Bồ Tát

Bồ Tát 1

Như chúng ta đã biết, Bồ tát là
người khát khao và nỗ lực đạt đến giác ngộ để làm lợi lạc cho tất cả chúng
sinh. Bồ đề tâm (Bồ đề: giác ngộ. Bồ đề tâm: tâm hướng đến giác ngộ), tâm của
người Bồ tát cũng có ý nghĩa như vậy.

Trên con đường đạt đến giác ngộ viên
mãn, người Bồ tát vừa tự lợi, nghĩa là tích tập phước đức và trí tuệ cho mình,
vừa lợi tha, nghĩa là giúp đỡ người khác giải thoát khỏi khổ đau và đạt đến
giác ngộ như mình.

Ở đây chúng ta sẽ nói một số điều về
tinh thần Bồ tát mà chúng ta dễ dàng tìm thấy trong đời sống hàng ngày. Để dễ
hiểu và khỏi lầm lẫn, chúng ta quy ước rằng chữ người Bồ tát sử dụng trong bài
này là để chỉ người có phát Bồ đề tâm, hoặc có thọ giới Bồ tát, hoặc đang đi
theo con đường Bồ tát (Bồ tát hạnh)… còn chữ Bồ tát là để chỉ vị đã bước vào
Thập địa của Bồ tát, còn những vị đã hoàn tất con đường ấy như Quán Thế Âm, Địa
Tạng thì đúng ra gọi là Đại Bồ tát, nhưng chúng ta vẫn dùng chữ Bồ tát như vẫn
thường nói, cho gọn.

Sự
khám phá lòng Bi

Dù sự thực hành Phật pháp có thể do
những nguyên do nào (muốn tìm chân lý cuộc đời, một thất bại, một khổ đau, vì
lòng vị tha…) thì con đường Phật giáo cũng thực sự bắt đầu và cuối cùng chấm
dứt bằng trí tuệ. Con đường trí tuệ (trí tuệ soi thấy tánh Không) là cái chung
cho cả ba thừa, mà theo Đức Đạt Lai Lạt Ma là Tiểu thừa, Đại thừa và Kim Cương
thừa (xem The world of Tibetan Buddhism). Chúng ta có thể nói thêm, Kim Cương
thừa là Đại thừa, nhưng nhấn mạnh hơn đến Phương tiện thiện xảo, những phương
pháp và những ứng dụng các định luật của thế giới vật lý và tâm lý để đưa đến
giải thoát cho chính mình và để giúp đỡ những người khác. Cả ba thừa trên đều
nhắm đến tánh Không, như kinh Đại Bát Nha nói trong phẩm Khuyến học.

Đối với người thực hành Bồ tát đạo
(Đại thừa), ngoài trí tuệ thấy biết tánh Không (cái này sẽ đưa đến giải thoát
cho cá nhân mình), người ấy còn phải nuôi dưỡng lòng bi mỗi ngày một lớn, để
cuối cùng trí tuệ toàn giác và đại bi hợp nhất trọn vẹn ở cấp bậc Phật. Sự hợp
nhất trọn vẹn này được các vị thầy ngày xưa so sánh với mặt trời (trí tuệ) và
sức tỏa chiếu của nó (đại bi): không thể có mặt trời mà không có sức tỏa chiếu
của nó và cũng không thể có sự tỏa chiếu mạnh mẽ nhất ngoài mặt trời.

Ở đây chúng ta nhấn mạnh đến lòng
bi, tính cách đặc trưng làm nên tinh thần Bồ tát, khiến người Bồ tát phát Bồ đề
tâm, làm động lực cho người Bồ tát đi trên con đường Bồ tát (Bồ tát hạnh). Lòng
bi ấy không phải chấm dứt bằng sự giải thoát cá nhân của chúng ta, bằng kiếp
sống cuối cùng của chúng ta, “Đây là kiếp cuối cùng, sinh đã tận, phạm hạnh đã
thành…”, mà lòng bi ấy vượt qua khỏi sự giải thoát cá nhân, vượt qua khỏi kiếp
sống cuối cùng trong luân hồi sinh tử. Như trong bài nguyện cuối cùng của kinh
Hoa Nghiêm, Bồ tát Phổ Hiền nói:

Cho
đến hư không, thế giới tận

Chúng
sinh, nghiệp và phiền não tận


bốn pháp ấy rộng vô biên

Nguyện
này mãi mãi hằng vô tận.

(Phẩm Phổ Hiền hạnh nguyện)

Vậy thì lòng bi thật sự là gì? Có
phải nó là một cảm xúc thường tình khi nhìn thấy cảnh khổ đau của những người
khác? Cảm xúc ấy dù thực, nhưng chưa đủ để trụ lại thành một thực thể ngày càng
tăng trưởng làm động lực cho người đi trên con đường Bồ tát. Lòng bi thật sự là
khi người Bồ tát nhìn thấy ra chân lý về Khổ (Khổ đế, chân lý thứ nhất trong
bốn chân lý). Chân lý ấy không chỉ áp dụng cho riêng mình mà cho tất cả mọi
người, mọi loài.

Chỉ cần nhìn cuộc sống chung quanh.
Có biết bao người có khi để cả cuộc đời mình tìm kiếm những giá trị tạm thời
của đời sống thế gian mà còn không thể được, nói gì đến những giá trị vĩnh cửu
của đời sống siêu vượt thế gian. Có rất nhiều người đầu tắt mặt tối, suốt ngày
lo cho cuộc mưu sinh đến độ chẳng hề suy nghĩ lại thân phận của chính mình,
phản tư trên tình trạng bấp bênh của cuộc đời mình, thời gian thì cứ trôi qua
không cưỡng lại được, có nghĩa là mỗi phút giây mình đang tiến gần đến cái
chết. Có rất nhiều người không hề biết đến tình trạng khốn khổ của mình (như
trong nhà lửa) và không biết có con đường đưa ta thoát khỏi tình trạng đó (Phật
đạo). Rồi dù có biết, có lo, nhưng không có thì giờ rỗi rảnh để thực sự lo cho
chính mình, nghĩa là thực hành Phật pháp.

Chưa kể là có những người vì lo cho
miếng ăn, nhà ở mà vì không biết nên tạo ra việc xấu (nghiệp xấu) cho mình, nói
gì đến chuyện tiến bộ (thay vì sa đọa) trên con đường tiến hóa. Chỉ nói riêng loài
người chứ chưa nói đến các loài khác, và chỉ nhắc đến hai điều: 1/ Biết được
Phật pháp và 2/ Có một cuộc đời có thì giờ rảnh rỗi (đây là hai điều trong 18
điều được gọi là “tự do và thuận lợi”, nghĩa là những phước đức của cuộc sống
làm người, theo kinh điển Phật giáo), chúng ta cũng thấy là nhiều người khổ
biết bao nhiêu, khổ hơn nữa là khổ mà chẳng tiến hóa gì cả, chẳng ích lợi gì
cả, chẳng có được kết quả tinh thần nào cả.

Khi nhìn thấy mọi người, dù nam hay
nữ, da trắng hay da đen, da vàng hay da đỏ, giàu hay nghèo, làm một nghề nghiệp
trong sáng hay làm một nghề nghiệp xã hội coi khinh, dù đang sống trong quyền
lực hay tiền bạc hay danh vọng lớn lao… tất cả đều đang đi tìm, đang níu giữ,
đang khuyếch trương cho sự vô thường, khổ, không, vô ngã của họ, lúc đó lòng bi
phát khởi. Sở dĩ nói “vô thường, không” vì chúng ta đang không nắm được cái gì,
vì nếu thật sự nắm được cái gì, chúng ta đã không đi tìm kiếm tiếp tục. Có ai
ra khỏi đời này mà không “với hai bàn tay trắng”.

Người Bồ tát quan sát kỹ càng thì
nhìn thấy tất cả chúng sinh, không trừ một ai, một loại chúng sinh nào, từ
những cõi thấp cho đến cõi người và những cõi cao hơn là những cõi trời, tất cả
chúng sinh trong ba cõi (dục giới, sắc giới và vô sắc giới) đều chịu ít nhất là
một trong ba loại khổ:

– Khổ cụ thể, tác động lên thân tâm
(khổ khổ): đau đớn nơi thân thể, đau buồn nơi tâm thức.

– Khổ do biến dịch (hoại khổ) mọi sự
vật và mọi trạng thái tâm lý đều biến đổi, vô thường, đưa đến hoại diệt.

– Cái khổ của năm uẩn (sắc, thọ,
tưởng, hành, thức) nhiễm ô và sinh diệt trong từng khoảnh khắc (hành khổ). Năm
uẩn này tạo thành thân tâm bất cứ loài nào.

Ba cõi sở dĩ có là do năm uẩn tạo
thành, nên cái khổ này có mặt ở khắp vũ trụ. Năm uẩn bị nhiễm ô là khổ, vì
chúng sinh diệt trong từng khoảnh khắc, nghĩa là chúng không thể trụ lại cho
chúng sinh nắm bắt, giữ gìn. Như thế chúng gây ra sự mất mát thường trực và
vĩnh viễn cho tất cả mọi thời gian, mọi không gian, mọi thân tâm, dù ở tình
trạng vi tế như ở các cõi trời. Những cõi trời tương ứng với những cấp bậc định
cao nhất trong Tứ thiền Bát định vẫn nằm trong cái khổ nhiễm ô và sinh diệt
này. Thế nên, kinh thường nói: “Ba cõi chẳng yên. Giống như nhà lửa”.

Soi chiếu kỹ càng, người Bồ tát thấy
tất cả chúng sinh đều đang ở trong biển lửa của ba loại khổ này, đang bị ba
loại khổ này thiêu đốt. Đáng thương hơn, vì vô minh (không biết) tất cả chúng
sinh vẫn đang nỗ lực tạo thêm sự nhiễm ô cho năm uẩn, nghĩa là đang tưới thêm
nhiên liệu cho biển lửa để thiêu đốt cả mình và người. Lòng bi từ đó nảy sinh,
không phải cho riêng một loài nào, mà cho tất cả mọi loài.

Từ sự thực hành pháp để vượt qua đau
khổ của mình, người Bồ tát nhận ra sự đau khổ của người khác. Lòng bi thật sự
phát khởi khi trí tuệ bắt đầu hoạt động. Chúng ta sẽ thương xót cho tất cả mọi
loài, dù cao hay thấp, nếu không biết, họ vẫn đang đuổi theo để nắm bắt sự vô
thường, có nghĩa là đi tìm và xây dựng cho cái chết của “chính họ và những gì
của họ”. Nói theo phạm trù kinh điển, chúng ta thương xót khi tất cả mọi người
đều mê lầm, khổ vui và chết vì mê lầm đó: vô thường mà cho là thường, khổ mà
cho là vui, vô ngã mà cho là có ngã, bất tịnh mà cho là thanh tịnh.

Có nhiều lời dạy từ kinh điển: như
con nai khát nước chạy theo những dợn sóng nắng trên sa mạc mà tưởng là dòng
sông, như những đứa trẻ ham những đồ chơi nên ở mãi trong căn nhà lửa cháy mà
không chịu ra, như những hoa đốm giữa hư không mà cứ suốt đời nhọc công nắm
bắt, như ngồi chờ hoa đốm giữa hư không có ngày hết thành quả…

Nếu nhờ thực hành trí tuệ mà chúng
ta thấy rõ, thấy cụ thể những thí dụ trên, chúng ta sẽ cảm thấy chẳng khôi hài
chút nào, mà từ trong lòng dâng lên một niềm thương xót, một lòng bi. Từ lòng
bi đích thực, người Bồ tát phát Bồ đề tâm: “Bồ tát ấy thấy các chúng sinh không
có chủ, không có người thân, không ai cứu giúp, không ai độ được cho họ đến bờ
bên kia (giải thoát). Bồ tát liền vì các chúng sinh ấy mà sinh lòng từ bi, bèn
nói rằng: Tôi sẽ làm người cứu giúp cho các chúng sinh bơ vơ trong sinh tử này.
Vì nguyên nhân ấy mà Bồ tát phát tâm Vô thượng bồ đề (Bồ đề tâm)” – Kinh Đại
Bảu Tích, Pháp Hội Đại thừa Phật pháp thứ 9.

Trên con đường thực hành, con đường
tự tịnh hóa chính mình, mỗi chúng ta đều thấy sự yếu đuối, trì trệ của thân tâm
mình. Con đường thì có rất nhiều gian khổ, khó khăn, thách thức, bế tắc, thụt
lùi, nghĩa là mặc dù đích đến thì vinh quang vô lượng, nhưng khó khăn trắc trở
cũng vô vàn. Trông mình lại nghĩ đến người (cũng là một yếu tố trong tinh thần
Bồ tát). Ta có nhiều thuận lợi hơn họ, thậm chí nhiều khả năng hơn họ, nhiều
ước nguyện hơn họ, nhiều phương tiện hơn họ mà ta còn đi khó khăn đến thế này,
còn họ thì sao?

Nếu ta không đi trước, làm trước,
không khai phá con đường trước cho họ thì làm sao họ có thể thực hiện nổi
chuyện này? “Nếu ta không làm việc ấy thì có ai khác” “Vì tất cả chúng sinh lang
thang trong vòng sinh tử, tôi sẽ là thượng thủ… nhẫn đến là người y chỉ của
Nhất Thiết chủng trí”. Nay tôi vì chúng sinh mà tu hành. Đơn độc phát tâm chẳng
cầu bè bạn. Tôi phải làm cho… Tôi phải làm cho…” phẩm Thập Địa. Con đường Bồ
tát là con đường hành động. Hành động cho chính mình đồng thời hành động vì
người khác. Điều này đem lại an vui. Do đó đây là con đường của an vui.

Khi thấy nếu ta không băng qua biển
lớn sinh tử này thì làm sao có thể giúp đỡ họ, khi rất nhiều người, nhiều loài
yếu hơn ta? Ở đây lòng bi tạo nên hạnh bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn,
thiền định, trí tuệ, sáu Ba la mật của Bồ tát.

Lòng bi có giúp đỡ gì cho trí tuệ?
Lòng bi có thể thực hành chung với trí tuệ không? Trước sự thấy rõ khổ đau của
những người khác; quả khổ đau lúc này vì nhân trước đã chín, và khổ đau mai sau
vì do không biết nên hiện giờ đang gieo nhân xấu, một lòng bi không thể chịu
đựng nổi (cho chính mình) khởi lên. Chính lòng bi không thể chịu đựng nổi đối
với cái tôi nhỏ hẹp chỉ biết lo cho chính mình đã làm rạn nứt cái tôi ấy, khiến
chúng ta không còn có thể trụ lại trong một cái tôi nữa. Chính lòng bi bao la
này mở cửa cho một cái tôi đóng kín trong một ngục tù nhỏ hẹp để bước ra, đến
với thế giới bên ngoài gồm vô số cái tôi khác đang khổ đau. Lòng bi đưa đến vô
ngã, nghĩa là đưa đến trí tuệ (thấy vô ngã, thấy tánh Không).

Với một người thực hành hay hành
giả, người ta có thể thực tập pháp Tong Len vốn xuất phát từ Ấn Độ và hiện giờ
thịnh hành trong Phật giáo Tây Tạng. Tong Len là trao cho và nhận lại, hay
chuyển đổi mình với người. Trao cho người khác lòng từ bi và nhận lại những khổ
đau của họ. Hành động trao cho này giống như “hồi hướng”, chẳng hạn hồi hướng
công đức. Trao cho người khác những cái tốt đẹp cao cả trong tâm và nhận lại
những phiền não, khổ đau của họ. Chúng ta có thể xem chi tiết trong nhiều sách
Phật giáo Tây Tạng hiện giờ, chẳng hạn A flash of Lightning in the dark of
night, Bồ tát hạnh của Shantideva do Dalai Lama giảng giải; Essence of the
Heart Sutra, Dalai Lama, phần Phát Bồ đề tâm; The words of my Perfect Teacher,
phần II chương 2. Tong Len dựa trên hai cột trụ của Đại thừa: để có thể nhận
lấy, phải thấy năm uẩn là vô tự tánh, là tánh Không (Trí tuệ) và để có thể cho
đi, phải có lòng bi (Đại bi).

Ở mức độ thật sự trực tiếp thấy tánh
Không, Bồ tát nhờ trí tuệ thấy tất cả “như hoa đốm giữa hư không”, “như mộng
huyễn”, “như bóng trong gương, như điện chớp” mà vẫn không từ bỏ đại bi cứu
giúp chúng sinh. Do đó như kinh Kim Cương nói: “Người phát tâm Bồ đề nên sanh
tâm như vầy: Ta phải cứu độ tất cả chúng sinh, mà dù có cứu độ tất của chúng
sinh rồi, cũng không có thật một chúng sinh nào được cứu độ”.

Rốt ráo, trí tuệ và đại bi là một,
không thể tách lìa, như bài kệ Bồ tát Đại Huệ tán thán Phật mở đầu kinh Lăng
Già:

Thế
gian lìa sinh diệt

Giống
như hoa trong không

Trí
chẳng đắc có, không


hưng tâm đại bi.

Tất
cả pháp như huyễn

Xa
lìa khỏi tâm thức

Trí
chẳng đắc có, không


hưng tâm đại bi.

Xa
lìa thấy đoạn, thường

Thế
gian hằng như mộng

Trí
chẳng đắc có, không


hưng tâm đại bi.

Biết
nhân pháp vô ngã

Không
phiền não, sở tri

Thường
thanh tịnh vô tướng


hưng tâm đại bi.

Tất
cả không Niết bàn

Không
Niết bàn của Phật

Không
có Phật Niết bàn

Xa
lìa giác, sở giác

Hoặc
có hoặc không có


tất cả đều lìa.

Quán
Mâu Ni tịch tĩnh

Đó
là xa lìa sanh

Cũng
là không nắm giữ

Đời
này đời sau tịnh.

Lòng
bi hành động, đảm đương

Những người mẫn cảm như những nhà
nghệ thuật, những nhà cách mạng… họ dễ dàng thấy khổ đau của người khác và họ
cũng dễ dàng chuyển từ lòng thương xót qua hành động. Nhưng lòng thương xót đó
chưa đủ sâu nặng và chưa đủ trí tuệ để gọi là đại bi. Sự khổ đau của người
khác, của chúng sinh với họ chưa đủ sức thấu cảm nên họ vẫn thấy là cái gì ở
bên ngoài mình.

Ở đây chúng ta trích một câu rất đẹp
của Holoderlin (1770-1843), thi sĩ lớn của Đức, cũng là một nhà tư tưởng lớn
của Tây phương. Mặc dù theo thiển ý câu nói này chưa đủ hành động, chưa đủ trực
tiếp, dấn thân và trách nhiệm bằng tư tưởng Đông phương: “Một cách công
nhiên, tôi hiến tim mình cho mặt đất trầm trọng và đau thương, và thường thường
trong đêm thiêng liêng tôi hứa sẽ trung thành yêu dấu đất cho đến chết, yêu
không sợ hãi, cùng với khối định mệnh nặng nề của đất, và như thế tôi đã kết
hợp mình với đất, trong một liên lạc phù du” (Bùi Giáng dịch).

Với lòng bi nồng nhiệt và sâu thẳm,
người Bồ tát thấy khổ đau của người khác ở bên trong ho, là của chính họ. Ngoài
và trong là một: khổ đau của tôi và khổ đau của người khác là một. Năm uẩn của
tôi là môi trường cho khổ đau, và mọi người đều là năm uẩn, mọi người đều là
môi trường cho khổ đau. Vì tất cả chúng ta đều là năm uẩn, nên chúng ta đồng
nhất trong khổ đau. Khổ đau thể hiện nơi anh cũng ít nhất là đã thể hiện nơi
tôi, và cũng có thể sẽ thể hiện nơi tôi. Vì khổ đau là đồng nhất nơi tất cả
chúng ta, nên chúng ta có thể tiến đến cái gọi là đồng thể đại bi.

Người Bồ tát không phải thấy nhân
quả nghiệp báo của người khác ở ngoài mình, mình chỉ là kẻ đứng ngoài chứng
kiến, có trách nhiệm thì cũng là một trách nhiệm của kẻ ở ngoài. Người Bồ tát
không nói, nhân quả nghiệp báo là của các anh, mà nói, nhân quả nghiệp báo ấy
là của tôi. Chính sự đảm đương này mà có “sự chịu khổ thay cho chúng
sinh”, như nhiều kinh Đại thừa đã nói (chẳng hạn phẩm Thập Địa).

Khi thấy mọi chúng sinh đã, đang và
sẽ khổ đau, mà hơn nữa khổ đau ấy lại do vì họ không biết, không thấy được sự
thật là gì nên khổ đau ấy là do họ tự tạo ra và sẽ còn tiếp tục tạo. Thấy được
sự khổ đau (Khổ đế), những nguyên nhân gây ra khổ đau (Tập đế), biết được trạng
thái khi khổ đau đã diệt như thế nào, trạng thái lành bệnh là như thế nào (Diệt
đế) và cách thức, phương pháp tận diệt những nguyên nhân của khổ đau (Đạo đế),
thấy được Bốn chân lý ấy không phải cho riêng mình mà cho mọi người khác. Chính
cái hiểu biết này khiến lòng bi chân thật phát sinh.

Bồ tát có thể vẫn còn một ít bệnh
(bệnh khổ đau, năm uẩn nhiễm ô) hoặc đã hoàn toàn hết bệnh, nhưng chắc hẳn phải
từng bị bệnh, nên có thể chia sẻ kinh nghiệm khổ đau với những người khác. Bồ
tát hẳn phải thấy rất rõ mọi người đang bệnh. Và Bồ tát không thể chịu đựng
được sự việc này, không thể chịu đựng được khi thấy tất cả chúng sinh đang bị
bệnh khổ hành hạ, từ trong phần tâm thức sâu xa nhất ra đến bên ngoài. Ở trong
lòng bi sâu xa rộng lớn, người Bồ tát nói như Bồ tát Duy Ma Cật: “Vì chúng
sinh bệnh nên tôi bệnh”.

Căn bệnh của chúng sinh, cũng như
căn bệnh của người Bồ tát đang bớt dần hoặc hết khổ – đều do không thấy biết
đúng nên sống trong năm uẩn bị nhiễm ô và nếu tiếp tục thấy biết sai thì vẫn
làm chúng nhiễm ô thêm trong từng giây phút một. Căn bệnh của sinh tử chính là
năm uẩn nhiễm ô. Căn bệnh chính là năm uẩn, người Bồ tát thấy rõ như vậy. Nhưng
để có thể trực tiếp giúp chúng sinh chữa bệnh, người Bồ tát phải trực tiếp có
mặt với chúng sinh, nghĩa là phải chấp nhận hiện hữu trong năm uẩn, hiện hữu
trong căn bệnh – dù có bị nhiễm ô ít hay hoàn toàn không nhiễm ô. Chịu nhận lấy
năm uẩn, nguồn gốc của mọi thứ bệnh khổ đau, đó là “cái bệnh” của người Bồ tát.
“Vì chúng sinh bệnh”, căn bệnh này là năm uẩn, và vì người Bồ tát chịu chấp
nhận năm uẩn, chịu nhận lấy bệnh năm uẩn, để có mặt ở đời mà chữa trị cho chúng
sinh, cho nên “tôi bệnh”.

Đây là một sự kham nhẫn, một nhẫn
nhục rốt ráo (nhẫn nhục Ba la mật, một trong sáu sự hoàn thiện của Bồ tát). Cái
năm uẩn này thì mong manh, phản trắc, dụ dỗ, nguy hiểm, có thể gây ra bệnh bất
cứ lúc nào, nên cuộc đời người Bồ tát như đi trên lưỡi dao cạo, nghĩa là đi
giữa Sắc thân năm uẩn là môi trường của nhiễm ô và Pháp thân hằng giải thoát.

Kham nhẫn hay nhẫn nhục không chỉ là
con đường đi mà còn là đích đến của người Bồ tát. Đó là một sự nhẫn nhục rốt
ráo, tối hậu, vô sinh pháp nhẫn, cái nhẫn thấy tất cả đều không sanh, do đó mà
có thể vừa giải thoát vừa có thể ở lại trong cõi Ta bà này (Ta bà có nghĩa là
kham nhẫn).

Chúng sinh có thể bỏ Bồ tát, nhưng
Bồ tát không thể bỏ chúng sinh. Chúng sinh có thể khinh thường, thậm chí phỉ
báng Bồ tát, nhưng Bồ tát không thể coi thường và trách móc chúng sinh. Đây là
nhẫn nhục Ba la mật. Lòng bi nhẫn nhục vì tất cả chúng sinh đều có Phật tánh.
Trước những người chọc ghẹo, đánh đập, chưởi mắng mình, Bồ tát Thường Bất Khinh
trong kinh Pháp Hoa vẫn nói “Tôi không dám khinh thường các người, bởi vì các
người sẽ thành Phật”.

Lòng bi không phải bàng quan, đứng
ngoài, mà lòng bi là dấn thân, nhập cuộc, thật sự chia sẻ, đó là lòng bi hành
động và đảm đương. Đảm đương thế gian sinh tử, tức là đảm đương căn bệnh của
thế gian. Chính từ một trí tuệ và lòng bi “năng động, trách nhiệm và dấn thân”
như vậy mà ngài A Nan phát ra lời nguyện chúng ta vẫn tụng mỗi sáng:

Nguyện
nay đắc quả thành Bảo Vương

Về
độ như thế hằng sa chúng

(Nguyện đem tất cả thâm tâm này
Phụng sự cõi nước nhiều như bụi
Thế mới gọi là báo Phật ân
Cúi xin Thế Tôn chứng minh cho
Đời ác năm trược thề vào trước
Còn một chúng sinh chưa thành Phật
Rốt chẳng nơi kia nhận  Niết bàn…)

Với lòng bi đích thực của Phật giáo
– nghĩa là lòng bi của Bồ tát đã vào địa – thì lòng bi ấy phối hợp nhuần nhuyễn
với trí tuệ mà thành vô ngã (chứ không phải là “đại bi ái kiến”, như được nói
trong kinh Duy Ma Cật), vô ngại (như Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà
La Ni) và vô biên… Chính vì những tính chất vô ngã, vô ngại, vô biên… mà lòng
bi mặc dù đảm đương thế gian sinh tử mà vẫn không ô nhiễm bởi thế gian sinh tử.

Ở trên nói sự đảm đương của Bồ tát
về mặt lòng bi. Ở đây chúng ta sẽ nói sự đảm đương về mặt trí tuệ: Như trên đã
nói, người Bồ tát nguyện đảm đương chúng sinh trong sinh tử. Nhưng lấy cái gì
để đảm đương chúng sinh trong sinh tử? Tuy đã phát nguyện Bồ đề tâm, nhưng
nguyện ấy được phát trên một thân tâm năm uẩn tương đối, nên Bồ đề tâm ấy vẫn
là Bồ đề tâm tương đối. Người Bồ tát phải đạt đến cái gọi là Bồ đề tâm tuyệt
đối, tức là Pháp thân, tánh Không, Phật tánh, Như Lai Tạng…

Nhờ đạt đến Pháp thân không sinh
không diệt, không dơ không sạch, không tăng không giảm này mà có thể dùng cái
ấy để đảm đương cho thân tâm tương đối và hữu hạn của chính mình (Sắc thân hay
Hóa thân) và thân tâm tương đối và hữu hạn của những chúng sinh khác trong sinh
tử. Do đạt được từng phần Pháp thân mà có mười địa và sự đạt được từng địa này
Thiên Thai tông gọi là Tùy phần chứng (chứng từng phần Pháp thân) so với chứng
toàn bộ Pháp thân của Phật gọi là Cứu cánh chứng. Nếu không đạt đến Pháp thân,
dù chỉ từng phần, thì không có cơ sở nào để đảm đương sinh tử. Chỉ có Pháp thân
xa lìa hẳn sinh tử mới có thể đảm đương sinh tử, chỉ có tánh Không tuyệt đối và
vô hạn mới có thể đảm đương năm uẩn tương đối và hữu hạn.

Cũng nhờ Pháp thân, hay tánh Không,
hay Như Lai Tạng này mà tuy ở trong sinh tử nhưng không bị sinh tử làm ô nhiễm.
Pháp thân hay tánh Không thì không ô nhiễm, như hư không dù có mây hay mưa, sấm
hay gió tạm thời đều không làm hư không biến chất, thôi là hư không. Cũng nhờ
đạt được từng phần Pháp thân tánh Không này mà tuy đảm đương chúng sinh sinh tử
luân hồi nhưng biết “các pháp như huyễn, như mộng, như bóng, như vang, như biến
hóa, như trăng trong nước, như bóng trong gương…” (phẩm Thập Địa). Do đó đảm
đương mà chẳng đảm đương gì cả và bởi vì chẳng đảm đương gì cả cho nên có thể
đảm đương tới vô tận, tới lúc sinh tử luân hồi của tất cả chúng sinh chấm dứt.

Ở thế gian, ở đời mà vẫn giải thoát,
dấn thân hành động mà không nhiễm ô, đây là tính chất Đại thừa của Phật giáo
Việt Nam:


đời làm thân người

Tâm
là Như Lai Tạng

Sáng
chiếu khắp mười phương

Tìm
nó lại không bóng.

Thiền sư Thường Chiếu (?-1203)

Hoặc như Thiền sư Ngộ Ấn (1019-1088):
Diệu tánh hư
không chẳng thể cầm


không tâm ngộ, khó gì đâu

Ngọc
trên núi cháy màu thường thắm

Sen
nở trong lò mãi vẫn tươi.

Chính sự phối hợp của hai cột trụ
của con đường Bồ tát, trí tuệ (cha) và đại bi (mẹ) mà sinh ra Phương tiện thiện
xảo, là cái để ứng dụng vào việc đời, vào thế gian sinh tử để ở trong thế gian
mà làm lợi lạc cho chúng sinh.

Học
không bất chứng

Như lời nguyện của ngài A Nan ở
trên, Bồ tát nếu “Còn một chúng sinh chưa thành Phật. Rốt chẳng nơi kia nhận
Niết bàn”. Việc không sớm và thậm chí có thể nói vĩnh viễn không nhập Niết bàn
là một đặc tính tinh thần vĩ đại của Bồ tát.

Theo những kinh điển Đại thừa, như
kinh Hoa Nghiêm và Đại Bát Nhã, Bồ tát đến địa thứ bảy và thứ tám, tương đương
với một vị A la hán, có thể “nhập diệt định bất cứ lúc nào”. Về mặt giải thoát,
Bồ tát địa thứ tám tương đương với một A la hán, nghĩa là có khả năng dứt bỏ
hẳn sinh tử luân hồi để vào Niết bàn an vui vắng lặng. Nhưng vì lời nguyện độ
sinh phát xuất từ đại bi, với Bồ tát, Niết bàn là một triển hạn, thậm chí là
một triển hạn vĩnh viễn. Bồ tát sẽ không chịu dừng lại và ra đi ở địa thứ tám
mà còn tiến lên nữa, còn độ sinh rộng lớn và sâu sắc hơn nữa, thành Đại Bồ tát
(địa chín, địa mười), thành Phật. Thực hành vẫn là thực hành Không, Vô tướng,
Vô tác (hay Vô nguyện), là những tính chất của Niết bàn vô sinh, nhưng vẫn
“tránh né”, không thực sự buông bỏ đại nguyện để chứng nhập Niết bàn. Điều này
được kinh Đại Bát Nhã gọi là Học Không Bất Chứng. Học không bất chứng là đầu đề
của một chương (phẩm thứ 60) của kinh Đại Bát Nhã.

“Này Tu Bồ Đề! Cũng vậy Đại Bồ
tát ở trong tất cả chúng sinh với tâm từ bi hỷ xả tràn đầy cùng khắp, khi ấy
đại Bồ tát an trụ trong bốn tâm vô lượng, đầy đủ sáu Ba la mật, chẳng chứng lấy
quả Vô lậu (Niết bàn), học Nhất thiết chủng trí, nhập ba môn giải thoát Không,
Vô tướng, Vô tác. Bấy giờ Bồ tát chẳng theo tất cả tướng cũng chẳng chứng vô
tướng tam muội (đại định vô tướng). Vì chẳng chứng tam muội vô tướng nên chẳng
sa vào các bậc Thanh văn và Bích Chi Phật.

Này Tu Bồ Đề! Ví như chim có đủ cánh
bay lượn trong hư không chẳng bị rơi rớt, dù chim ở trong hư không mà cũng
chẳng an trụ hư không”.

Hai cánh chim đó, một cánh là Trí
tuệ, một cánh là Đại bi. Chúng ta có thể thấy rằng từ địa thứ nhất vào dòng
Thánh, Hoan Hỷ địa, tương đương với vị Thánh Nhập Lưu (Tu đà hoàn), Bồ tát
không chỉ thực hành Không, Vô tướng, Vô tác, mà còn phát khởi tâm đại bi rộng
lớn, đại nguyện rộng lớn (mà kinh Hoa Nghiêm gọi là biển đại nguyện), còn thực
hành những pháp môn phương tiện rộng lớn. Như lời nguyện chúng ta thường tụng:
Chúng sinh vô biên thệ nguyện độ. Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn. Pháp môn vô
lượng thệ nguyện học. Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành.

Chính vì rất nhiều những thực hành
“Pháp môn vô lượng” này mà đến địa thứ năm Nan Thắng địa (địa khó chinh phục:
the Stage Difficult to Conquer – Thomas Cleary dịch), Bồ tát có thể bắt đầu hòa
nhập Niết bàn với sinh tử, tánh Không với sắc thọ tưởng hành thức của cuộc sống
thế gian. Đây là sự bắt đầu hòa nhập giữa chân lý tuyệt đối (Tánh Không, Niết
bàn) với chân lý quy ước hay tương đối (năm uẩn, sinh tử). Như Bát Nhã Tâm Kinh
nói: “Sắc (vật chất) chẳng khác Không, Không chẳng khác sắc. Sắc tức là Không,
Không tức là sắc. Thọ tưởng hành thức lại cũng như vậy”.

Đến địa thứ tám, tuy đã đạt đến tánh
Không rốt ráo (tức là Niết bàn) nhưng Bồ tát do đã sửa soạn chuẩn bị từ đầu con
đường, có thể “từ chối” Niết bàn tánh Không, để tiếp tục con đường độ sinh và
thành Phật. Chính từ đây mà ý nghĩa không bỏ sinh tử, không bỏ chúng sinh đã
được thực hiện trọn vẹn: vấn đề có một hay nhiều Hóa thân (Sắc thân) ở trong
thế gian, vấn đề tái sinh vì thệ nguyện thanh tịnh tiếp tục độ chúng sinh không
là khó hiểu, nan giải hay bất khả.

Học không bất chứng là Bồ tát ở địa
thứ tám đã đạt đến sự / tánh bất động trọn vẹn (nên còn gọi là Bất Động địa),
nhưng không tự giải tan mình vào cái Niết bàn bất động ấy, mà vẫn hoạt động
trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức, dù thâm tâm bên trong thì vẫn bất động. Do
đó, đối với Đại thừa, đây là Niết bàn vô trụ xứ của hàng Bồ tát và Phật.

Con đường Đại thừa không phải là từ
bỏ, hủy diệt và thoát khỏi, mà là thấy được thực tánh của sinh tử đáng sợ (như
thấy lầm sợi dây ra con rắn) chính là Niết bàn (thực ra là sợi dây). Đó là con
đường của sự chuyển hóa, của sự tịnh hóa, của sự chuyển thức thành trí. Thay vì
từ bỏ, hủy diệt và thoát khỏi năm uẩn, thì Đại thừa thấy bản tánh của năm uẩn
là tánh Không, tức là Niết bàn, tức là Như Lai Tạng. Kinh Lăng Nghiêm nói là
chuyển toàn bộ vũ trụ (năm uẩn, sáu nhập, mười hai xứ, mười tám giới, bảy đại)
về Như Lai Tạng. Nói theo Kim Cương thừa hay Mật thừa, Bồ tát chuyển hóa hay
tịnh hóa sắc thành bản tánh của nó tức là Phật Vairochana (Tỳ Lô Giá Na), thọ
thành bản tánh của nó là Phật Ratnasambhava (Bảo Sanh), tưởng thành Phật
Amitabha (A Di Đà), hành thành Phật Amoghasiddhi (Bất Không Thành Tựu) và thức
thành Phật Akshobya (A Súc). Cũng nói theo Kim Cương thừa hay Mật thừa, đối với
bốn đại, địa đại được đưa về bản tánh của nó là Phật Ratnasambhava, thủy đại
trở về Phật Akshobya, hỏa đại trở về Amitabha, phong đại trở về bản tánh của nó
là Phật Amoghasiddhi.

Như thế Bồ tát thành tựu được điều
mà kinh điển Đại thừa thường nói: Sinh tử tức Niết bàn. Và Niết bàn này là vô
trụ xứ Niết bàn, tức là Pháp giới của chư Bồ tát và chư Phật.

Con đường Bồ tát hạnh là con đường
vinh quang nhất nhưng cũng vô cùng khó khăn nhất. Chỉ một hạnh hy sinh do lòng
bi là đã thấy vĩ đại. “Phật đích thân công nhận rằng nó là một công trình tối
đại gian nan, một công trình tuyệt đối phi phàm. Kinh Bát Nhã Bát Thiên tụng
nói: “Bấy giờ Phật nói với Tu Bồ Đề: Đúng thế, đúng thế! Đấy thực là khó
khăn; đấy thực là vô cùng khó khăn. Đại Bồ tát tu tập tánh Không, trụ trong
tánh Không, đạt không tam muội nhưng không thủ chứng Thật Tế (tánh Không, Niết
bàn). Tại sao? Bởi vì Bồ tát phát đại nguyện tối thắng không rời bỏ chúng sinh;
nguyện dẫn chúng sinh đến cứu cánh. Sau khi phát những đại nguyện đó, Bồ tát
bước vào các Tam muội giải thoát môn, là Không, Vô tướng và Vô nguyện.

Nhưng bấy giờ Bồ tát không lấy đó mà
thủ chứng Thật Tế, vì Bồ tát được trang bị đầy đủ bằng Phương tiện xảo. Được hộ
trì bởi Phương tiện thiện xảo, Bồ tát biết rõ lúc nào nên thủ chứng Thật Tế,
trước khi đầy đủ hết thảy Phật pháp. Bồ tát quyết tâm không thọ hưởng kết quả
thực hành tánh Không của mình cho đến khi hết thảy chúng sinh thoát khỏi ràng
buộc và thống khổ”. (Thiền Luận, Triết học và tôn giáo trong Bát Nhã, DT
Suzuki, Tuệ Sĩ dịch).

Chúng ta thường thấy trong sách và
luận của Nam tông câu nói nổi tiếng: “Có khổ đau nhưng không có người khổ đau”
(Thanh Tịnh Đạo Luận của Buddhaghosa, Đức Phật và Phật pháp của Narada…). Người
Bồ tát cũng thực hành như vậy, nghĩa là để thoát khỏi mọi khổ đau của mình phải
thực hành vô ngã, tánh Không nhưng đến một lúc nào trên con đường Bồ tát, trong
mười địa, khi đã gần như không còn khổ đau, khi đã thanh toán được gốc rễ của
khổ đau, khi sự giải thoát của chính mình căn bản đã đạt được, Bồ tát lại vì
lòng bi mà nhìn trở lại những chúng sinh. Sự nhìn lại do lòng bi khiến Bồ tát
nghĩ rằng: “Tôi không khổ nữa, nhưng tôi không chịu nổi khi người khác đang
khổ; tôi không còn vết thương nữa, nhưng tôi không thể cho những người khác vẫn
mang vết thương”. Nói theo cách của Bồ tát Duy Ma Cật ở trên: “Tôi không có khổ
đau nhưng có người khác khổ đau. Tôi không bệnh nhưng có người khác bệnh”.

Thế nên, khi đã thực hiện được “Có
khổ đau nhưng không có người khổ đau”, Bồ tát lại tiến thêm nữa, “Không có khổ
đau nhưng có người khổ đau”. Vì tất cả là vô ngã và vô sanh, nên trong thực tế,
không có khổ đau ở đâu cả (chân lý tuyệt đối, tối hậu: tánh Không). Bồ tát chấp
nhận chân lý tuyệt đối ấy cho chính mình, nhưng không chấp nhận chân lý ấy cho
tất cả những người khác, yếu đuối hơn, mê mờ hơn. Bồ tát thấy rằng trong chân
lý tuyệt đối không hề có sự khổ đau ở đâu cả, khi vui khổ được mất tất cả đều
vô sanh, nhưng khi nhìn chúng sinh Bồ tát thấy rằng  chúng sinh vẫn ở
trong chân lý tương đối và trong chân lý tương đối ấy vẫn có sự khổ đau nơi mỗi
con người. Và Bồ tát không từ bỏ chân lý tương đối ấy, nghĩa là không từ bỏ
chúng sinh và sinh tử.

Cho nên, ở cấp độ cao, Bồ tát thấy
rằng “Không có sự khổ đau (chỉ có Niết bàn), nhưng có người khổ đau (vẫn có
sinh tử cho chúng sinh)”. Do đó chúng ta thấy với trí tuệ chúng ta có chân lý
tuyệt đối và tối hậu là tánh Không, và đại bi lại hoạt động trong chân lý tương
đối và quy ước là sinh tử.

Tạm
kết

Ở trên chúng ta đã nói qua về chỉ ba
điều trong ý nguyện và đường hướng của Bồ tát (Bồ đề tâm nguyện). Còn công việc
của Bồ tát (Bồ đề tâm hạnh) thì chưa được nói đến. Nhưng qua đó chúng ta có thể
thấy rằng sức mạnh và sự trụ thế lâu dài của Phật giáo nhờ rất nhiều vào con
đường Bồ tát (Bồ tát đạo). Sức mạnh và sự tự do của Bồ tát nhờ có đủ cả hai
cánh trí tuệ và đại bi như đã nói ở trên.

Con đường Bồ tát là con đường vĩnh
cửu, với những ý nghĩa vĩnh cửu, những phẩm tính vĩnh cửu, những công việc vĩnh
cửu và những an vui vĩnh cửu. Đó là con đường Phật giáo Việt Nam đã từng khởi
đầu cách đây gần 2.000 năm và đã không ít lần đưa đất nước đến những đỉnh cao.
Chẳng hạn, những vị vua đầu đời Trần, Thái Tông, Thánh Tông và Nhân Tông đều là
những người sống bằng tinh thần Bồ tát, nghĩa là cuộc đời họ là Bồ tát hạnh.
Bước vào thiên niên kỷ thứ ba, có lẽ con đường ấy vẫn đang khởi đầu cho một
thời đại mới, thời đại Đông phương và Tây phương hoàn toàn tiếp xúc và trao đổi
với nhau, thời đại toàn cầu hóa.

Và như vậy con đường Bồ tát lại có
một khởi đầu mới.
Mãi mãi khởi đầu.

Nguyễn
Thế Đăng
(Theo Nguyệt san Giác Ngộ)

 

Xem thêm: https://www.phaphay.com/phat-phap/

Nguồn: https://www.niemphat.vn/

Add Comment