữa thì hai ba mươi, trong thời gian quý vị sống đó,
những điều mình muốn được như ý nhiều hay là bất như ý nhiều? Muốn mười
điều, nếu đạt được cao lắm là ba điều, bốn điều. Còn có khi mười điều
mà chưa được một điều nữa. Mà cái gì như ý gọi là vui, còn bất như ý thì
khổ. Như vậy tóm lại trong mười điều muốn được có hai ba điều vừa ý,
còn đến bảy tám điều không vừa ý, thì như vậy cái nào nhiều? Khổ nhiều
hay vui nhiều? Dĩ nhiên chúng ta thấy đó là khổ nhiều, chứ không phải
vui nhiều. Vì trong cuộc sống xẩy ra những điều bất như ý tức là đau
khổ. Như vậy sinh là khổ hay là vui? Trong cuộc sống có bất như ý tức là
phải khổ. Ðó là lẽ thật không chối cãi được.

Rồi già có khổ không? Thì điều đó không ai chối cãi được. Khi trẻ
thì đi chơi tự do, tự tại, muốn làm gì thì làm được. Còn khi già thì bị
hạn chế đủ hết. Ði thì không được vững vàng, nói năng thì có khi lập cà
lập cập, ăn thì răng rụng hoặc lung lay. Rồi cho tới mọi việc không được
sung sướng như lúc xuân thời. Do đó già là khổ. Rồi tới cái thứ ba,
bệnh có khổ không? Bệnh thì không ai thấy vui được hết. Bệnh là khổ. Ðến
cái thứ tư, chết có vui không? Chết cũng là khổ luôn. Thì như vậy, sinh
, già, bệnh, chết là bốn cái không ai chối được “không phải đau khổ”,
mà đều thảy là đau khổ.

Như vậy đau khổ đó từ đâu mà ra? Bởi vì sinh, già, bệnh, chết đổi
thay luôn luôn, không ở nguyên một vị trí cho nên mình bị chuyển biến.
Chuyển biến cho nên mình buồn khổ, rồi mình nhọc nhằn đau khổ. Cái đau
khổ đó là căn cứ trên cái thân vô thường. Bởi thân vô thường cho nên có
sinh, có già, có bệnh, có chết. Thì trong bốn cái khổ đó, quý vị kiếm
lại coi trên nhân gian này có người nào thoát khỏi bốn cái khổ đó không?
Chắc không ai có. Người nào cũng phải chịu chung như vậy.

Vì vậy cho nên Phật nói “Khổ Ðế”, – Khổ Ðế là lẽ thật. Còn nếu đi
xa chút nữa, thì Phật nói tám cái khổ: Ái biệt ly, Cầu bất đắc, Oán tắng
hội, Ngũ ấm xí thạnh. Ái biệt ly tức là yêu thương mà xa lìa, vui hay
khổ? Người thân mình xa lìa thì mình đau khổ. Rồi những người mình không
ưa mà cứ giáp mặt hoài thì sao? Thì cũng không vui, cũng là khổ. Rồi
cái mình thích, mong cầu mà không được như ý, đó cũng là khổ. Thì như
vậy ba cái khổ đó là ba cái khổ về liên hệ bên ngoài. Còn bốn cái khổ
trước là ngay nơi bản thân mình bị sinh, già, bệnh, chết. Nó đổi thay
nên đau khổ. Rồi sự liên hệ mình và người, và những sự vật chung quanh.
Những cái mình thích mà không được, đó là Cầu bất đắc. Rồi cái mình yêu
thương mà bị xa lìa, đó là Ái biệt ly. Những cái mình không ưa mà cứ
phải gặp, đó là Oán tắng hội. Rồi tới cái thứ tám là Ngũ ấm xí thạnh,
tức là mang cái thân ngũ ấm này, nó là cái gốc của sự đau khổ, đó là cái
chung.

Nói tám khổ nhưng chỉ có bảy. Bốn khổ thuộc về thân tứ đại, còn ba
khổ thuộc về đối với hoàn cảnh, đối với mọi người chung quanh. Khổ thứ
tám chung cả thể xác lẫn tình thần tức là ngũ ấm, là phần vật chất và
tinh thần của con người chung hợp lại là một vòng biến chuyển. Cho nên
nói nó là đau khổ thì như vậy, nói chung lại mang cái thân vô thường là
mang cái đau khổ. Nếu biết nó là vô thường, biết nó là đau khổ, thì mình
có say mê để vun bồi, mà tô điểm, mà tạo những cái gì cho thật hơn
người để nó hưởng hay không? Cũng như bây giờ quý vị biết rõ một món đồ
giả, xài hai ba năm là bể , là hư, thì quý vị có nghĩ rằng để món đồ đó
mình rán tìm cách giữ được trăm năm, có nghĩ như vậy không? Hay là biết
nó đúng hai năm, ba năm là phải hư, thì bây giờ trong khi mình cần thì
nên tận dụng nó cho hữu ích. Chứ còn giữ nó, nó cũng hư!

Như vậy mình biết rõ thân này là tạm bợ, là vô thường, là đau khổ,
thì nếu mình không sử dụng nó bằng cách lợi mình, lợi người thì rất
uổng một cuộc đời. Vì vậy cho nên, thấy được thân đau khổ, tạm bợ rồi,
chúng ta mới nẩy ra những tâm hồn vì người, lợi người, hay là làm lợi
ích cho chúng sinh. Còn nếu thấy mình là lâu dài, là tốt đẹp, là quý báu
thì sẽ sinh ra kiêu hãnh, ngã mạn. Thấy mình lâu dài, lo tích lũy dành
dụm. Thấy mình hơn người thì tức là mình khinh kẻ khác. Do đó vừa thấy
nó là hơn , là lâu dài, là quý báu thì bao nhiêu cái tật xấu nó theo đó.
Chúng ta là Phật Tử đều thấy thân này vô thường, đau khổ.

Ðành rằng lý là như vậy, nhưng mà nhận để mà sống thì không dám
nhận. Ðó là những điều mà người ta không có gan, biết lẽ thật là như vậy
mà không dám nhìn đúng lẽ thật đó, rồi cứ tưởng tượng mình còn sống
dai. Vì vậy cho nên sự tu của mình vẫn còn yếu, việc làm lợi ích cho
chúng sinh cũng vẫn nhè nhẹ chứ không dám nhiều. Ðó là khuyết điểm của
người Phật Tử chúng ta, cho nên đầu tiên Ðức Phật bảo mình phải nhận cho
xác thật thân này là đau khổ. Ðã là đau khổ thì mình phải làm sao cho
mình hết khổ, cho người hết khổ. Chứ không phải nói đau khổ rồi bó tay,
bó gối rồi than khóc.

Thấy khổ rồi, phải làm sao cho mình hết khổ, cho người hết khổ. Ðó
là mục tiêu của Phật dạy. Vì vậy cho nên tới Ðế thứ hai là Tập Ðế. Vì
mình biết thân này là đau khổ, mà muốn hết thì phải làm sao? Thử hỏi tại
sao mình mang cái thân đau khổ này? Tức là phải tìm nguyên nhân của nó.
Ðức Phật chỉ cho mình thấy nguyên nhân của nó. Nói đơn giản là do tham,
sân, si, tức là ba cái thứ độc. Còn nếu nói nhiều hơn nữa, thì nói rằng
sáu thứ căn bản phiền não tham, sân, si, mạng, nghi, ác kiến. Ðó là
nhân tích tụ để rồi thành quả của cái thân đau khổ này. Từ thấy quả đau
khổ, mình phăng lần tìm coi do nguyên nhân nào mà mang cái thân đau khổ
này. Mình truy tìm thấu đáo thì mới biết do tham, sân, si, mạng, nghi,
ác kiến.

Nói về tham, sân, si, sở dĩ chúng ta khổ trong cuộc sống là vì có
những điều bất như ý. Trong cuộc sống có những sự bất như ý, mà điều gì
làm mình bấy như ý? Tại mình muốn điều đó mà không được. Mà muốn là
thuộc về tham. Bởi có tham mới có bất như ý! Bởi vì tham của mình là
tham vừa khả năng mình, hay là tham quá khả năng mình? Khả năng mình có
năm mà mình tham tới cả ngàn. Tham quá sức như vậy, cho nên bất như ý
quá nhiều. Thì như vậy mới biết rõ tham là gốc của đau khổ. Quý vị thấy
có người nào, tham một cái này được rồi không tham nữa không? Hễ muốn
cái này rồi thì muốn cái thứ hai. Thứ hai được rồi muốn thứ ba. Lúc nào
tham cũng kéo tới. Nó chạy dài dài không có nơi đứng, không có chỗ thắng
(hãm). Bởi không thắng được cho nên con người không bao giờ được như ý!
Nghĩa là ở địa vị nào cũng bất như ý hết. Bởi vì lòng tham vô chừng, mà
khả năng mình hữu hạn. Khả năng hữu hạn mà mang lòng tham vô chừng vô
hạn thì làm sao mà không đau khổ. Vì vậy cho nên có lòng tham là có đau
khổ. Rồi tôi hỏi quý vị, khi quý vị già, cảm thấy già quý vị khổ. Tại
sao già lại là khổ? Tại mình muốn trẻ không muốn già. Mình muốn trẻ tức
là mình tham trẻ, mà già nó đến thì tức nhiên là bất như ý rồi! Chớ mình
đừng có tham trẻ, thì khi già nó tới, cứ cười với cái già thì có khổ gì
đâu? Rồi hỏi tại sao chết là khổ? Tại mình muốn sống. Mình muốn sống mà
cái chết nó đến thì mình thấy khổ.

Thì như vậy sinh khổ, già khổ, bịnh khổ, tử khổ gốc tại cái gì mà
ra? Từ lòng tham, thì như vậy cái khổ đó từ lòng tham. Nếu hết lòng tham
thì bốn khổ đó đâu còn. Do tham mà có khổ. Do sân thì có khổ. Do si có
khổ cũng dễ hiểu, bởi vì si là không thấy đúng sự thật. Bởi vì không
thấy đúng như thật cho nên mới tham bậy, tham bướng. Thấy đúng lẽ thật
rồi thì khả năng mình bao nhiêu, thì thấy rõ bấy nhiêu. Thấy không sai
lầm thì mình đâu có tham bậy, thì đâu có khổ. Tham rồi bất như ý mới
khổ. Vì vậy cho nên tham, sân, si là gốc của đau khổ, là nguyên nhân của
đau khổ. Rõ ràng như vậy. Biết rõ cái đau khổ không phải bỗng dưng có,
mà gốc từ tham, sân, si hay là chung cả sáu căn bản phiền não. Như vậy
thì muốn hết đau khổ phải làm sao? Phải tìm nguyên nhân bịnh, mà tìm
được nguyên nhân bịnh rồi thì chừng đó trị nhân hay quả? Nếu nhân trị
hết thì quả tự nhiên đâu còn. Diệt Ðế tức là diệt cho hết nguyên nhân đã
tạo thành quả đau khổ đó. Nguyên nhân đó diệt sạch rồi thì hết quả đau
khổ. Mà hết quả đau khổ đó gọi là gì? Hết khổ gọi là vui.

Như vậy chủ yếu của đạo Phật là dạy cho chúng ta từ thấy được quả
đau khổ rồi, phăng tới nguyên nhân. Biết được nguyên nhân rồi tiêu diệt
nguyên nhân đó, thì quả đau khổ hết. Cũng như mình biết bịnh đó là do vi
trùng vì nó quấy phá hoành hành, bây giờ biết rồi dùng thuốc trị vi
trùng đó, vi trùng đó chết hết rồi thì bịnh đó được sạch hết, được lành.
Trị hết nguyên nhân rồi thì quả đau khổ đâu còn. Chữ “Diệt” này là diệt
sạch nguyên nhân đau khổ. Thì cũng giống hệt như ông thầy thuốc trị hết
vi trùng, vì trùng mà làm cho bịnh phát ra đó, diệt hết thì bịnh tự
nhiên lành. Ðó là tình thần Diệt Ðế.

Nhưng mà bây giờ biết được nguyên nhân thì phải có phương pháp để
tiêu diệt nó. Cũng như mình biết được vi trùng rồi, bây giờ dùng thuốc
gì đây? Thuốc gì có công hiệu nhất đối với đám vi trùng này, thì đó là
phương pháp. Vì vậy cho nên tới điều thứ tư là Ðạo Ðế. Ðạo Ðế tức là
phương thuốc diệt hết nguyên nhân đau khổ. Ðạo Ðế thì nhiều lắm, nói
theo trong các kinh A Hàm có ba mươi bẩy phẩm trợ đạo. Nhưng mà phần
nhiều về gốc thì nói Bát Chánh Ðạo. Ðó là tôi nói cho quý vị căn bản của
Tứ Diệu Ðế, chứ tôi không giải thích hết những chi tiết về Tứ Ðế. Như
vậy, chúng ta thấy rõ Ðức Phật nói Khổ Ðế là chỉ lẽ thật ngay nơi bản
thân chúng ta, để mình nhận thức thấu đáo lẽ thật đó. Rồi mình phăng lần
tới nguyên nhân. Vì nguyên nhân nào có hiện tượng đau khổ này? Biết
được nguyên nhân đó rồi, mình tìm cách tiêu diệt nguyên nhân đó cho
sạch, nếu sạch rồi thì quả khổ không còn. Bây giờ muốn tiêu diệt nó,
phải có phương pháp. Phương pháp đó là Ðạo Ðế. Như vậy bốn đế để nhắm
thẳng vào con người của chúng ta, từ quả đến, rồi từ khổ đưa đến diệt
hết khổ. Chứ không có nghĩa khổ rồi cam chịu khổ, như người đời mang
thân khổ mà không biết đau khổ. Bởi vì không biết khổ nên họ nói cần gì
tiêu diệt khổ. Cho nên khi mang thân khổ, họ tưởng là vui, rồi tự hào
hãnh diện, rồi đủ thứ bịnh theo đó. Họ mang thân khổ mà lại không hay,
không biết. Chúng ta nghĩ là đáng giận hay đáng thương? Thí dụ như bây
giờ có một người bịnh nặng, không sống bao lâu nữa, kéo dài lắm sáu
tháng hay một năm. Nhưng người bịnh trầm trọng như vậy, mà họ cứ giận
người này, cứ khinh người kia, họ hung dữ với kẻ nọ, tất cả cái tham lam
tật xấu đó họ hiện đủ hết. Thì mình thấy như vậy là đáng thương hay
đáng giận? Mình biết họ mang cái thân khổ đau, mỏng manh mà không tự
biết. Họ lại dùng nó không đúng, cho nên đáng thương chứ không đáng
ghét.

Cho nên chúng ta tu Phật mở màn bằng chữ “Khổ”, nhưng kết thúc
bằng chữ “Lạc”. Biết khổ rồi, tiêu diệt nguyên nhân khổ, để được vui chứ
đâu phải biết khổ để chịu khổ. Như vậy biết khổ rồi tiêu diệt nguyên
nhân khổ để được vui, đó là pháp Phật. Còn thế gian thì mở màn bằng vui
nhưng mà kết thúc bằng khổ. Thí dụ một người chưa biết uống rượu, mà gặp
bạn bè kêu lại nài nỉ uống rượu thì lúc đó vui lắm, hỉ hả lắm. Nhưng mà
uống rồi say, ngã bờ ngã bụi lúc đó lại khổ. Mở màn là vui, kết quả là
khổ. Ðó là cái lầm lẫn của con người. Cho nên đối với đạo Phật, ngài chỉ
thẳng đau khổ là điều căn bản. Cho nên nói khổ để rồi tìm cách tiêu
diệt nó, để cho được an vui.

Bây giờ tôi xin hỏi quý vị cái vui trong đạo Phật là vui làm sao?
Thí dụ quý vị bị đói bụng, đói bụng làm cho mình khổ. Lúc đói bụng làm
xót xa trong bao tử làm cho mình khổ. Nếu được vài chén cơm ăn no thì
lại vui. Như vậy cái khổ của sự đói bụng lúc trước không còn, tức là hết
khổ. Mà hết khổ người ta nói là được vui. Vui đó không phải vui như đi
coi hát. Không phải vui như tiệc trà, tiệc rượu. Mà là vui an ổn, an
nhiên, tự tại trong bản thân mình. Lúc nẫy đói quá đi không nổi, ngồi
đứng không an, sau khi ăn được đôi ba chén cơm thì khỏe mạnh lại. Muốn
đi thì được, muốn làm gì thì làm được. Ðó gọi là vui.

Cũng như vậy, chúng ta còn mang tấm thân này mà trong đó chứa chấp
tham, sân, si thì chúng ta còn đau khổ. Nếu tiêu diệt hết tham, sân, si
thì còn thân này mà lúc đó còn đau khổ không? Hồi nẫy tôi nói cái thân
này là đau khổ. Nhưng bây giờ đây ta biết nguyên nhân đau khổ chính là
tham, sân, si. Khi dẹp hết tham, sân, si thì còn thân này, mà lúc đó có
đau khổ không? Ðiều này phải xác nhận cho thật rõ. Nếu không thì nghe
nói “Thân này là khổ thì còn thân này là còn khổ.” Như vậy những vị
chứng được quả A La Hán; tham, sân, si không còn, thì lúc đó các ngài
cũng hãy còn thân, mà có khổ như mình không? Khi các ngài già các ngài
có rên rỉ không? Khi các ngài chết, có buồn thảm không? Như vậy để thấy
rằng tuy còn thân mà hết cái nhân tham, sân, si rồi thì cũng hết đau
khổ. Vậy cho nên các vị A La Hán khi gần tịch, các vị vui vẻ tịch, không
có sợ sệt như mình.

Như vậy để thấy rõ ràng khi nhân đau khổ không còn, dù còn thân
này mà quả đau khổ đã giảm, cũng đã bớt đi rồi. Hiểu như vậy quý vị mới
thấy hiệu nghiệm của sự tu. Chứ để nhiều người không hiểu nói: “Như vậy
Diệt Ðế là diệt sạch nhân đau khổ, rồi chết mình mới được Niết Bàn,
chừng đó mới hết khổ”. Thì lúc đó người ta nói chết rồi ai biết mình
được Niết bàn? Ai biết mình hết đau khổ? Ðó là chuyện hứa hẹn xa xôi
quá, thiếu thực tế! Ngay trong cuộc sống này, như các vị chứng được A La
Hán hay như Ðức Phật, sau khi thành Phật rồi ngài mới được ba mươi mấy
tuổi. Trong khoảng ba mươi mốt tuổi đó cho tới tám mươi tuổi thời gian
bốn mươi chín năm đó ngài cũng già, cũng bịnh, cũng chết, mà ngài có khổ
như mình không?

Như vậy mới thấy rằng diệt hết nguyên nhân đau khổ rồi tuy còn
thân này mà vẫn không có khổ. Ðó là bằng chứng cụ thể của sự tu. Ngay
trong thân này khi mình đạt đến chỗ đó rồi cũng hết đau khổ như thường.
Vì vậy cho nên các vị A La Hán, hay các vị Bồ Tát, các ngài cũng mang
thân mà các ngài không khổ là chỗ đó. Vậy để quý vị thấy rõ rằng chúng
ta tu là cốt diệt khổ, mà diệt khổ là để hết khổ, mà hết khổ là chúng ta
an vui.

Rồi chúng ta muốn đem an vui cho mọi người. Ðó là tự lợi, lợi tha.
Mà đó cũng là lòng từ bi. Mình biết làm như vậy hết khổ mà người khác
đang còn chịu đau khổ, mình phải thương họ. Thì lòng thương đó là lòng
từ bi. Lúc nào mình có giác ngộ thì liền có từ bi. Còn nếu không giác
ngộ thì lòng từ bi gượng gượng thôi. Không có từ bi thật. Tại sao vậy?
Bởi mình không giác ngộ, còn mê lầm, thì còn đau khổ. Mà nếu có thương
người ta, thì gượng mà thương thôi bởi vì mình có hết khổ đâu mà lo cho
người ta hết khổ được. Thí dụ, nếu mà mình có của nhiều, tự mình không
có đói, không có thiếu, gặp người khác đói mình muốn giúp để cho họ bớt
thiếu thì dễ. Còn mình đang đói thiếu như họ mà nói tới thương anh quá,
thương chị quá thì nói bằng miệng chứ thực tế mình không làm gì được cho
họ. Cho nên có giác ngộ rồi mới có từ bi, thì cái từ bi đó là từ bi
chân thật, do mình hưởng được sự an vui của mình rồi mình mới đem sự an
vui đó lại cho mọi người.

Vì vậy cho nên người tu như chúng ta hiện tại chưa có làm lợi ích
cho nhiều người. Nhưng mà ráng nỗ lực đi tu; nỗ lực dẹp hết tham, sân,
si của mình. Khi nó sạch, nó an ổn rồi, khi đó mình muốn giúp lợi ích
cho người thì rất là thuận lợi. Chứ còn mình chưa hết mà muốn cho người
ta được lợi ích thì nhiều khi hơi trục trặc. Thí dụ như bình thường thì
mình cũng tỉnh táo, cũng sáng suốt. Khi mình tỉnh táo sáng suốt thấy
huynh đệ nào họ có những cái phiền não rối ren thì mình có thể khuyên
bảo, giảng dạy nghe được lắm. Nhưng mà tới lúc mình gặp gia cảnh bối
rối, mình cũng làm những việc không được sáng sủa, nói lời không được
sáng suốt, làm cho người ta mất lòng tin. Vì vậy cho nên cái lợi tha
không được trọn. Còn nếu mình được tỉnh mãi mãi, thì không bao giờ mình
mất lòng tin. Cho nên hễ khi nào mình tỉnh giác trọn vẹn, thì cái lợi
tha mới được trọn vẹn.

Như vậy căn cứ ở trên thân này, chúng ta thấy rõ là phải biết nó,
bản chất nó là vô thường, là đau khổ để rồi chúng ta cố gắng tạo điều
kiện cho sự đau khổ được tiêu diệt. Mà sạch hết đau khổ rồi thì chúng ta
được an vui. Ðó là tinh thần của pháp Tứ Ðế mà trong các bộ kinh A Hàm
chúng ta đã học. Bây giờ nói xa hơn chút nữa, từ nơi thân vô thường đau
khổ này, qua cái nhìn của các vị Bồ Tát. Thân này Bồ Tát thấy nó vô
thường không? Có đau khổ hay không? Nó cũng vô thường, cũng đau khổ
nhưng mà các ngày thấy khác nhau một chút. Bởi ngay cái thân vô thường
đau khổ này, các ngài bươi ra được một cái không vô thường, không đau
khổ. Hồi nẫy là nói theo Tứ Ðế. Cái nhìn của Tứ Ðế chỉ nhìn nơi thân,
nơi tướng cho nên thấy thân này là vô thường đau khổ do từ tham, sân, si
mà ra. Dẹp được hết tham, sân, si thì đau khổ theo đó mà hết.

Nhưng mà ở đây, qua Ðại Thừa hay qua cái nhìn của các thiền sư,
thì chúng ta thấy một bước khác. Ngay trong cái thân vô thường đau khổ
các ngài cũng thấy rõ như vậy, biết nó là vô thường đau khổ. Ðó là cái
gì? Như quý vị học kinh Lăng Nghiêm nhờ Ðức Phật nói chuyện với vua Ba
Tư Nặc. Vua Ba Tư Nặc nói thân của ông lúc mười tuổi thì trẻ hơn lúc hai
mươi tuổi, và lúc hai mươi tuổi thì trẻ hơn lúc ba mươi tuổi, cho tới
ngày nay, năm nay, già hơn năm rồi, tháng này già hơn tháng trước v.v…
Mỗi ngày đổi thay từng phút từng giây. Ðức Phật mới bảo rằng trong cái
sinh diệt vô thường hay trong cái già chết đổi thay đó có một cái chưa
từng già chết. Ðức Phật mới chỉ cho ông cái không già không chết, ở ngay
trong cái thân già chết.

Cái không già không chết là cái gì? Cái không già không chết đó
Ðức Phật chỉ từ cái thấy, từ cái nghe. Trong kinh Lăng Nghiêm có đoạn
Phật đưa tay lên xòe nắm, xòe nắm. Phật hỏi A Nan có thấy không? Ngài A
Nan trả lời thấy. Phật hỏi thấy cái gì? Ngài A Nan nói thấy tay Phật xòe
nắm. Phật hỏi: “Tay ta xòe nắm mà cái thấy của ông có xòe nắm không?”
Ngài A Nan trả lời: “Tay Phật xòe nắm, chớ cái thấy của con không xòe
nắm”. Xòe nắm tức là động, động thì vô thường. Như vậy chúng ta thấy
ngay trong cái thân vô thường này có cái không phải vô thường, không
phải sinh diệt. Vì vậy mà ngài Vĩnh Gia Huyền Giác mở đầu Chứng Ðạo ca
bằng những câu:


Pháp thân giác liễu vô nhứt vật,


Bản nguyên tự tánh thiên chân Phật,


Ngũ uẩn phù vân không khứ lai.

Ngộ được có thân, pháp thân, rồi pháp thân đó không có một vật, mà
pháp thân đó cũng gọi là bản nguyên, cũng gọi là tự tánh, cũng gọi là
Phật thiện chân. Nó sẵn trong đó. Khi mà mình giác ngộ được có pháp thân
rồi, thì nhìn lại cái thân ngũ uẩn này như: “Ngũ uẩn phù vân không khứ
lai.” Nghĩa là thân ngũ uẩn này, chẳng khác nào mây nổi bay qua lại
trong bầu trời. Mây bay trong bầu trời quan trọng tới mức nào? Lát thì
hợp, lát thì tan, khi thì trụ, khi thì tan, lúc có lúc không. Có nghĩa
lý gì đâu.

Vì vậy cho nên nhận được pháp thân trong thân ngũ uẩn này, chừng
đó mình mới thấy thân ngũ uẩn này như là mây nổi chợt còn, chợt mất
không có nghĩa lý gì. Rồi lúc đó thấy: “Tam độc thủy bào hư xuất một.”
Tam độc là tham, sân, si chẳng khác nào như cái bọt nước nó chợt nổi rồi
chợt tan. Như vậy chúng ta còn thân này, chúng ta có khổ hay không? Nếu
thấy được điều đó chúng ta có khổ hay không? Ðối với hàng Nhị Thừa thấy
thân này là khổ. Rồi nguyên nhân của khổ là ba độc tham, sân, si. Thì
qua tới Ðại Thừa, nhất là tới Thiền Tông thì ngay thân khổ đó, vô thường
đó, thấy được có pháp thân chưa từng vô thường, chưa từng sinh diệt.
Bởi vậy đứng từ pháp thân đó mà nhìn lại thân vô thường sinh diệt này
chẳng khác nào như đám mây nổi. Còn ba độc tham, sân, si như cái bóng
nước.

Như vậy nhân và quả của thân này đều là tạm bợ giả dối không có
nghĩa lý gì hết. Thấy được như vậy rồi thì đối với thân này còn buồn,
còn khổ không? Sự còn mất của nó mình có rên rỉ không? Hiểu như vậy mới
thấy rằng ngay trong thân vô thường, đau khổ mà chúng ta tỉnh giác nhận
ra được pháp thân chân thật rồi, thì chừng đó, thân vô thường đau khổ
này không còn có gì là quan trọng đối với mình. Bởi vậy cho nên Bồ Tát
nhìn thấy thân này như mây nổi, thấy tam độc như là bong bóng nước cho
nên không sợ tam độc mà cũng không quý tiếc thân này. Mà tại sao các
ngài không sợ tam độc? Bởi vì thấy pháp thân ở trong thân sinh diệt rồi,
thì lúc đó các ngài còn si hay không? Bởi vì thấy thân này như mây nổi
còn gì nữa mà tham. Mà hết tham thì không còn sân. Vì vậy các ngài thất
tam độc như bong bóng nước nổi rồi tan, không có gì thiệt mà phải sợ.

Vì mình thấy thân này là thiệt, đó là si mê. Bởi si mê nên tham
lam rồi sân hận. Vì vậy mình sợ tham, sân, si. Ðó là nhân rồi sợ quả
khổ. Còn Bồ Tát, bởi thấy rõ điều đó, thì các ngài giác ngộ. Mà giác cho
nên hết si, hết si cho nên hết tham, hết tham thì hết sân. Do đó các
ngài coi tham cũng như là bong bóng nước. Hiểu như vậy các hàng Bồ Tát
không còn sợ thân này là đau khổ. Không còn sợ nguyên nhân tạo thành
thân đau khổ nữa. Bởi vậy cho nên các ngài vui vẻ. Có vị Bồ Tát nào mà
buồn không?

Còn các vị chưa chứng được Bồ Tát, còn tu theo hạnh A La Hán thì
các vị đó đang tu có vui không? Bởi vì thấy thân này là đau khổ sinh tử;
rồi thấy tham, sân, si là gốc của đau khổ, mà chưa dẹp hết được thì các
ngài chưa vui được, lúc nào cũng cố gắng để tiêu diệt. Vì vậy mà các
ngài khổ hạnh đủ thứ. Còn Bồ Tát bởi thấy trong thân vô thường có cái
thường, bởi vậy cho nên các ngài không sợ sệt, không hoảng hốt mà tâm
các ngài hằng an, hằng tĩnh, đó là giai đoạn của Bồ Tát. Thì như vậy
chúng ta biết rõ chư Bồ Tát, đã thấy được tâm này, ngay nơi trong thân
này có cái chân thật rồi, thì các ngài sẽ làm sao?

Tôi dẫn thêm vị Cổ Ðức nói một bài tụng:


Chư Phật tại tâm đầu,


Người mê chạy ngoài cầu.


Trong ôm báu vô giá,


Chẳng biết một đời thôi.

Chư Phật tại tâm đầu, tức là ở ngay nơi đầu tâm mình. Sao không
nói ở đuôi tâm mà nói ở đầu tâm? Bởi vì khi mình thấy niệm lên, trước
khi dấy niệm lúc đó là động hay là tịnh? Nó tịnh rồi mới dấy động chớ?
Như vậy trước khi chưa dấy niệm thì lúc đó Phật ở ngay trong đó rồi mà
dấy niệm là thành chúng sinh. Cho nên nói chư Phật ở tâm đầu. Chưa dấy
niệm đó, ngay đó là Phật rồi mà mình không biết. Nghĩa là đừng dấy niệm
tức là Phật đó rồi, nhưng vừa dấy niệm Phật thành ở dưới, tức nhiên đợi
niệm lắng xuống thì thấy Phật hiện nữa. Như vậy thấy rằng niệm dấy lên,
thiên hạ chấp cái đó là tâm. Mà thật ra Phật ở đầu niệm chớ không đâu
hết. Trước khi niệm sinh là có Phật rồi, mà dấy niệm thành chúng sinh,
mà chúng sinh lắng xuống trở về Phật lại chứ có xa xôi gì đâu. Vậy mà
Người mê chạy ngoài cầu. Người mê chạy kiếm ông Phật ở chỗ này, chỗ kia,
ở Tà Lơn, Ông Cấm gì đó, chứ không chịu thấy ông Phật ngay tâm mình.
Trong ôm báu vô giá. Chẳng biết một đời thôi, nghĩa là trong
tâm mình đã ôm sẵn một hòn ngọc báu vô giá mà mình không chịu biết hòn
ngọc đó, rồi một đời để trôi qua, uổng một đời.

Qua bốn câu rất là đơn giản của các ngài, mình thấy rõ là Phật đâu
có ở xa mình. Bởi ở ngay đầu tâm đó mà rồi không hiết cứ chạy đầu này
đầu kia. Chạy hì hục, leo non, leo núi để tìm Phật. Rốt cuộc rồi có gặp
Phật không? Có gặp thì gặp cái gì chứ không gặp Phật. Rồi mình đã sẵn
một hòn ngọc báu vô giá ở trong lòng mình mà không biết, để trôi một đời
thật đáng tiếc. Ðó là một vị thiền sư nhắc cho chúng ta biết.

Tôi nhắc lại một lần nữa, dầu tu theo hạng Thanh Văn hay là hạnh
Bồ Tát, đều có một mục đích để đạt được sự yên vui. Nghĩa là hàng Thanh
Văn thấy thân khổ để tìm nguyên nhân tiêu diệt khổ, hết khổ rồi được
vui. Còn Bồ Tát thấy rõ trong thân đau khổ có chân thường an lạc. Cho
nên biết có chân thường an lạc rồi các ngài trở về sống với sự an lạc đó
cũng là an vui. Nhưng mà khi ở hai điểm có hai cái từ bi khác nhau. Khi
ở hàng Nhị Thừa thấy cái thân này vô thường, đau khổ rồi tìm nguyên
nhân diệt hết nguyên nhân đau khổ, cho được an vui. Nhìn lại những người
mang thân đau khổ mà không biết đau khổ, rồi lại say sưa trong đó, các
ngài khởi từ bi thường chỉ dậy để cho người ta diệt nguyên nhân đau khổ
để cùng được vuị Ðó là tinh thần của Nhị Thừa.

Còn Bồ tát thì khác. Bồ Tát thấy ngay trong thân vô thường đau khổ
có chân thường, an lạc trong đó cho nên các ngài không dạy mình lối dẹp
tham sân si, mà các ngài dạy mình phải giác ngộ. Phải thấy được chân
thật ngay trong hư dối. Nếu thấy được chân thật ấy rồi, thì đó là phá
được si. Phá được si rồi thì tham cũng hết, sân cũng hết. Thì đó cũng là
dẹp tham, sân, si. Nhưng mà ở đây dẹp mà không dạy pháp tu mà chỉ mình
phải thấy. Vì vậy mà Thiền Tông gọi là Kiến Tánh Khởi Tu. Thấy được chân
thật rồi sau đó mình từ từ xóa bỏ mê lầm.

Vì vậy cho nên, vào hàng Ðại Thừa, khi mà dạy người ta thấy cái
khổ rồi để thoát khổ, bằng cách chỉ thẳng chỗ đó hơn là chỉ cách diệt ba
độc. Và chỉ thẳng cho mình thấy trong thân vô thường có chân thường.
Bao giờ lúc nào cũng chỉ điều đó cho nên bao nhiêu kinh điển Ðại Thừa,
nếu quý vị đọc sẽ thấy. Thí dụ như trong kinh Pháp Hoa thì Phật nói chỉ
có một Phật Thừa, rồi chỉ thẳng cho mình cái tri kiến Phật. Kinh Lăng
Nghiêm cốt chỉ cho mình thấy được chân tâm. Còn kinh Viên Giác cốt chỉ
cho mình thấy tính Viên Giác. Thì kinh nào cũng nhằm cái đó là gốc. Như
vậy mình phải hiểu tại sao tinh thần Ðại Thừa nhắm thẳng vào đó.

Cho đến Thiền Tông cũng vậy. Chỉ cho mình kiến tánh, nhận cho ra
cái đó rồi mới kiến tánh khởi tu. Thì cái đó là gốc của sự tu, đó là
nguồn gốc cho mình thấy ngay nơi thân tạm bợ hư dối có cái chân thật. Vì
chủ yếu của mình tu đây là đừng lầm nhận thân giả dối cho là chân thật.
Mà nếu lầm nhận giả dối cho là chân thật rồi mỗi mê lầm kéo theo dài
dài không bao giờ kể hết. Còn bây giờ mình thấy rõ nó rồi, từ giả dối
mình tìm ra sự chân thật ở trong, rồi tự nhiên mình thấy nó là tầm
thường như mây nổi. Tự nó giải quyết được bao nhiêu vấn đề.

Vì vậy cho nên Ðại Thừa là đốn ngộ, mau là ở chỗ đó. Vì vậy lòng
từ bi của Ðại Thừa, khi nhận mình có cái chân thật rồi, đối với thân này
mình hết quan trọng. Bởi hết quan trọng thì mình hết đau khổ, thì lúc
đó thương xót muốn chỉ dạy cho người ta. Chỉ dạy điều gì? Thì giống như
trong kinh Pháp Hoa mà nói, cho rằng thấy bạn nghèo quá, lang thang, say
sưa liền cho hòn ngọc báu, cột trong chéo áo đó. Cho cái đó, nếu bạn
quên, chỉ cho cái đó lấy ra xài thôi. Lấy cái đó làm then chốt để dậy
tu, lòng từ bi chỉ thẳng chỗ đó. Cho nên quý vị thấy rõ ràng cả đời Bồ
Tát Thường Bất Khinh làm việc gì, gặp ai ngài cũng nói: “Tôi không dám
khinh các ngài, vì các ngài đều sẽ thành Phật.” Tức là cốt chỉ cho ai
nấy cũng đều có của báu đó. Nghĩa là nhận cho ra của báu đó là một việc
làm suốt cả cuộc đời của các ngài.

Hiểu được chỗ đó quý vị mới thấy bao nhiêu chư Bồ Tát đều nhằm
thẳng chỉ cho chúng ta phải làm sao nhận ra hòn ngọc báu đó. Thì như vậy
quý vị mới thấy rõ không có nói riêng về hàng Ðại Thừa, Bồ Tát mới có
từ bi mà hàng Nhị Thừa cũng có từ bi vậy. Nhưng từ bi nhìn khác hơn bên
Ðại Thừa. Hai bên khác nhau như vậy cho nên chúng ta mới thấy có chia ra
Tiểu Thừa, Ðại Thừa. Nhưng mà mục tiêu chính yếu đều là thấy rõ thân
này là gốc.

Thấy rõ thân này là gốc rồi kế đó là tìm cách nào giải hết đau khổ
đưa tới an vui. Như vậy là chủ yếu đạo Phật dù Tiểu Thừa, Ðại Thừa cũng
là đem lại nguồn an vui cho chúng sinh. Chứ không nói đau khổ, chán
nản. Ðem lại nguồn vui tức là an ổn phấn khởi vui tươi. Cho nên quý vị
thấy ai mà tu lâu, tu có hiệu lực thì người đó không phải người buồn mà
là người vui. Ngoài ra tu lôi thôi thì còn nghĩ sự được ít, mất nhiều,
thì đó còn buồn vui. Chứ thật tình tu có đạo lực thì ít có buồn vui. Thì
như vậy mới thấy rõ đạo Phật là đem lại nguồn vui cho chúng sinh, chứ
không phải đau khổ.

Vì vậy cho nên người tu theo đạo Phật là cốt hết khổ. Cho nên tất
cả chúng ta từ Tăng Ni cho tới Phật tử nam nữ, mỗi người tu làm sao mỗi
ngày bớt khổ thì mới gọi là thật tu. Chứ còn tu mà cứ càng ngày càng
chồng chất thêm những khổ đau, đó chưa phải là biết tu. Như vậy tu có
nghĩa là giải khổ, chứ không phải tu để mà thêm khổ. Dầu cho ở chùa, dầu
cho học đạo nhiều năm mà chưa có bớt khổ cũng chưa phải là biết tu. Thì
như vậy chúng ta học đạo là cốt làm sao cho hết khổ. Mà muốn hết khổ là
phải nhận ra hòn ngọc báu của mình hay là nhận ra được pháp thân.

Cho nên tôi nhắc lại câu chuyện của ngài Cảnh Thăng. Ngài ngồi
trong am với chú thị giả nghe ở ngoài kia có con rắn nó bắt con nhái thì
con nhái kêu ẹo ẹo ở ngoài. Ngài hỏi chú thị giả tiếng gì ở ngoài. Chú
thị giả đáp là tiếng rắn bắt nhái kêu. Ngài nói: “Chúng sinh khổ, lại có
khổ chúng sinh”. Như vậy thì con rắn bắt con nhái, thì con nhái bị con
rắn bắt là chúng sinh khổ, còn khổ chúng sinh là ai? Là chú thị giả hay
là ai? Là người mà quên mình theo vật. Ai quên mình theo vật thì người
đó đều khổ hết. Ðó là khổ chúng sinh. Bởi vì chúng ta ngay nơi mình có
hòn ngọc báu mà lúc nào cũng quên nó, mà cứ chạy theo âm thanh sắc tướng
bên ngoài. Bởi chạy theo âm thanh sắc tướng bên ngoài cho nên bị vô
thường chi phối. Do đó mà khổ. Bởi vậy cho nên khi nghe tiếng mà chỉ
biết tiếng chứ không nhớ mình. Vì vậy cho nên cảnh khổ là chúng sinh
khổ. Mà quên mình đó là khổ chúng sinh. Ðể thế cho ông thị giả, nếu trả
lời cho câu hỏi của ngài Cảnh Thanh thì tôi sẽ nói: “Quan Âm diệu trí
lực. Năng cứu chúng sinh khổ.”

Ðể kết luận bài nói chuyện hôm nay, tôi xin dẫn một bài kệ của thiền sư Chân Nguyên ở Việt Nam đời Lê để cho quý vị nhớ mà tu:


Nhất tánh viên minh cá cá đồng,


Bao la thiên địa tổng hư không.


Ngã kim trực chỉ Tây Lai ý,


Tâm tịch linh tri thị chánh tông.

Nói rằng Nhất tánh viên minh cá cá đồng tức là một tánh tròn sáng
mà mỗi người ai cũng đồng có, ai cũng có tánh tròn sáng như vậy. Bao la
thiên địa tổng hư không tức là nó bao trùm cả trời đất và hư không. Nếu
mình thấy được tánh đó thì cái thân này thật là bọt bèo không đáng kể gì
hết. Ngã kim trực chỉ Tây Lai ý nghĩa là nay tôi nhắm thẳng ý Tây Lai,
tức là ý của tổ sư từ Ấn Ðộ sang, ý đó là tâm tịch linh tri thị chánh
tông. “Tâm tịch”, chữ Tâm hồi nẫy tôi nói là tâm đầu. Tâm là chỉ cho cái
tâm vọng tưởng phân biệt của mình đó. Mà tâm vọng tưởng phân biệt nó
lặng đi rồi thì còn “Linh Tri” tức là hiểu biết sáng suốt, không phân
biệt. Ðó chính là “Chánh Tông”. “Tâm tịch linh tri thị chánh tông” nghĩa
là những tâm vọng tưởng lặng xuống còn linh tri sáng suốt đó, tức là
“Chánh Tông” mà tổ Bồ Ðề Ðạt Ma đem sang. Vì vậy cho nên bản dịch:


Một tánh sáng tròn mỗi mỗi đồng,


Bao trùm trời đất cả hư không.


Nay ta nhắm thẳng Tây lai ý,


Lòng vắng biết thiêng ấy chánh tông.

Như vậy tất cả chúng sinh ta tu mà nhất là tu thiền thì thấy cái ý
tổ sư từ Ấn Ðộ sang rõ ràng bằng một câu kết thúc này: “Lòng vắng biết
thiêng ấy chánh tông”. Thì quý vị nhớ rằng ứng dụng như vậy thì đời tu
chúng ta không uổng, mà đó cũng là ý của tổ sư từ Ấn Ðộ sang.

Xem thêm: https://www.phaphay.com/phat-phap/

Nguồn: https://www.niemphat.vn/

Add Comment