Công đức và Phúc đức

Công đức và Phúc đức 1

Khi làm các Phật sự, chúng ta thường nghĩ là được
nhiều công đức và thường được tán dương đã làm được vô lượng công đức,
cho nên cứ tiếp tục làm hằng năm. Chúng ta hãy dành thời gian để tìm
hiểu một vấn đề khá quan trọng, đó là: “Công Ðức và Phúc Ðức khác nhau
thế nào?”

Ngày xưa, khi Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma từ Ấn Ðộ sang
Trung Hoa hoằng pháp, Ngài đến gặp Vua Lương Võ Ðế. Trong lúc luận bàn
đạo lý, nhà vua hỏi: “Trẫm một đời cất chùa, độ tăng, bố thí, cúng
dường, đúc chuông, tạo tượng, ấn tống kinh sách, như vậy có được công
đức gì chăng
?”.

Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma trả lời một cách rõ ràng
rằng: “Những việc làm ấy thực không có công đức gì cả!”.

Vấn đề này làm cho nhiều người thắc mắc,
không biết tại làm sao như vậy lại không có công đức gì cả? Bởi vì, theo
lịch sử ghi chép lại thì Vua Lương Võ Ðế xây cất hằng trăm ngôi chùa,
độ tăng chúng tu hành rất đông, thiết trai bố thí, cúng dường, đúc
chuông, tạo tượng, ấn tống kinh sách nhiều vô số kể.

Nhà vua suy nghĩ làm như vậy tức nhiên được
rất nhiều công đức, nhưng không ngờ khi đem vấn đề này ra hỏi, Tổ Bồ Ðề
Ðạt Ma trả lời: Không! Tại sao vậy? Có người không hiểu giáo lý nên giải
thích là: Vua Lương Võ Ðế không đích thân ra “công” thực hiện những
việc làm đó, chỉ sai người khác làm, nên không có “công đức” gì cả!

* * *

Thời gian sau đó, có người đem sự việc này
thưa hỏi Lục Tổ Huệ Năng và được Lục Tổ dạy như sau: Quả thực là không
có công đức gì cả. Vua Lương Võ Ðế vì không biết Chính Pháp, nên lầm lẫn
hai chữ “Công Ðức” và “Phúc Ðức“!
Nghĩa là cất hàng trăm ngôi chùa, độ tăng chúng tu hành rất đông, thiết
trai cúng dường, bố thí, đúc chuông, tạo tượng, ấn tống kinh sách, chỉ
là những việc làm “bên ngoài”, có ích lợi cho mọi người, những việc làm
cầu phúc, nên gọi là phúc đức.

Phúc đức có công năng giúp chúng ta giảm
thiểu nghiệp chướng, tiêu trừ quả báo, để được tai qua nạn khỏi, để được
may mắn và sung sướng trên đường đời, để bớt chướng ngại trên đường
đạo, chứ không giúp chúng ta thoát ly khỏi vòng trầm luân sinh tử. Phúc
đức có tính cách “hữu lậu” hay “hữu vi”, nghĩa là con người hưởng phúc
vẫn còn trong lục đạo luân hồi. Khi thụ hưởng hết phúc rồi thì bị đọa
lạc để đền trả quả báo.

Còn công đức là công phu tu tập “bên trong”,
có ích lợi cho chính mình, nhờ hành trì theo lời Phật dạy trong các
kinh điển, luôn luôn niệm Phật, giữ gìn giới luật, tu tập thiền định,
phát huy trí tuệ bát nhã. Nghĩa là chúng ta tu tập tam vô lậu học “Giới
Ðịnh Tuệ” và tam tuệ học “Văn Tư Tu”, nhằm mục đích cứu kính là: thoát
ly khỏi lục đạo sinh tử luân hồi.

Công đức có năng lực giúp chúng ta vượt qua
bể khổ sông mê, chóng đến bờ giác ngộ và giải thoát. Công đức có tính
cách “vô lậu” hay “vô vi”, nghĩa là không còn trong lục đạo sinh tử luân
hồi nữa. Công đức giúp con người chuyển hóa tâm tính từ phàm phu tục tử
trở thành bồ tát, thành Phật.

Chúng ta làm những việc như lập chùa hay góp
phần xây cất chùa, tham gia phát triển chùa, phát huy các sinh hoạt,
các hoạt động của chùa, của giáo hội, giúp cho mọi người khác có được cơ
sở để tu học, để hành đạo, giúp cho Phật giáo có cơ hội phát triển mạnh
mẽ hơn, rộng rãi hơn, vững chắc hơn, độ được nhiều người hữu duyên hơn
nữa.

Những việc làm này đem lại lợi ích cho nhiều
người như vậy, tất nhiên sẽ đem lại cho chúng ta thực nhiều phúc đức.
Còn riêng bản thân mình thì không biết tu tâm dưỡng tính, không học kinh
điển, không biết trì giới, không tu tập thiền định, không phát huy trí
tuệ bát nhã, cho nên tất cả việc làm trên đây chỉ là những việc làm bên
ngoài, có ích lợi cho nhiều người, nhưng không ích lợi cho bản thân mình
về phương diện giác ngộ và giải thoát. Tại sao vậy?

Bởi vì, tâm tham lam, sân hận, si mê
bên trong chẳng những không giảm bớt mà lại có chiều hướng tăng
thêm
, vô minh phiền não không tan biến chút nào mà lại có phần
dầy đặc hơn. Vì chấp chặt mình đã làm được bao nhiêu việc ích lợi như
vậy, dễ có mấy ai làm được như mình, nên tâm cống cao ngã mạn, phách lối
ngày một tăng thêm, mục hạ vô nhân, khen mình khinh người.

“Bản ngã” đáng lẽ ngày một tiêu mòn tới chỗ
“vô ngã” mới hy vọng đạt được đạo cả. Trái lại, bản ngã ngày một tăng
lớn thêm, con người không còn thích nghe lời khuyên bảo của bất cứ ai,
cứ chấp chặt định kiến sẵn có mà đi tới. Thậm chí có người chấp chặt
pháp tu của mình, không muốn thay đổi, không muốn nghe lời chỉ dẫn của
bất cứ ai, dù là bậc trưởng thượng, dù là thiện hữu tri thức, lại còn
dám tuyên bố: cho dù Ðức Phật Thích Ca thị hiện bảo họ đổi pháp tu đang
thực hành, họ cũng không nghe! Thậm chí nguy! Thậm chí nguy! Bởi vậy,
cho nên chư Phật Tổ dạy rằng: Những việc làm như vậy quả thực là không
có “công đức” chút nào cả, chính là nghĩa đó vậy!

Những việc làm khác như góp phần ấn tống
kinh sách cho người khác đọc, còn mình thì không đọc, góp phần bố thí
cúng dường, giúp đỡ người hoạn nạn, nghèo khó, nhưng không hiểu ý nghĩa
cao cả của những việc làm đó, lại sinh tâm cầu mong được “trả công bội
hậu” ở cõi thiên đàng sau này. Tất cả những việc làm đó chỉ tạo nên phúc
đức mà thôi.

Thí dụ như có người bố thí cho nhà nghèo,
hoặc cúng chùa một số tiền nào đó, với tâm mong cầu được trúng số độc
đắc, được buôn may bán đắt, được nhất bản vạn lợi, được thi đâu đậu đó,
được gia đạo bình an, được tình duyên may mắn, được vạn sự bình yên,
được muôn sự như ý, muốn gì được nấy. Như vậy, lòng tham lam tăng thêm
quá mức thì “làm sao có công đức được!”. Làm như vậy, chỉ có
phúc đức hạn chế theo số tiền đã bỏ ra mà thôi. Gieo nhân nhỏ thì chỉ
nhận được quả nhỏ, không thể khác được.

Nếu như bố thí, cúng dường mà tâm không mong
cầu gì cả, thi ân bất cầu báo đáp, cúng chùa để chùa có thêm phương
tiện sinh hoạt ích lợi cho mọi người, giúp người để cho người qua cơn
khó khăn, túng thiếu, không đắn đo, không suy nghĩ, không tính toán gì
thêm nữa, chúng ta sẽ bớt đi tâm tham lam, bỏn sẻn, tăng trưởng tứ vô
lượng tâm: từ, bi, hỷ, xả. Như vậy, những việc làm đó vừa ích lợi cho
người, vừa ích lợi cho mình. Nghĩa là vừa được phúc đức vừa được công
đức.

Chúng ta hãy tinh tấn làm tất cả những việc
thiện, rồi quên hết đi, không chấp chặt vào đó, để kể lể công lao, hay
mong cầu phúc báo về sau, tâm cầu danh của chúng ta sẽ bớt đi, tâm chấp
ngã cũng nhẹ hơn trước, thì những việc làm đó vừa ích lợi cho người và
cho mình, tạo nên phúc đức và công đức vậy.

Trong Kinh Ðại Bát Niết Bàn, Ðức
Phật có dạy: “Chư ác mạc tác. Chúng thiện phụng hành. Tự tịnh kỳ ý.
Thị chư Phật giáo
“. Nghĩa là chúng ta không làm tất cả các việc bất
thiện, không làm những việc ác, tránh những việc tổn người hại vật, cố
gắng làm tất cả những việc thiện, những việc ích lợi cho người khác,
nhưng đừng ghi nhớ, đừng chấp chặt vào những việc ích lợi đã làm, thì
tâm ý của chúng ta sẽ được thanh tịnh. Ðó là tu tâm dưỡng tính, đó là
điều cốt yếu chư Phật mười phương ba đời muốn dạy như vậy.

Thí dụ chúng ta đã làm những việc ích lợi
cho bất cứ ai mà chấp chặt vào đó thì tâm của chúng ta sẽ bực dọc, bất
an khi không được ai khen tặng hoặc không được ai đáp ứng như ý. Nếu như
quên đi những việc thiện đã làm, giúp đỡ người với tâm “thi ân bất cầu
báo đáp”, thì chúng ta sẽ yên ổn, bình an, tâm của chúng ta sẽ không
loạn động, không bực bội khi gặp phải người vô ơn.

Trong Kinh Tâm Ðịa Quán, Ðức Phật
dạy: “Tâm địa bình thì thế giới bình“. Nghĩa là tâm địa của
chúng ta bình an thì thế giới chung quanh chúng ta cũng bình an. Tâm địa
chúng ta không tham lam thì những người chung quanh khỏi lo canh chừng
đồ đạc. Tâm địa chúng ta không sân hận thì những người chung quanh khỏi
điếc lỗ tai, khỏi mỏi cái miệng, khỏi nhức cái đầu. Tâm địa chúng ta
không si mê thì những người chung quanh ăn ngon ngủ yên, khỏi lo khỏi
sợ. Kể gần thì có vợ chồng con cái, xa thì có bà con hàng xóm láng
giềng, các bạn đồng nghiệp trong sở làm, cũng được hưởng sự bình an.

Nếu chúng ta đạt được tâm bình an hiện đời,
thì ngay thế gian này chính là miền cực lạc, là cõi thiên đàng, đâu phải
đợi đến kiếp sau mới hưởng được, đâu phải đợi lời cầu chúc “sớm
tiêu diêu nơi miền cực lạc
“, hoặc “chóng siêu thăng lên cõi
thiên đàng
“, trên báo chí!

Cũng có câu: “Bình an dưới thế cho người
thiện tâm
“. Nghĩa là ở ngay tại thế gian này, người có tâm hiền
thiện thì đương nhiên được sự bình an trong tâm hồn. Bởi vì người thiện
tâm không phải bận tâm suy nghĩ phương cách, mưu kế hại ai, cho nên
không lo sợ bị ai hại, không phải bận tâm trừng phạt ai, cho nên không
lo sợ bị ai trừng phạt.

Sự bình an không do đấng nào ban cho cả,
không do cầu nguyện mà được. Sự bình an chỉ có từ thiện tâm mà thôi.
Ngược lại, người không có thiện tâm thì tự họ không có được sự bình an.
Rất là đơn giản. Rõ ràng là như thế, không nghi! Như vậy, chúng ta hiểu
rằng “phúc đức” rất cần thiết trong cuộc sống hằng ngày của chúng ta.
Nhờ phúc đức chúng ta qua được, giảm được những nghiệp báo, những chướng
nạn trong cuộc đời, cũng như những trở ngại trên đường tu tập. Chuyện
lớn hóa nhỏ, chuyện nhỏ hóa không. Ví như chúng ta có tiền tiết kiệm để
dành trả những nợ đã vay từ nhiều kiếp trước và kiếp này vậy. Tiền tiết
kiệm nhiều chừng nào thì mau dứt nợ chừng ấy.

Tuy nhiên, Ðức Phật có dạy chúng ta gieo
nhân làm phúc, tu phúc nhưng hãy hồi hướng những phúc đức đó, nguyện đời
đời được gặp Chính Pháp, được gặp thiện hữu tri thức, được nhắc nhở
việc tu tập, cho đến ngày được giác ngộ và giải thoát, chứ đừng mong cầu
hưởng quả phúc sau này. Tại sao vậy?

Bởi vì làm phúc thì hưởng phúc, nhưng đến
khi hết phúc thì bị đọa, cứ vẫn loanh quanh luẩn quẩn ở trong vòng sinh
tử luân hồi, chưa thoát ra được. Ví như mũi tên bắn lên không trung, khi
hết trớn, tức nhiên rớt trở xuống đất rất nhanh vậy. Chúng ta hãy thử
nhìn những người giàu có, những người quyền thế, những ông vua, những
ông hoàng, những bà hoàng, những quận nương, những công chúa đã và đang
thụ hưởng phúc báo, được giàu sang sung sướng, xinh đẹp tuyệt trần, danh
vọng tột đỉnh, vinh hoa phú quý, đến khi hưởng hết phúc báo, cuộc đời
của họ kết thúc bằng đủ mọi cách hết sức bi thảm. Luật nhân quả giải
thích được các hiện tượng đó của thế gian, đúng trong ba thời: quá khứ,
hiện tại, vị lai. Rõ ràng “mình làm mình hưởng, mình làm mình chịu“,
chứ không do một đấng thượng đế nào ban phúc giáng họa một cách tùy
tiện cả.

Trong Kinh Pháp Bảo Ðàn, Lục Tổ Huệ
Năng dạy rằng: “Trong tâm khiêm tốn là công. Ngoài hành lễ phép là
đức
“. Hay: “Nội cần khắc niệm chi công. Ngoại hoằng bất tranh
chi đức
“. Nghĩa là “bên trong” chúng ta phải chuyên cần vận nội lực
loại trừ những tâm niệm kiêu ngạo, tật đố, ngã mạn, ganh tị, đố kỵ,
khen mình khinh người, để đạt được tâm niệm khiêm tốn, hạ mình, nhún
nhường, tùy hỷ công đức. Ðồng thời, chúng ta cũng phải vận nội công để
khắc phục các tạp niệm, để tâm không còn có các vọng tưởng.

Mỗi khi tạp niệm, vọng tưởng khởi lên, chúng
ta liền giác ngộ, liền nhận biết và dừng ngay, không tiếp tục theo dòng
tâm thức, đi lang thang từ đông sang tây, từ quá khứ đến hiện tại và vị
lai, từ chuyện này đến chuyện khác. Như vậy chúng ta có được “công”.

Ðiều quan trọng cần biết là: chúng ta đừng
sợ có vọng tưởng, tạp niệm khởi lên trong tâm thức. Ai ai cũng có vọng
tưởng và tạp niệm. Chỉ sợ chúng ta không giác ngộ, không nhận biết kịp
thời, nên bị vọng tưởng, tạp niệm lôi cuốn, đi lang thang làm khách
phong trần, quên mất cố hương, từ bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp. Khi
dong ruổi theo các vọng tưởng, tạp niệm như vậy, tâm của chúng ta sẽ
loạn động với thất tình lục dục, tức là quên mất “bản tâm thanh tịnh
sẵn có của chúng ta.

Còn “bên ngoài” chúng ta thực hành lễ phép,
cung kính, tôn trọng tất cả mọi người, bởi vì mọi người ai ai cũng có
“Chân Tâm Phật Tính” như nhau, mọi người ai ai cũng có ưu điểm để chúng
ta học hỏi, noi theo, không phân biệt, không thành kiến, không kỳ thị,
không tranh cãi, không hơn thua, không thị phi, không ỷ mình là kẻ trên
người trước, kẻ có nhiều công lao, kẻ có nhiều tài năng, kẻ làm được
nhiều việc không ai bằng. Như vậy chúng ta được nhiều người thương mến,
gần gũi. Như vậy chúng ta có được “đức”.

Thêm nữa, người Phật Tử muốn có công đức thì
bên trong không có tâm chấp ngã, tâm chấp pháp, nói chung là tâm cố
chấp; bên ngoài hành động luôn luôn ngay thẳng, bình đẳng, công minh,
chính trực. Hãy phát tâm tìm học kinh điển, biết đúng Chính Pháp mà hành
theo, tránh chuyện tu mù, tu mò, để khỏi lạc sang tà giáo, ngoại đạo.
Công đức là ở “Pháp Thân”, phát sinh trí tuệ bát nhã, không do tu phúc,
không do làm những việc phúc thiện mà được.

Chúng ta ngày nay cũng hay lầm lẫn cho rằng
lập chùa, giúp chư tăng tu học, bố thí, cúng dường, làm Phật sự, đi chùa
lạy Phật là được nhiều công đức và tự hào rằng mình làm vô lượng vô
biên công đức, cần phải được tán thán, rồi chờ đến ngày được vãng sinh
về cõi tây phương cực lạc quốc của Ðức Phật A Di Ðà!

Chúng ta cần nên biết nếu chỉ niệm Phật A Di
Ðà sơ sơ, qua loa, rồi cầu mong vãng sinh về cõi tây phương cực lạc là
biểu hiện của tâm tham lam, tính lười biếng, làm ít muốn hưởng nhiều!
Muốn tu hành mà không chịu học kinh điển, không gần các bực thiện hữu
tri thức, nên chúng ta không rõ chư Phật dạy phải hành trì như thế nào
mới được vãng sinh.

Trong Kinh A Di Ðà, Ðức Phật dạy
rất rõ ràng cõi Tây phương cực lạc là nơi chỉ có các bậc bồ tát “nhứt
sinh bổ xứ”, tức là các bực “thượng thiện nhơn” sắp thành Phật, những
người hiền thiện bậc thượng, gặp gỡ nhau mà thôi. Những người còn đầy
dẫy tham sân si, đầy dẫy nghiệp chướng, đầy dẫy phiền não thì nhứt định
không thể nào đạt được cảnh giới đó. Không thể chỉ lấy có một chút ít
thiện căn phúc đức làm nhân duyên, để cầu nguyện về cõi cực lạc đó được.

Ví như người đeo nặng qua sông thì phải
chìm, không thể nổi được. Chứ không phải Ðức Phật A Di Ðà không có lòng
từ bi cứu độ chúng ta. Chư Phật có tâm đại từ đại bi muốn cứu độ chúng
ta, nên chỉ dạy các pháp môn tu học, các phương pháp, để chúng ta noi
theo đó mà tự mình tu tập, để tự được cảnh giới an lạc và hạnh phúc hiện
đời và vãng sinh mai sau.

Có người quan niệm “đới nghiệp vãng sinh”,
nghĩa là con người vẫn còn mang nghiệp chướng, nhưng nhờ biết niệm Phật A
Di Ðà, nên được Ngài thương xót cho vãng sinh về cõi tây phương cực
lạc, rồi tu tiếp sướng hơn. Ðiều này có vẻ “phe đảng” cũng như quan niệm
cứ chấp nhận rước thượng đế vào lòng thì sẽ được thượng đế cho về thiên
đàng, hưởng phúc đời đời, không cần biết đó là người như thế nào!

Thực ra, đạo Phật không có dạy như vậy. Nếu
thực sự muốn tu cho thành người tốt, thì chúng ta hãy tu ngay ở cõi đời
này, đừng hẹn. Còn mang nghiệp chướng nặng nề, tham giận kiêu căng, si
mê lầm lạc, nếu về tây phương, chỉ làm nơi đó ô uế mà thôi. Dù có được
về bên đó chăng nữa, không thấy thích hợp, cũng sẽ đòi về trở lại mà
thôi!

Sống với những người thế tục, chúng ta mới
cần phải tu, mới có cơ hội để tu. Chứ về bên đó gặp toàn người tốt thì
đâu cần phải tu nữa. Cũng như người còn nhiều phiền não quá, nhiều
nghiệp chướng quá, dù có được đưa vào chùa ở, mà không quyết tâm trì
chí, cũng khó mà tu được, có ngày cũng xuất, nếu không xuất thì sẽ gây
biết bao nhiêu việc đáng tiếc cho cảnh thiền môn!

Trong Kinh A Di Ðà, Ðức Phật cũng
dạy nếu có thiện nam, thiện nữ nào nghe được danh hiệu Phật A Di Ðà,
luôn luôn trì giữ danh hiệu đó trong tâm trí, lúc nào cũng niệm Phật,
nhớ nghĩ tới Phật, trong một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm
ngày, sáu ngày, cho đến bảy ngày, đạt được tâm yên không loạn. Khi thọ
mệnh hết, người như vậy giữ gìn được tâm không điên đảo, tức thời được
vãng sinh cõi nước tây phương cực lạc của Ðức Phật A Di Ðà. Tại sao vậy?
Bởi vì khi tâm của người đó luôn luôn niệm Phật, không còn lăng xăng,
lộn xộn, không còn loạn động vì các việc đối đãi thị phi, hơn thua, tốt
xấu, cho nên cảm ứng được cảnh giới tịnh độ của Ðức Phật A Di Ðà vậy.

Nói cách khác, tâm của người đó thấy mọi sự
đúng như thực, thấy mọi việc không còn điên đảo, gọi là “tâm bất điên
đảo”, cho nên người đó thấy được “Tự Tính Di Ðà, Duy Tâm Tịnh Ðộ”. Nghĩa
là nhờ tâm được thanh tịnh, bất loạn động, bất điên đảo, cho nên người
đó thấy được “Phật Tính”, tức là “Pháp Vô Sinh”, không còn sinh tử luân
hồi, tức đắc vãng sinh tây phương cực lạc.

Nếu còn nghiệp chướng nặng nề, tham giận
kiêu căng, si mê lầm lạc, nghĩa là tâm còn điên đảo, tâm còn loạn động,
làm sao vãng sinh được mà mong cầu! Cõi tây phương cực lạc hay cõi thiên
đàng là cảnh giới “bất tùy phân biệt”, bình đẳng tuyệt đối, chí công vô
tư, làm gì còn chia giai cấp có chín phẩm, ba hạng, thượng trung hạ,
như con người tưởng tượng cho thêm lộn xộn và phức tạp! Không thể lấy
tâm lượng phàm phu xét cảnh giới bồ tát!

Như vậy, cốt tủy của đạo Phật, không phải là
van xin cầu nguyện, cúng kiến lễ lạy cho nhiều, mà chính là lúc nào
cũng nhớ nghĩ tới hạnh nguyện của chư Phật, nói lời như Phật dạy, hành
động như Phật dạy, luôn luôn giữ gìn tâm ý thanh tịnh, bình an, yên
tĩnh, không loạn động, không điên đảo. Ðược như vậy, tam nghiệp hằng
thanh tịnh, chúng ta vừa có phúc đức vừa có công đức đầy đủ, phúc tuệ
trang nghiêm, tùy tâm mãn nguyện. Kinh sách có câu: “Phúc Tuệ Lưỡng Toàn
Phương Tác Phật”. Cứu kính của đạo Phật chính là nghĩa đó vậy.

Trong Kinh Tịnh Danh, Ðức Phật có
dạy:”Tâm tịnh thì độ tịnh“. Nghĩa là tâm có thanh tịnh, trong
sạch, yên tĩnh, chúng ta mới có thể sống trong cõi tịnh độ, tức là cảnh
giới thanh tịnh và an lạc được. Tâm có hiền thiện, ngay thẳng chân thật,
chúng ta mới sống trong cõi thiên đàng được. Bình an dưới thế cho người
thiện tâm. Rõ ràng là như thế!

Như vậy cõi tịnh độ ở ngay trong tâm của
chúng ta, ngay hiện đời, nếu như tâm của chúng ta không còn tham lam,
sân hận và si mê nữa. Ngày xưa, sau khi thành đạo, Ðức Phật Thích Ca
sống trong cảnh giới an lạc, cảnh giới tịnh độ, ngay hiện đời, ngay trên
cái thế giới gọi là ta bà khổ đối với mọi chúng sinh khác. Tâm của ngài
thanh tịnh, ở mọi nơi Ngài đều có thể sống yên tịnh được, dù trong tịnh
xá hay trong núi rừng, dù nơi vắng vẻ hay chốn đông người, tùy theo chỗ
ở thường an lạc.

Trên thế gian này, chung quanh chúng ta có
đủ hạng người, có đủ loại người. Có người tạo thuận cảnh dễ dãi, giúp đỡ
chúng ta tu tập, cũng có người tạo nghịch cảnh, gây phiền hà, khó khăn,
khổ đau, để thử thách công phu tu tập của chúng ta. Tất cả mọi người
đều là thiện hữu tri thức của chúng ta cả. Nếu ai ai cũng hiền thiện
hết, không ai làm phiền mình hết, làm sao biết chúng ta nhẫn nhịn được
tới đâu? Ví như người học sinh đi học, được thầy dạy cho kiến thức, được
bạn bè giúp đỡ, rồi cũng cần có vị giám khảo để kiểm tra trình độ, hạch
hỏi, thử thách, nếu vượt qua được, mới cấp văn bằng chứ.

Có câu chuyện hai con chim như sau: Một hôm,
con chim bồ câu thấy hàng xóm là con chim cú vọ sửa soạn dọn tổ đi,
liền hỏi: Chị định dọn đi đâu? Con chim cú vọ đáp: Dân ở đây hung ác
quá, mỗi lần gặp tôi, cứ lấy đá ném, lấy cây đánh, nên tôi định dọn về
phương tây ở, bên đó nghe nói dân chúng hiền thiện hơn. Mong vậy lắm
thay!

Con chim bồ câu bèn nói: Chỗ hàng xóm láng
giềng, tôi xin nói thực, chị đừng giận tôi nhé. Theo quan điểm của tôi,
nếu chị thành tâm, chịu khó sửa cái giọng kêu ghê rợn của chị, cho dễ
nghe hơn, thì chắc không còn ai ném đá, không còn ai lấy cây đánh chị
nữa đâu. Nếu như chị không chịu sửa cái giọng khiếp đảm khó nghe đó, thì
dù có ai rước qua phương tây, chị cũng không ở yên bên đó được đâu.
Thực như vậy đó!

Câu chuyện trên ngụ ý chúng ta nên xoay lại
quán chiếu, tu sửa tâm tính của chính mình, đừng nhìn ra ngoài trách cứ,
phê phán, chỉ trích người khác, thì cực lạc hay thiên đàng chính là
đây, hiện tiền ngay tại thế gian này, ngay trong tâm của mỗi người, rất
đơn giản, rất thực tế, không cần cầu nguyện, khỏi phải mơ tưởng viễn
vông, khỏi nhọc công, không phí sức, khỏi bị gạt gẫm, không cần tìm kiếm
đâu xa.

* * *

Tóm lại, vì không biết rõ đâu là Chính Pháp,
cho nên chúng ta không thể thực hành lời Phật dạy, một cách tường tận,
một cách đúng đắn, để thoát ly sinh tử luân hồi, thoát ly phiền não và
khổ đau. Trong Kinh Pháp Cú, Ðức Phật có dạy: “Hãy tự thắp
đuốc lên mà đi. Thắp lên với Chính Pháp
“. Nghĩa là mọi người phải
tìm hiểu, học hỏi Chính Pháp, đem ngọn đuốc trí tuệ của mình mồi với
ngọn đuốc trí tuệ Phật, bằng cách nghe giảng giáo lý, nghiên tầm kinh
điển, rồi tự suy nghĩ, ứng dụng trong cuộc sống hằng ngày, giữ gìn giới
luật, tu tập thiền định, phát triển trí tuệ bát nhã.

Nhờ giữ gìn giới luật nên tâm trí được thanh
tịnh và trí tuệ bát nhã khai mở. Ðó chính là tam vô lậu học “Giới Ðịnh
Tuệ” và tam tuệ học “Văn Tư Tu”, có khả năng đưa chúng ta đến chỗ giác
ngộ và giải thoát.

Kinh sách có câu: “Phúc Tuệ Lưỡng Toàn
Phương Tác Phật
“. Nghĩa là chúng ta hãy phát tâm bồ đề dũng mãnh,
làm tất cả những việc tạo phúc đức trong các dịp lễ thượng nguyên, trung
nguyên, hạ nguyên, và tất cả dịp nào tùy duyên, tùy khả năng, tùy hoàn
cảnh trong suốt năm, suốt đời. Ðồng thời chúng ta cũng làm tất cả những
việc tạo công đức như Văn Tư Tu, Giới Ðịnh Tuệ, để phát triển trí tuệ
bát nhã. Ðầy đủ “Phúc và Tuệ” chúng ta sẽ sống trong an lạc và hạnh phúc
hiện đời và về cõi Phật sau này, không nghi. Cũng như con chim có đủ
hai cánh sẽ bay thăng bằng và bay được xa.

Có câu: “Ai ăn nấy no. Ai tu nấy chứng“.
Ðó là lẽ công bằng tuyệt đối. Cũng vậy, thực rõ ràng “Mình làm mình
hưởng. Mình làm mình chịu
“. Vì thế cho nên, ngay từ bây giờ, chúng
ta hãy phát tâm, tự thắp sáng ngọn đuốc trí tuệ của mình, thường xuyên
về chùa lạy Phật, nghe thuyết pháp, tham dự các khóa tu học bát quan
trai giới, để được học Phật Pháp một cách tường tận, trong bầu không khí
tu học đầy đạo vị, không phân biệt người mới phát tâm, hay người đã
tham gia tu học từ lâu, chúng ta cùng hướng dẫn nhau, nương tựa nhau,
giúp đỡ nhau, trên bước đường tu giác ngộ và giải thoát.

Ðược như vậy, chúng ta có “Công Ðức và
Phúc Ðức
“, một cách viên mãn, một cách song toàn.

Xem thêm: https://www.phaphay.com/phat-phap/

Nguồn: https://www.niemphat.vn/

Add Comment