Chính nghiệp

Chính nghiệp 1

Nghề
nghiệp thành công là kết quả được đào
luyện trong quá trình học hỏi.
Còn Chính Nghiệp là cách tu để giúp cho lối sống, có một kết quả giải thoát an lạc rõ ràng trong thân và
tâm của mình.

Thử thách lớn lao
trong cuộc sống của con người, là tìm được sự sống tương đối bình an và thư
thản trong mỗi ngày. Tuy nhiên, nếu cuộc sống quá phẳng lặng và thật bình yên,
thì những gì mang đến sự lo lắng cho con người, không còn là một triết lý của
cuộc sống.

Những khó khăn và thử
thách là những chủ đề bàn luận không dừng qua nhiều góc cạnh khác nhau trong
cuộc sống. Bởi vì cuộc sống là sự biến động, vô tận, không dừng và cũng là một
quá trình tìm kiếm không có giới hạn. Do đó chấp nhận va chạm với những gian
khổ và vượt qua được những thử thách đầy khó khăn, là một bản năng giúp cho con người khai
thác, cái khả năng đa dạng sẳn có bên trong của mình, khi đứng trước nghịch
cảnh.

Mọi sự cố gắng vượt
qua những chặng đường đấu tranh gian khổ trong cuộc sống, hầu như cũng đều được
đền đáp qua hình thức này hay hình thức khác, và thực chất của sự đền đáp này
là cái đã được xác định rõ, cái ý nghĩa thật mà người ta cần tìm, nhờ đó người
ta mới có thể cảm nhận được, những giá trị tận hưởng của hạnh phúc và những
chân lý bất định trong cuộc sống.

Cuộc sống luôn luôn
là như vậy, nó bắt con người phải chịu nhiều thử thách. Tuy nhiên nó cũng mang
lại những phần bù đắp cho con người, nếu người đó biết rõ ý nghĩa của nó không
bao giờ mang lại hạnh phúc hay đau khổ, mà thành qủa tốt đẹp do mình đạt được,
chính là nhờ vào bản thân cá nhân của chính mình, biết tự mình hoàn thiện qua
sự rèn luyện trong gian khổ và thử thách.

Trong cuộc sống thực
ra ai ai cũng đều mong muốn được hạnh phúc. Do đó theo tinh thần Phật học, Đức
Phật đã chỉ cho thấy cái nguồn gốc gây ra những nguyên nhân làm cho con người
mất hạnh phúc hay khổ và cái khả năng chấm dứt khổ trong Tứ Diệu Đế của Ngài.

Trong Bát Chánh Đạo,
Chánh kiến, Chánh tư duy được xem như là ý nghiệp và Chánh ngữ thuộc về phần
khẩu nghiệp. Do đó chữ Nghiệp được hiểu như: hành động tạo tác bị điều khiển
bởi tâm ý.

Chính nghiệp tiếng Phạn gọi là samyak-karmāntaḥ, viết theo mẫu: सम्यक् – कर्मान्तः, hay सम्यक्कर्म  samyakkarma  hoặc samyakkarmāntaḥ  सम्यक्कर्मान्तः.

Những hành động tạo ra đau khổ cho người lẫn thú vật, thí dụ như khi nóng giận, đánh đá, chửi bới, nguyền
rủa đều thuộc về tà nghiệp. Còn làm một hành động chân chánh có ý nghĩa bảo vệ,
xây dựng và chở che cho sự sống như : không sát sanh, không trộm cắp, không tà
dâm, không uống rượu cũng gọi là Chánh nghiệp.

Chữ Nghiệp do người Trung hoa dịch ra từ chữ Karma của phạn ngữ. Karma, कर्म , कर्मन, karman, có nghĩa là, hành vi, hành động, hoạt động, cách cư xử, tư cách, thuộc về
ý, miệng, và thân. Karma có động từ gốc là √कृ  kṛ. 

Khái niệm chữ Nghiệp trong đạo Phật dùng
để chỉ quy luật chung về nguyên nhân và kết quả. Bởi vì mỗi nghiệp làm dưới một
điều kiện nhất định, thì sẽ tạo thành một quả, phạn ngữ gọi là phala, फल có động từ gốc √ फल्phal có nghĩa, được, vỡ, phân chia, phản ánh, phát ra, chịu hậu quả, thành công.

Một nghiệp thiện hay bất thiện được hành
động theo ba cách: bằng thân, bằng tâm, và bằng lời, qua dòng tư tưởng. Do đó
khi con người có ý làm cái gì thì đã tạo nghiệp, không nhất thiết rằng việc làm
đó có xảy ra hay không.

Nghiệp làm con người tái sinh trong một
cuộc đời, nhưng hành động con người trong cuộc đời đó vẫn có sự tự do. Nghiệp
sinh ra hoàn cảnh, nhưng sự phản ứng đối với hoàn cảnh này lại nằm trong tay
con người.

Như vậy, mỗi hành động được thực hiện với
chủ ý là một hành động có khả năng sáng tạo. Do ý chí thúc đẩy hành động, tạo
thành một lực để làm chuyển động theo cái tiến trình bất tận của sự đổi thay
trong cuộc đời.

Nghiệp của mỗi người là hành động riêng của từng cá nhân và kết quả của những
nghiệp mà họ tạo ra, thì chính họ cũng là người thừa hưỡng phần qủa riêng này.
Nghiệp của mỗi người là kinh nghiệm riêng của từng người, cho nên không ai có
thể can thiệp vào để làm thay đổi những kết quả của nghiệp cá nhân được.

Một hành động sẽ không gây nghiệp, nếu nó
được thực hiện mà không xuất phát từ tham, sân, si. Chính vì không thông suốt
định luật nhân quả nghiệp báo này mà con người tự gây cho mình và xã hội biết
bao đau thương khổ luỵ, rồi lại đổ thừa cho trời đất hoặc gán tội cho tha nhân
 hay những điều kiện khách quan bên ngoài.

Trái lại khi người nào đã thấu rõ định luật nhân quả nghiệp báo này bằng sự tự
quan sát, tự chiêm nghiệm trong đời sống một cách sâu sắc, thì không những có
thể tự vượt qua khổ đau, tự hoàn thiện chính mình, mà còn đem lại nhiều lợi lạc
cho xã hội.

Trong Phật học, tạo nghiệp tốt không có nghĩa là chấm dứt vòng luân hồi. Muốn
thoát khỏi vòng này, thì phải từ bỏ cả hai tốt và xấu. Tóm lại Chánh Nghiệp là
hành động, việc làm chân chính, đúng với lẽ phải, phù hợp với chân lý, có lợi
ích cho người lẫn vật.

Người tu tập theo đúng Chánh nghiệp là người luôn luôn thận trọng, giữ gìn mọi hành động
của mình, để khỏi làm tổn hại đến quyền lợi, nghề nghiệp, địa vị, danh giá,
hạnh phúc, tánh mạng của người khác và bao giờ cũng biết tôn trọng lương tâm
nghề nghiệp của mình, luôn luôn hành động có lợi cho mọi người, mọi vật. Nếu
cần, có thể hy sinh quyền lợi hay tánh mạng mình để giải thoát nỗi đau khổ cho
người khác.

Muốn tu tập Chánh nghiệp được đạt đến kết qủa
cao, thì phải tu tập Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, một cách nghiêm túc,
ngoài ra nếu thích, ngồi thiền, niệm Phật, tụng kinh, trì chú, làm công
qủa, để giữ gìn thân, khẩu, ý, cũng là những việc làm đáng hoan
nghinh.

Chánh Nghiệp còn mênh mông vô tận, rất thú vị, cho nên thường
xuyên trau dồi học hỏi, theo một cách thức nào đó, vừa thích hợp với thời gian
và mình không còn sợ sai hay nghi ngờ những gì Phật đã dạy để thực hành trong
cuộc sống.

Từ đó, khi gieo hạt bắp, thì ta biết, sẽ
được những trái bắp  như ý. Bởi vì, tất cả những thành đạt đều phát xuất
từ sự siêng năng và chăm chỉ trong sự tu tập.

Chính nghiệp theo định nghĩa của Kinh Trung A Hàm:

“Này chư Hiền, thế nào là Chánh
nghiệp? Đó là khi vị Thánh đệ tử suy niệm về Khổ là Khổ, Tập là Tập, Diệt là
Diệt, Đạo là Đạo; hoặc quán sát về sự tạo tác trước kia của mình, hoặc học suy
niệm về các hành, hoặc thấy các hành là tai họa, hoặc thấy Niết bàn là tịch
tĩnh, hoặc khi bằng suy niệm không nhiễm trước mà quán sát tâm hoàn toàn giải
thoát, trong đó ngoài ba diệu hành thuộc thân, còn các ác hành khác nơi thân
đều viễn ly, đoạn trừ, không hành, không tạo tác, không tập hợp và không tụ
hội. Đó là Chánh nghiệp”…

Chính nghiệp theo định nghĩa của Kinh Đại Phương Đẳng:

“Thế nào là Chánh nghiệp? Nếu nghiệp
đen có quả báo đen, nghiệp trắng có quả báo trắng, nghiệp đen trắng có quả báo
đen trắng. Vì vậy không dám tạo tác. Nếu nghiệp không đen không trắng thì có
quả báo không đen, không trắng. Nếu có thể đoạn tận nghiệp thì nghiệp báo đình
chỉ. Đó là nghiệp mà Bồ tát y chỉ, tức siêng năng tu tập cái nghiệp vô biểu. Đó
là Chánh nghiệp”…

 

Trong Kinh Pháp Cú

Đức Phật dạy từ thiện nghiệp, con người dễ đi vào giải thoát hơn, hay cảm
nhận được hạnh phúc:

“Ý dẫn đầu các pháp,
Ý làm chủ, ý tạo,
Nếu với ý ô nhiễm
Nói năng hay hành động,
Khổ não bước theo sau
Như chiếc xe theo chân con vật kéo”. (Dhp. 1).

“…
Nếu với ý thanh tịnh (thiện)
Nói năng hay hành động
An lạc bước theo sau,
Như bóng không rời hình”. (Dhp. 2)

 Kính bút

TS Huệ Dân

 

Xem thêm: https://www.phaphay.com/phat-phap/

Nguồn: https://www.niemphat.vn/

Add Comment