Duy Ma Cật sở thuyết kinh trực chỉ đề cương

Duy Ma Cật sở thuyết kinh trực chỉ đề cương 1

LỜI
TỰA
TẬP I

Kinh
Duy Ma Cật là bộ kinh thuộc hệ tư tưởng Đại thừa Viên
đốn, là thứ giáo lý mãn tự. Giáo lý kinh Duy Ma Cật dạy
cho mọi người về pháp môn giải thoát bất tư nghì. Hành
giả thực hiện được là thành Phật như đức Phật Thích
Ca và thập phương chư Phật đã thành. Ai có khả năng đoạn
sạch vô minh, trừ hết phiền não thì tức thân thành Phật
và cõi nước Phật hiển hiện ngay cõi đời này. Giáo lý
kinh Duy Ma Cật dạy rằng: Quả vô thượng Bồ Đề không phải
là cái hứa hẹn để cho mọi người mõi mòn hy vọng ước
mơ. Mà mọi người ai cũng có khả năng đạt đến bằng nghị
lực và trí tuệ của mình.

Trưởng
giả Duy Ma Cật là người bất tư nghì. Ngài thuyết bất tư
nghì pháp, trình diễn bất tư nghì cảnh, tập họp bất tư
nghì chúng, khiến mọi người phát bất tư nghì tâm, chung
qui tán thán bất tư nghì công đức của Phật. Quả vô thượng
Bồ Đề, Phật là mục đích đến, mà Bồ tát Duy Ma Cật
vận dụng vô số bất tư nghì sự để hướng dẫn cho mọi
người.

Giáo
lý Tiểu thừa có đề cập, phước báo nhơn thiên có nói
đến, nhưng nói nhơn thiên để phủ định phước báo nhơn
thiên. Đề cập Tiểu thừa để khiển trách họ về Niết
Bàn sở đắc.

Ba
lần hiện Tịnh độ nhằm phổ cáo với đại chúng về thần
lực bất tư nghì:

– Với
sức thần bất tư nghì của Phật nhãn, đại chúng trông thấy
cõi Tịnh độ ở ngay nơi Ta bà uế độ.


Với sức thần bất tư nghì của tuệ nhãn, đại chúng trông
thấy, ngoài Ta bà uế độ, còn có Tịnh- độ của Phật Hương
Tích rực rỡ trang nghiêm và xa thẳm.

– Với
sức thần bất tư nghì của tuệ nhãn họp cùng Phật nhãn,
đại chúng trông thấy Tịnh độ của đức Vô Động Như
Lai sáp nhập với uế độ Ta bà mà không có tướng rộng
hẹp, khiến cho đại chúng bừng tỉnh ngộ: Uế độ và tịnh
độ không rời cảnh giới này.

Bộ
kinh Duy Ma Cật, từ  Tây vức truyền sang Trung quốc, trước
sau có sáu nhà dịch:

1.-
Đời Hậu Hán (25-220 TL) Ngài Nghiêm Phật Điều dịch, nhan
đề: Cổ Duy Ma Kinh.

2.-
Đời nhà Ngô (221-280) cư sĩ Chí Khiêm dịch, nhan đề: Duy
Ma Cật Sở Thuyết Bất Tư Nghì Pháp Môn.

3.-
Đời Tây Tấn (265-317) Ngài Trúc Pháp Hộ dịch, nhan đề:
Duy Ma Cật Sở Thuyết Pháp Môn Kinh.

4.-
Ngài Trúc Pháp Lan dịch, nhan đề: Tỳ La Cật Kinh.

5.-
Đời Diêu Tần (344-413) Ngài Cưu Ma La Thập dịch, nhan đề:
Phật Thuyết Vô Cấu Xưng Kinh.

6.-
Nội dung tư tưởng các bản dịch đại thể không khác nhau
nhiều, nhưng ý nhị uyên thâm thì có sâu có cạn. Do vậy,
suốt quá trình dịch sử cho đến ngày nay, các tòng lâm Phật
học đều  ái mộ bản dịch với nhan đề: “DUY MA CẬT
SỞ THUYẾT KINH” của Tam Tạng Pháp sư  Cưu Ma La Thập.

Kinh
Duy Ma Cật Sở Thuyết, ở Trung Hoa xưa nay tiền bối sớ giải
rất nhiều. Ở Việt Nam ta, người dịch và giải trước sau
cũng không ít. Tuy nhiên, do tư-duy nhận thức khác nhau và góc
độ nhìn ngắm không đồng. Cho nên công trình phiên dịch
và sớ giải kinh  điển Phật, có lẽ là công trình sáng
tạo không ngừng, mới có thể đáp ứng yêu cầu cho nhiều
căn cơ đối tượng.

Phát
xuất từ quan điểm nhận thức đó, nhìn qua các bản dịch
tại nước ta, tôi thấy cần tham dự đóng góp kiến giải
Phật học của mình. Trước là “Ôn cố tri tân” đồng
thời cung ứng cho hàng Phật tử hữu duyên cùng đi trên con
đường đạo.

Kinh
“Duy Ma Cật Sở Thuyết” của Ngài Cưu Ma La Thập, sau khi
dịch ra tiếng Việt, tôi viết thêm phần “TRỰC CHỈ” ở
sau mỗi chương   hoặc sau mỗi đoạn, thay vì lời
sớ giải mà các tiền bối cổ kim thường làm.

TRỰC
CHỈ có nghĩa là chỉ thẳng, ý tứ tiềm ẩn, phân tích rõ
ràng nghĩa lý sâu xa bàng bạc ở kinh văn, nhằm hướng dẫn
cho người đọc nắm được trọng tâm, biết rõ chủ đích
từng bài pháp của mỗi vấn đề.

Nhưng
than ôi! 

Ý
Phật nhiệm mầu trông như mây phủ ở đầu non, đến được
đầu non mây xa tít.


thiền bảng lảng tưởng chừng trăng trôi mặt nước, hớt
tan mặt nước trăng sâu mù.

Do
vậy, không thể nào TRỰC CHỈ hết mọi mặt của ý kinh.
Cho nên tôi chọn nhan đề của công trình nho nhỏ này là:
“DUY MA CẬT SỞ THUYẾT KINH TRỰC CHỈ ĐỀ CƯƠNG”.

Tôi
hy vọng giáo án này, – tôi gọi là giáo án, vì những kinh
luận của tôi biên soạn nhằm để triển khai hướng dẫn
mọi người đệ tử Phật, học chánh pháp, hành chánh pháp,
sống theo chánh pháp và truyền bá chánh pháp chớ không chủ
trương đem tụng trước bàn thờ Phật. Giáo án này được
đến tay Tăng, Ni sinh trung cao Phật học các trường, tôi xem
đó là một cơ hội đóng góp phần nho nhỏ của mình trong
sự nghiệp tục diệm truyền đăng.

Đối
với hàng Phật tử tại gia tín tâm đã phát khởi với chủng
tánh Đại thừa vốn có của mình, đọc học được kinh này
thì đường tu tập vững bước tiến lên, không một thế
lực ma quân tà đạo nào dám lấy mắt mà nhìn, đừng nói
chi chuyện manh tâm mê hoặc.

“Học,
học nữa và học mãi”

Học
cho đến khi:

– Bồ-Đề
quả thục, nhất chân phi sắc phi không.

– Bát
Nhã hoa khai, vạn pháp tức Tâm tức Phật.

 

Viết
tại HUỲNH MAI TỊNH THẤT

Ngày
16
tháng 12 năm 1991

Pháp

: Thích Từ Thông

Kính
đề.

PHÀM
LỆ

Bộ
kinh Duy Ma Cật Sở Thuyết gồm cả thảy mười bốn chương,
được chia thành hai tập. Tập Một có năm chương và tập
Hai có chín chương. Khi nghiên cứu bộ kinh này, kính mong quý
đọc giả lưu ý:

1.-
Phần nguyên văn được in chữ đứng. Đó là phần dịch đúng
nguyên bản của kinh văn.

2.-
Phần Trực chỉ in chữ nghiêng để cho đọc giả dễ phân
biệt. Phần này do tôi đóng góp bằng kiến giải của riêng
mình. Hy vọng phần Trực chỉ sẽ giúp cho đọc giả manh mối
để tư duy, gợi trí nhận xét khi các Ngài thiền tọa.

3.-
Đoạn kinh văn dài, có nhiều ý, tôi đánh số 1, 2, 3 v.v…
Đoạn có đánh số là có tiềm ẩn ý nghĩa sâu xa. Tôi phân
tích diễn giải phần ý nghĩa tiềm ẩn đó trong phần Trực
chỉ sau chương hoặc sau đoạn kinh văn đó.

Mấy
lời kính cáo, mong chư đọc giả lưu tâm. Việc tác phẩm
hoàn bị hay chưa, giúp ích cho đời được nhiều hay ít, thiết
tưởng không có gì đáng nói.

 Tôi
cho rằng tất cả chúng ta ngày nào còn sống trên cõi đời,
thì còn phải: “Học, học nữa và học mãi”  

Pháp
Sư : Thích Từ Thông

Cẩn
chí.

 

 

CHƯƠNG
THỨ NHẤT 

CÕI
NƯỚC
PHẬT

1.-
Lúc bấy giờ đức Phật ở vườn xoài địa phận thành Tỳ
Da Ly cùng với số chúng Tỳ Kheo và Bồ Tát đông đến hàng
ngàn người. Tất cả là những người đã trồng sâu cội
đức tri hành tự tại trong sự nghiệp giải thoát giác ngộ,
các vị gìn giữ chánh đạo, làm tường thành hộ pháp, truyền
bá chánh pháp là bạn lành của chúng sanh.

Thi
hành nhiệm vụ nối dòng Tam bảo, hàng phục ma quân chế ngự
ngoại đạo. Tâm hành của các Ngài thanh tịnh, xa lìa ngũ
cái, thập triền, niệm định không rời, biện tài vô ngại.
Nói pháp lục độ: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn,
thiền định, trí tuệ, các Ngài thành tựu viên mãn. Được
vô sanh nhẫn mà không khởi tâm sở đắc. Tùy thuận căn cơ
mà chuyển  pháp luân. Thấu rõ thực tướng các pháp,
biết suốt căn tánh chúng sanh. Công đức và trí huệ vượt
hơn đại chúng. Tướng hảo đoan nghiêm, uy đức vòi vọi.
Đức tin vững chắc thường mưa pháp nhủ độ sanh. Thuyết
phục nhơn tâm, truyền đạt pháp âm vi diệu. Thâm nhập chân
lý, thấy rõ vạn pháp duyên sanh. Dứt hết tà kiến không
kẹt hai bên. Hoặc lậu tam giới không còn, thuyết pháp như
sư  tử hống. Trí tuệ biện tài vô ngại. Được thập
lực, tứ vô sở úy, thập bát bất cộng pháp. Từng đóng
bít các cửa ác thú mà hiện thân trong ngũ đạo làm vị đại
y vương. Tùy bệnh chúng sanh mà cho thuốc pháp. Bản vị của
các Ngài vốn là những người đã thành tựu vô lượng công
đức trang nghiêm trong cõi nước chư Phật mười phương.

2.-
Danh hiệu của các Ngài là: Đẳng Quán Bồ Tát, Bất Đẳng
Quán Bồ Tát, Đẳng Bất Đẳng Quán Bồ Tát, Định Tự Tại
Vương Bồ Tát, Pháp Tự Tại Vương Bồ Tát, Pháp Tướng Bồ
Tát, Quang Tướng Bồ Tát, Quang Nghiêm Bồ Tát, Bảo Tích Bồ
Tát, Biện Tích Bồ Tát, Di Lặc Bồ Tát, Văn Thù Sư Lợi Pháp
Vương Tử Bồ Tát v. v…

Lại
có Phạm Thiên Vương Đế Thích, Thiên Long Bát Bộ. Có các
Tỳ Kheo, Tỳ Kheo Ni, Ưu Bà Tắc,Ưu Bà Di tham dự thính pháp
rất đông.

3.-
Hôm nay trong thành Tỳ Da Ly có vị trưởng giả tử tên là
Bảo Tích cùng với năm trăm trưởng giả tử, mỗi vị cầm
một cây lọng thất bảo đồng đến  đảnh lễ Phật,
rồi cùng dâng tất cả lọng ấy cúng dường Phật.

Do
uy thần Phật, năm trăm cây lọng hợp thành một. Cõi nước
trong ba ngàn đại thiên thế giới; các núi Tu Di, núi Tuyết.
Các biển cả, sông ngòi…mặt trời, mặt trăng vô vàn tinh
tú. Các Thiên cung, Long cung, Thần cung và cảnh giới chư Phật
thuyết pháp, nhập Niết bàn trong mười phương đều hiện
rõ trong cây lọng báu.

Đại
chúng trông thấy sức thần Phật, đồng tán thán: là một
sự kiện hi hữu. Đại chiêm ngưởng Phật sững sờ không
nháy mắt.

4.-
Bấy giờ trưởng giả tử Bảo Tích thay lời đại chúng trước
Phật, nói lên bài kệ phát xuất từ lòng ái mộ, tôn kính
vô biên:

Mắt
Phật đẹp như hoa sen xanh

Tâm
Phật hằng trụ trong Thiền định

Tịnh
nghiệp tích lũy từ lâu đời

Đại
chúng cúi đầu nguyền tu học.

Sức
thần Phật vượt quá nghĩ bàn

Hiện
rõ mười phương vô lượng cõi

Chư
Phật thuyết pháp hành Phật sự

Đại
chúng hết thảy được thấy nghe.

Pháp
vương, pháp lực vượt quần sanh

Thí
pháp, thí tài cho tất cả

Phân
biệt dạy rành các pháp tướng

Chân
lý đệ nhất nghĩa siêu tuyệt.

Thế
tôn tự tại trước các pháp

Đại
chúng đãnh lễ đấng pháp vương

Thuyết
pháp: không có cũng không không


nhân duyên Như Lai nói có.

Pháp
vốn vô ngã, vô thọ giả

Thiện
ác nghiệp không bao giờ mất 

Khi
xưa tịnh tọa cội Bồ đề

Được
giải thoát chứng thành đại giác

Diệt
tâm, diệt hành ý rổng rang.

Cho
nên chế phục hàng ngoại đạo

Ba
lần thuyết pháp cõi đại thiên

Pháp
luân ấy bản lai thanh tịnh

Trời
người chứng đạo nhờ nương đó.

Tam
bảo giờ hiện hữu cõi đời 

Phật
dùng pháp dược độ quần sanh

Bệnh,
lão, tử : đại y vương Phật 

Kính
lễ đức pháp hải vô biên.

Khen
chê bất động Diệu cao sơn 

Tốt
xấu xử dụng một tâm từ

Tâm
hành bình đẳng như hư không

Ai
nghe đấng nhân hảo : cung kính. 

Con
dâng Thế tôn cây lọng mọn

Tam
thiên thế giới hiện trong đây

Đại
chúng tán thán điều hi hữu

Chúng
con đãnh lễ đấng Từ tôn. 

Đấng
pháp vương nhiều người qui ngưỡng

Tâm
tịnh nhìn Phật thấy an vui

Tự
thấy Thế tôn ở trước mình.

Đấy
là sức thần bất cộng pháp

Phật
thuyết pháp đồng một pháp âm

Các
cơ tùy hiểu hợp cơ mình

Tự
nhủ: Thế Tôn vì ta nói. 

Đấy
là thần lực pháp bất cộng

Phật
thuyết pháp cùng một diệu pháp

Chúng
sanh tùy tánh hiểu khác nhau


hiểu khác đều được lợi ích 

Đấy
là thần lực pháp bất cộng

Phật
thuyết pháp đồng một pháp âm

Nghe
ra hoặc sợ hoặc vui mừng

Yểm
ly trần tục hoặc đoạn nghi.

Đấy
là thần lực pháp bất cộng

Kính
lễ đấng Thập lực viên mãn

Kính
lễ đấng vô sở úy viên mãn

Kính
lễ đấng bất cộng pháp viên mãn

Kính
lễ đấng đạo sư của chúng sanh

Kính
lễ đấng viễn ly triền phược

Kính
lễ đấng đã đến bờ bên kia

Kính
lễ đấng vượt khỏi thế gian

Kính
lễ đấng vĩnh ly đường sanh tử

Kính
lễ đấng vô sở y như hư không

Không
nhiễm thế gian như hoa sen

Hằng
trụ an nhiên hạnh không tịnh.

Sau
khi nói bài kệ xong, Trưởng giả tử bèn thưa với Phật:
“Bạch Thế Tôn, năm trăm trưởng giả tử nầy đã từng
phát tâm cầu Vô thượng Bồ Đề. Hôm nay chúng con muốn được
nghe Phật dạy cho chúng con về cõi nước thanh tịnh của Phật
và xin Phật dạy cho chúng con trên đường tu hành muốn xây
dựng cho mình cõi Phật thanh tịnh thì phải làm sao?

5.-
Phật dạy: Bảo Tích và các trưởng-giả tử hảy lắng nghe.
Hôm nay Như Lai sẽ dạy cho các Ông về vấn đề xây dựng
cho mình có được cõi Phật thanh tịnh.

Này
Bảo Tích: Mọi tầng lớp chúng sinh chính là cõi Phật thanh
tịnh của Bồ Tát. Vìsao? Vì Bồ Tát dựa trên công hạnh
giáo hóa chúng sanh mà có được cõi Phật thanh tịnh. Tùy
sự điều phục chúng sanh mà có được cõi Phật thanh tịnh.
Tùy sự bồi dưỡng trí tuệ cho chúng sanh mà có được cõi
Phật thanh tịnh. Tùy sự gieo trồng Phật chủng cho chúng sanh
mà Bồ Tát có được cõi Phật thanh tịnh.

 Này
Bảo Tích: Bồ Tát có được cõi Phật thanh tịnh là dựa
trên công hạnh làm lợi lạc cho chúng sanh. Ví như người
muốn xây cất lâu đài phải xây nền móng trên đất vậy.
Nếu không có đất, không thể xây cất lâu đài. Lại cũng
ví như hoa sen. Sen không mọc trên đỉnh núi đá cao trơ trọi.
Sen và hoa sen phải được mọc và trổ tự bùn lầy.

Bồ
Tát cũng như vậy, do làm lợi lạc cho chúng sanh mà Bồ Tát
có được cõi Phật thanh tịnh và nhận thấy cõi nước ấy.

Này
Bảo Tích, Ông nên biết:

Bồ
Tát xây cõi Phật cho mình cõi Phật bằng TRỰC TÂM; vì vậy
khi thành Phật không còn chất lòn cúi, nịnh bợ ở con người. 

Bồ
Tát xây dựng cõi Phật bằng THÂM TÂM; vì vậy khi thành Phật,
đầy đủ tất cả công đức lành. 

Bồ
Tát xây dựng cõi Phật bằng BỒ ĐỀ TÂM; vì vậy khi thành
Phật, Phật chỉ nói pháp Đại thừa. 

Bồ
Tát xây dựng cõi Phật bằng việc làm BỐ THÍ; vì vậy khi
thành Phật, viên mãn hạnh xã ly. 

Bồ
Tát xây dựng cõi Phật bằng công đức TRÌ GIỚI; vì vậy
khi thành Phật, thập thiện nghiệp đạo viên mãn. 

Bồ
Tát xây dựng cõi Phật bằng hạnh NHẪN NHỤC; vì vậy khi
thành Phật, có đủ 32 tướng hảo trang nghiêm. 

Bồ
Tát xây dựng cõi Phật bằng sức TINH TẤN; vì vậy khi thành
Phật, chỉ có phát triển công đức lành 

Bồ
Tát xây dựng cõi Phật bằng THIỀN ĐỊNH; vì vậy khi thành
Phật, thường bất loạn trong sự nhiếp tâm. 

Bồ
Tát xây dựng cõi Phật bằng TRÍ TUỆ; vì vậy khi thành Phật,
cõi nước chỉ có chúng sanh chánh định. 

Bồ
Tát xây dựng cõi Phật bằng TỨ VÔ LƯỢNG TÂM; vì vậy khi
thành Phật, từ, bi, hỷ, xã thành tựu viên mãn. 

Bồ
Tát xây dựng cõi Phật bằng TỨ NHIẾP PHÁP; vì vậy khi thành
Phật, có đầy đủ chánh pháp để hóa độ  chúng sanh. 

Bồ
Tát xây dựng cõi Phật bằng PHƯƠNG TIỆN; vì vậy khi thành
Phật, vận dụng cách độ sanh tùy ý. 

Bồ
Tát xây dựng cõi Phật bằng 37 PHẨM TRỢ ĐẠO; vì vậy khi
thành Phật, pháp Tứ niệm xứ, Tứ Chánh cần, Tứ Như ý
túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất Giác chi và Bát chánh đạo đầy
đủ. 

Bồ
Tát xây dựng cõi Phật bằng sự THUYẾT PHÁP, dạy cho mọi
người dứt trừ nhân BÁT NẠN; vì vậy khi thành Phật, không
còn cái nhân sanh trong tam đồ. 

Bồ
Tát xây dựng cõi Phật bằng TỰ GIỮ GIỚI HẠNH, KHÔNG CHÊ
BAI CHỖ SAI KHUYẾT của người khác; vì vậy khi thành Phật
không có cái từ phạm giới. 

Bồ
Tát xây dựng cõi Phật bằng THẬP THIỆN NGHIỆP; vì vậy
khi thành Phật không chết yểu, phạm hạnh toàn vẹn, lời
nói chắc thật, ngôn âm dịu dàng, quyến thuộc thân thương,
hòa giải khéo léo không có tật đố, không có phẫn nộ,
mọi cử chỉ hành động đều lợi ích cho chúng sanh. 

Như
thế đó Bảo Tích! dựa trên trực tâm mà phát hạnh, do phát
hạnh mà được thâm tâm. Do thâm tâm mà ý được điều phục.
Do ý điều phục mà việc làm đúng lời nói. Do lời nói và
việc làm đúng mà được hồi hướng. Do hồi hướng mà có
phương tiện. Do phương tiện mà hóa độ chúng sanh. Do hóa
độ chúng sanh mà có được cõi Phật thanh tịnh. Do cõi Phật
thanh tịnh mà thuyết pháp thanh tịnh. Do thuyết pháp thanh tịnh
mà trí tuệ thanh tịnh. Do trí tuệ thanh tịnh mà tâm thanh
tịnh. Do tâm thanh tịnh mà có tất cả công đức thanh tịnh.

Như
thế đó Bảo Tích! Bồ Tát muốn có cõi Phật thanh tịnh thì
phải tu sửa tâm mình thanh tịnh, tâm thanh tịnh thì Bồ Tát
có được cõi Phật thanh tịnh.

6.-
Lúc bấy giờ Ông Xá Lợi Phất khởi ý hoài nghi rằng:

Nếu
tâm Bồ Tát thanh tịnh thì có cõi nước Phật thanh tịnh;
vậy Thế Tôn ta xưa kia khi tu nhân, hành Bồ Tát hạnh có lẽ
nào tâm không thanh tịnh hay sao mà cõi Phật ngày nay không
thanh tịnh như thế này.

Phật
biết ý niệm hoài nghi của Ông Xá Lợi Phất, liền bảo:


Lợi Phất! Ông nghĩ thế nào? Mặt trời, mặt trăng há chẳng
sáng sao? Thế mà những người mù không thấy?

Ông
Xá Lợi Phất thưa: Bạch Thế Tôn, có. Mặt trời, mặt trăng
vẫn sáng nhưng người mù không thấy, lỗi tại mắt họ mù!

 Phật
dạy: Xá Lợi Phất! Do vì tội chướng của chúng sanh làm
cho chúng sanh không thấy cõi nước thanh tịnh trang nghiêm của
Phật; chứ không phải cõi nước của Phật không thanh tịnh
trang nghiêm.


Lợi Phất! cõi nước của Phật vốn thanh tịnh tại Ông không
thấy.

Bấy
giờ Trời Loa Kế Phạm Vương nói với Ông Xá Lợi Phất:
Ông đừng nghĩ như vậy, không nên cho rằng cõi Phật của
Thế Tôn ta không thanh tịnh. Chính tôi thấy cõi Phật Thích
Ca Mâu Ni thanh tịnh như cung của Trời Tự Tại;  như cõi
nước của chư Phật trong mười phương.

Ông

Lợi Phất nói:

Tôi
thấy cõi này gò nỗng, gai gốc, núi non, rừng rú và nhiều
những thứ cấu uế.

Loa
Kế Phạm Vương nói: Tại vì tâm của Ngài còn phân biệt
thấp cao cho nên Ngài thấy cảnh giới có thấp cao, gò nỗng.
Tại Ngài không xử dụng tuệ nhãn cho nên Ngài thấy cõi nước
Phật không thanh tịnh! Thưa Ngài Xá Lợi Phật! Bồ Tát nhìn
thấy tất cả chúng sanh bằng cái thấy bình đẳng. Phát xuất
từ thâm tâm thanh tịnh và xử dụng trí tuệ thanh tịnh thì
Ngài sẽ thấy cõi nước Phật thanh tịnh.

Bấy
giờ đức Phật dùng ngón chân ấn xuống đất, tức thì ba
ngàn đại thiên thế giới hiển hiện trang nghiêm đẹp đẽ
như muôn ngàn thứ trân bảo hợp thành, chẳng khác gì cõi
nước của đức Phật Bảo Trang nghiêm kết hợp bằng vô
lượng bảo trang nghiêm công đức.

Đại
chúng xem thấy hớn hở vui mừng và tán thán là việc thế
gian chưa từng có. Mọi người bỗng nhiên tự thấy mình đang
ngồi trên tòa sen báu.

Phật
bảo: Xá Lợi Phất! Ông đã thấy cõi Phật trang nghiêm thanh
tịnh ấy chưa?

Bạch
Thế Tôn! Ông Xá Lợi Phất thưa: Đúng vậy. Thế Tôn, việc
này từ trước đến nay con chưa từng thấy và cũng chưa được
nghe.


Lợi Phất: Cõi nước của ta thường thanh tịnh trang nghiêm
như thế. Chỉ vì người nghiệp chướng nặng nề, phước
đức mỏng manh mà thấy toàn những cảnh bất tịnh nhơ xấu.
Cũng như số chư Thiên cùng thọ dụng một bát quí đựng
cơm, vậy mà tùy phước đức của mỗi chư Thiên mà màu cơm
và mùi hương có khác. 


Lợi Phất! Nếu tâm của người thanh tịnh thì nhìn thấy
cõi nầy là cõi vô lượng công đức trang nghiêm thanh tịnh.

Đang
lúc Phật hiện cõi nước trang nghiêm thanh tịnh và dạy về
chân lý liễu nghĩa thượng thừa này thì Bảo Tích và năm
trăm trưởng giả tử cùng thể nhập được vô sanh pháp nhẫn.
Rất nhiều người phát tâm cầu vô thượng Bồ Đề; nhiều
hàng Trời, người tỏ ngộ pháp hữu vi vô thường, xa lìa
trần cấu, tâm ý rỗng rang trong sáng.

Đức
Phật thâu nhiếp thần lực, thế giới Ta Bà trở lại trạng
thái cũ, vẽ đẹp trang nghiêm thanh tịnh không còn.

TRỰC
CHỈ

1.-
Phật quốc là cõi nước Phật. Nói cách khác là cảnh giới
của người tỉnh thức hoàn toàn và giác ngộ chân lý trọn
vẹn.

Cõi
nước Phật không ở cao cũng chẳng phải ở xa. Cõi nước
Phật tại tâm người. Tâm người dứt hết các vô minh phiền
não, tâm người sáng suốt giác ngộ chân lý trọn vẹn và
sống đúng chân lý thì tâm đó là Phật. Người có tâm Phật
ở đâu thì cõi nước đó trở thành cõi nước Phật là Phật
quốc.

Thế
cho nên cõi Ta bà đối với chúng sanh là cõi chúng sanh phải
chịu nhiều khổ lụy bất bình. Vậy mà đối với đức Thích
Ca Mâu Ni Phật thì ngay nơi cõi Ta bà trở thành Phật quốc
đẹp đẻ trang nghiêm thanh tịnh: “Tùy kỳ tâm tịnh tắc
Phật độ tịnh”. Hể tâm người thanh tịnh thì có cõi Phật
thanh tịnh.

2.-
Danh hiệu của Bồ Tát tiêu biểu cho đức độ và hạnh nguyện
của vị Bồ Tát đó.

Đẳng
Quán Bồ Tát là vị Bồ Tát thường xử dụng quán trí nhận
thức bên mặt “bình đẳng” trên phương diện bản thể
chung cùng.

Bất
Đẳng Quán Bồ Tát là vị Bồ Tát thường xử dụng quán
trí nhận thức vạn pháp bên mặt “sai biệt” trên phương
diện hiện tượng tùy duyên.

Đẳng
Bất Đẳng Quán Bồ Tát là vị Bồ Tát vận dụng quán trí
toàn diện nhận thức vạn pháp cả hai mặt bản thể và
hiện trạng, bình đẳng lẫn sai biệt.

Tất
cả Bồ Tát qua danh hiệu, người học Phật có thể nhận
biết tổng quát về các Ngài…

3.-Phật
nhận 500 cây lọng của các trưởng-giả tử cúng dường.

Phật
dùng sức thần hợp 500 cây lọng thành một. Hiện tượng
này, nhằm dạy cho đại chúng bài pháp: “Tất cả là một”
và “Một là tất cả”.

Hiện
tượng vạn pháp duyên sanh nhiều vô lượng. Nhưng bản thể
của chúng thì chung cùng. Trong một cái nầy có chất liệu
của cái kia. Trong những cái kia có chất liệu của một cái
nầy.

Tam
thiên đại thiên thế giới và cõi nước của chư Phật mười
phương hiện rõ trong cây lọng. Sự kiện đó đức Phật muốn
dạy cho đại chúng bài pháp: “Nhất chơn pháp giới” và
“Pháp giới bất nhị”.

Khi
mê thì tứ Thánh lục phàm có ranh giới. Có khổ có vui. Nhưng
nhìn pháp giới qua Phật nhãn, qua sức thần Phật thì pháp
giới trở thành nhất chơn, xóa hết ranh giới phân chia và
ngăn cách.

Người
đời mơ ước cái “Thế giới đại đồng” nguyên tắc
chung cũng gần giống như vậy. Khi con người “Giác ngộ”
thân thương nhau như ruột thịt thì bờ cõi đất nước còn
ngăn ranh cắt giới để làm gì.

4.-
Các trưởng giả tử vì quá kính mộ, nói kệ tán thán Phật.
Việc làm đáng khen. Nhưng những lời lẽ tán thán đó, chẳng
khác nào trẻ con khen ngọc kim cương đẹp. Làm sao  lũ
trẻ hiểu hết được giá trị  màu sắc cúa ngọc kim
cương.

5.-Muốn
có cõi Phật thanh tịnh trước phải tịnh tâm. Tâm thanh tịnh
thì có cõi Phật thanh tịnh.

Muốn
xây dựng cõi Phật, Bồ Tát phải dựa nơi chúng sanh. Chúng
sanh là cơ sở để Bồ Tát xây dựng cõi Phật  cho mình.
Bồ Tát rời chúng sanh thì không còn đối tượng để thi
thố Bồ Tát hạnh.

Xây
lâu đài phải xây trên đất, cũng như hoa sen đẹp phải mọc
từ bùn.

Do
có chúng sanh, do sự điều phục và giáo hóa chúng sanh, Bồ
Tát xây dựng cho mình một lâu đài Phật quốc. Dựa trên
cơ sở chúng sanh Bồ Tát có thể thực hiện.

Trực
tâm, Thâm tâm, Bồ đề tâm, Tứ vô lượng tâm, Bố thí, Trì
giới, Nhẫn nhục,Tinh tấn, Thiền định, Trí tuệ… Đó là
chất liệu, Bồ Tát xây dựng nên cõi Phật.

6.-
Cõi Phật của đức Phật Thích Ca vẫn trang nghiêm thanh tịnh
không kém gì cõi nước của chư Phật mười phương. Thế
mà Ông Xá Lợi Phất lại thấy không thanh tịnh chẳng trang
nghiêm.

Cái
ví dụ người mù đứng dưới ánh nắng ban mai trước cảnh
trăm hoa đua nở mà chàng ta không thể thấy sáng, cũng chẳng
có gì đẹp đẽ tí nào.

Lỗi
tại ai? Mọi người đã rõ.

 

 

CHƯƠNG
THỨ HAI

PHƯƠNG
TIỆN

1.-
Bấy giờ thành Tỳ Da Ly có một vị Trưởng giả tên là DUY
MA CẬT. Trưởng giả Duy Ma Cật là người đã từng cúng dường
vô lượng chư Phật, gốc rễ lành trồng sâu, cho nên Ông
đã được vô sanh pháp nhẫn. Trong hàng Bồ Tát, Duy Ma Cật
là vị Bồ Tát biện tài vô ngại. Du hí thần thông. Hàng
phục các ma được vô sở uý. Thể nhập sâu sắc các pháp
môn. Trí tuệ siêu tuyệt. Phương tiện linh hoạt. Biết rõ
tâm tưởng của chúng sanh, phân biệt độn căn, lợi căn của
đối tượng. Ở trong Phật đạo từ lâu, đã thuần thục
thâm tín đại thừa. Việc làm vững chãi, suy nghĩ chín chắn,
trụ oai nghi Phật, tâm lớn như biển. Chư Phật ngợi khen,
hàng trời cung kính. Vì muốn độ người, Trưởng giả Duy
Ma Cật phương tiện ở thành Tỳ Da Ly.

2.-
Vì muốn cãm hóa những người nghèo, Ngài Duy Ma Cật bố thí
rất nhiều của cải. Để cảm hóa người phạm giới, Ngài
trì giới thanh tịnh. Để cảm hóa người nóng nảy, Ngài
biểu lộ hạnh kiên nhẫn ôn hòa. Để độ người giải đải,
Ngài thực hành tinh tấn. Để cảm hóa người loạn tâm, Ngài
thiền định nhất tâm. Để cảm hóa người vô trí, Ngài
hướng dẫn phát huy trí tuệ. Dù Ngài là bạch y mà phụng
trì luật hạnh của Sa môn. Dù ở tại gia mà không lưu luyến
tam giới. Giả có vợ con mà thường tu phạm hạnh. Hiện có
quyến thuộc mà thường thích viễn ly. Dù phục sức đồ
quí mà lòng cưu mang thân tướng hảo. Dù có ăn uống như
thế gian vị chính là vui trong thiền định. Có lúc tham gia
sòng bạc, cốt yếu nhằm để độ người. Lúc tùy thuận
ngoại đạo mà chánh tín không lung lạc. Đọc hiểu suốt
sách vở thế gian mà thường vui với giáo pháp Phật. Nhằm
cảm hóa mọi người mà giữ gìn chánh pháp. Kinh doanh được
tiền của, nhưng chẳng lấy đó làm vui. Dạo chơi khắp phố
phường để làm điều lợi ích chúng sanh. Có lúc tham gia
trị chánh, nhằm để cứu độ quốc dân. Có khi tham dự các
diễn đàn hội thảo, cốt lèo lái hướng dẫn mọi người
đi vào đường chánh đạo đại thừa. Vào học đường nhằm
để dẫn dắt tuổi thơ. Có lúc đến thanh lâu nhằm chỉ
rõ cho mọi người tai họa của ái dục. Vào quán rượu như
mọi người mhằm để nêu gương tự chủ.

3.-
Ở cương vị trưởng giả, Ông Duy Ma Cật gương mẫu trong
hàng trưởng giả, vì họ mà nói chánh pháp. Ở trong cư sĩ,
gương mẫu trong hàng cư sĩ, dứt hết các tham nhiễm tầm
thường. Ở trong dòng Sát đế lỵ, gương mẫu trong hàng Sát
đế lỵ, để dạy họ về đức nhẫn nhục. Ở trong trong
dòng Bà la môn, gương mẫu trong hàng Bà la môn dạy trừ bỏ
tánh ngã mạn. Ở trong nội chính đại thần, gương mẫu trong
hàng đại thần nhằm dạy họ học chánh pháp. Ở trong hàng
vương tử, gương mẫu trong hàng vương tử để dạy họ về
đạo lý hiếu trung. Ở trong nội quan, gương mẫu trong hàng
hoạn quan để dạy các cung tần về chánh tâm chánh hạnh.
Ở trong thứ dân, gương mẫu trong hàng thứ dân để hướng
dẫn họ làm điều phước thiện. Ở trong hàng Phạm Thiên,
gương mẫu trong các Phạm Thiên để dạy họ tu về thắng
tuệ. Ở trong Đế Thích, gương mẫu trong hàng Đế Thích nhằm
dạy họ về chân lý vô thường của hiện tượng vạn pháp.
Ở trong cương vị hộ thế thì gương mẫu trong hàng hộ thế
nhằm hộ độ nhân dân lạc nhiệp an cư.

Duy
Ma Cật trưởng giả vận dụng vô số phương tiện như thế
để đem lại lợi lạc cho chúng sanh. Và hôm nay Trưởng giả
lại hiện thân có bệnh.

  
Nghe Trưởng giả Duy Ma Cật bị bệnh, Quốc vương, đại thần,
trưởng giả, cư sĩ, Bà la môn, các vương tử và các thân
thuộc cả mấy ngàn người lần lượt đến tịnh thất của
Trưởng giả để vấn an. Nhân cơ hội có nhiều người đến
thăm bệnh, Duy Ma Cật trưởng giả thừa cơ thuyết chánh pháp:

4.-
Thưa chư nhân giả: thân nầy vô thường, không mạnh, không
dai, không bền, không chắc. Nó là cái thứ mau mục nát, dễ
rệu rã chẳng đáng tin cậy. Nó là cái khối chứa nhóm các
khổ đau, buồn phiền và nhiều bệnh tật.

5.-
Thưa chư nhân giả: người trí không tin cậy ở thân. Nó như
bọt nước không thể cầm nắm. Như bong bóng không tồn tại
được lâu. Như bóng nắng, do khát ái mà thấy có. Thân nầy
như cây chuối, do bẹ hợp lại thành cây, trong đó không có
cái nào rắn chắc. Thân nầy như huyễn từ điên đảo khởi
sanh. Thân nầy như mộng, do vọng kiến thực chẳng có gì.
Thân nầy như ảnh, do nghiệp duyên hiện sanh. Thân nầy như
vang, do nhân duyên mà có. Thân nầy như mây nổi phút chốc
tan mất. Thân nầy như chớp niệm niệm không ngừng. Thân
nầy vô chủ ví như núi. Thân nầy vô ngã ví như lửa. Thân
nầy vô thọ ví như gió. Thân nầy vô nhơn ví như nước.
Thân nầy không thật vì là sự tổ hợp của tứ đại. Thân
nầy vốn không, vì không có ngã, ngã sở. Thân nầy vô trí
như cỏ cây, ngói gạch. Thân nầy vô tác giả, do sức gió
nghiệp chuyển sanh. Thân nầy bất tịnh đầy dẫy uế trược
xấu xa. Thân nầy tạm bợ, rỗng không, dù có ăn mặc, tắm
rửa nhưng chung qui cũng tiêu ma hoại diệt. Thân nầy là tai
họa chứa nhóm một trăm lẻ một bệnh khổ sầu đau. Thân
nầy như giếng trên đất gò, bao nhiêu lão bệnh bức ngặt
thường xuyên. Thân nầy không cố định, vì không biết sẽ
chết lúùc nào. Thân nầy như rắn độc, như giặc thù, như
hội tụ hư không, do ngũ ấm, lục nhập, thập nhị xứ, thập
bát giới gá hợp mà thành.

6.-
Thưa chư nhân giả: phải sanh tâm khinh rẻ cái thân nầy và
nên sanh tâm ham mến thân Phật. Vì thân Phật là pháp thân.
Thân Phật từ vô lượng công đức trí tuệ sanh. Từ giới,
định tuệ, giải thoát và giải thoát tri kiến sanh. Từ từ,
bi, hỉ, xả sanh. Từ bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn,
thiền định, trí tuệ sanh. Từ phương tiện sanh. Từ lục
thông sanh. Từ tam minh sanh.Từ ba mươi bảy phẩm trợ đạo
sanh. Từ chỉ quán sanh. Từ thập lực, tứ vô sở úy, thập
bát bất cộng pháp sanh. Từ chỗ dứt hết tất cả các pháp
bất thiện, chứa nhóm tất cả thiện nghiệp sanh. Từ không
phóng dật sanh. Từ vô lượng pháp thanh tịnh như thế màsanh
thân Như Lai!

Thưa
chư nhân giả: muốn được thân Phật, muốn vứt bỏ cái
thân nhiều bệnh khổ của chúng sanh thì phải phát tâm vô
thượng Bồ Đề!

Trưởng
giả Duy Ma Cật vì những người đến thăm bệnh, nói những
pháp ứng cơ như thế,  khiến cho vô số nghìn người
phát tâm vô thượng Bồ Đề.

TRỰC
CHỈ

1.-
Tạo cái cớ qui tụ đông người đến để thuyết pháp, Bồ
Tát Duy Ma Cật không bệnh giả bệnh. Đó là phương tiện
về việc làm.

Pháp
được nói ở phẩm kinh nầy chưa đá động gì đến pháp
Đại thừa. Chỉ nói thuần pháp Tiểu thừa. Đó là phương
tiện về thuyết pháp. Hướng dẫn tư tưởng của đại chúng
từ suy nghĩ về thân để chán ngán xem thường thân vì sự
mục bở, sự bất tịnh, sự không bền chắc. Khuyến khích
mọi người hãy phát tâm ham mộ Phật thân. Thân Phật là
thân Kim cang bất hoại cô động bởi vô lượng công đức
và là sự thể hiện của Bồ Đề Niết Bàn vô thượng. Đó
là phương tiện về tư tưởng trong sự nghiệp giáo hóa độ
sanh.

2.-Qua
thành tích, Bồ Tát Duy Ma Cật có gần đủ những đức tính
từ bi, trí tuệ, phương tiện biện tài… của Phật.

Bồ
Tát Duy Ma Cật rõ là thành phần tích hạ bản cao. 

Thành
ý, chánh tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Đó
là đạo đức của các nhà chánh trị cổ kim, vì sự nghiệp
ích quốc lợi dân cho một nước. 

Bồ
Tát Duy Ma Cật ở giai cấp nào gương mẫu trong giai cấp đó.


vậy, chúng sanh mới nghe, mới tin, mới phục, thì lý tưởng
và mục đích của Bồ Tát mới hiện thực và tồn tại ở
trong lòng chúng sanh.

3.-
Muốn bắt hùm phải vào hang cọp. Muốn cảm hóa giới nào
phải đồng sự với họ. Đường lối đó Bồ Tát Quán Thế
Âm đã làm. Đó là “thủ đoạn” nhưng đem lại hiệu quả
cao.

Thực
ra “thủ đoạn” và “phương tiện” là một. Là thủ đoạn
hay là phương tiện, chỉ biết sau khi kết quả của việc
làm cụ thể hình thành.

4.-
Thân vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh.Thân như mộng, huyễn,
bào, ảnh, như ba tiêu, như Càn thát bà thành…Cần phải yểm
ly khinh sẽ nó.

Đó
là cái nhìn của chủng tánh Tiểu thừa. 

Chừng
nào nhận thấy được các đức Thường, Lạc, Ngã, Tịnh
của hiện tượng vạn pháp, mới là người đích thực chứng
ngộ chân lý.

Đó
là cái thấy của người chủng tánh Đại thừa.

5.-Yểm
ly thân nầy ham cầu thân Phật, chưa phải là người thể
nhập tri kiến Phật của chính mình.


vậy pháp mà Bồ Tát Duy  Ma Cật thuyết ở phẩm kinh nầy
là pháp phương tiện. 

 

 

CHƯƠNG
THỨ BA

THANH
VĂN

I.-
VẤN
ĐỀ THIỀN

Bây
giờ Trưởng giả Duy Ma Cật tự nghĩ: nay mình nhuốm bệnh
nằm một mình một giường và một thất, đức Thế Tôn là
bậc đại từ rồi đây thế nào cũng xót thương và sai người
đến thăm bệnh. Phật biết thâm ý của Trưởng giả Duy Ma
Cật, bèn gọi Ông Xá Lợi Phất đến và bảo:

1.-
Xá Lợi Phất! Thầy hãy đi thăm bệnh Trưởng giả Duy Ma Cật.
Hiện nay Ông ấy có bệnh.

Ông
Xá Lợi Phất thưa:

Bạch
Thế Tôn! Con xin Thế Tôn thương cho! Con không kham lãnh trách
nhiệm đến thăm bệnh Ông ấy.

Bạch
Thế Tôn! Vì trước đây có một hôm nọ, con đang ở trong
rừng ngồi thiền dưới một cội cây. Tình cờ Ông Duy Ma
Cật đến, nói với con rằng:

Thưa
Ngài Xá Lợi Phất! Ngài bất tất phải ngồi như thế mới
là ngồi thiền! Luận về việc ngồi thiền, thiền giả không
dính mắc tam giới mà thân tâm vẫn sinh hoạt mới là ngồi
thiền. Sinh hoạt trong oai nghi như bình nhật mà không rời
diệt tận định mới là ngồi thiền. Làm mọi việc như kẻ
phàm phu mà không xao lãng đạo pháp mới là ngồi thiền. Tâm
không cột vào trong mà cũng không tản mạn ra ngoài mới là
ngồi thiền. Trước bao nhiêu tà kiến, bao nhiêu dị thuyết,
bao nhiêu chuyện mê tín, hoang đường mà tâm không bị lay
động, không bị mê hoặc, cám dỗ, xiêu lòng, vững tâm trong
37 phần trợ đạo, thế mới là ngồi thiền. Không khởi tâm
đoạn trừ phiền não mà vẫn có Niết bàn, thế mới là ngồi
thiền.

Ngồi
được như thế thì đó là thứ thiền được Phật ngợi
khen và ấn khả, thưa Ngài Xá Lơi Phất.

Bạch
Thế Tôn! Ông Xá Lợi Phất thưa. Sau khi con nghe những lời
như thế, con lặng người ra gần như sảng sốt, chẳng trả
lời được với Ông Duy Ma Cật câu nào. Vì vậy con không
dám lãnh trách nhiệm đi thăm bệnh.

TRỰC
CHỈ

1.-
Thiền là pháp môn tu phổ biến trong đạo Phật.

Sau
Phật Niết Bàn, giáo lý Phật bị phân hóa. Tùy căn cơ nhận
thức, họ chia thành bộ phái. Từ bộ phái tiến tới chỗ
lập tông chỉ riêng. Từ đó có cái từ “Tông phái”.

Lập
trường của các Tông phái “Tiểu dị đại đồng”. Nghĩa
là bên mặt hình thức thì mỗi tông phái có khác. Nhưng tất
cả đều xử dụng chất liệu Thiền để phát huy hiệu quả
trên đường thăng tiến Bồ Đề vô thượng.

Tu
mà không có Thiền giống như ăn cơm không có muối. Dù có
được ăn, nhưng yếu đuối, èo uột, ngày chết chẳng còn
xa.

Người
thọ  tam qui, ngũ giới cũng phải học Thiền. Có Thiền
mới nhớ Phật, nhớ Pháp, nhớ Tăng. Có Thiền  mới chận
đứng những sai trái mình sắp làm.

Tu
Thập thiện nghiệp để hưởng phước báu người, Trời,
cũng phải học Thiền, tham thiền.

– Sơ
thiền, tham đề tài “Ly” cấp I.

– Nhị
thiền, tham đề tài “ĐỊNH”.

– Tam
thiền, tham đề tài “LY” cấp II.

– Tứ
thiền, tham đề tài “XÔ…

Đó
là quá trình hành thiền của Thiên thừa Phật giáo.

Để
được A LA HÁN quả, thiền phải tích cực hơn nhiều. Phải
thường xuyên liên tục để thu nhiếp tâm và làm chủ tự
tâm. Vì vậy Ngài Xá Lợi Phất say sưa trong tỉnh tọa ở
mé suối ven rừng. Ngài Duy Ma Cật có dịp gặp gỡ luận đàm
thiền vị.

Ba
mươi bảy phần trợ đạo là đề mục thiền của hàng Thinh
Văn tham tọa:

-TỨ
NIỆM XỨ:

 1.-
Quán
thân bất tịnh.

2.-
Quán
thọ thị khổ.

3.-
Quán
tâm vô thường.

4.-
Quán
pháp vô ngã.

 

 

  

 


TỨ CHÁNH CẦN:

 1.-
Việc
ác chưa sanh cố gắng ngăn chận.

2.-
Việc
ác đã sanh cố gắng dứt trừ.

3.-
Việc
thiện đã sanh cố gắng phát triển.

4.-
Việc
thiện chưa sanh cố gắng phát khởi.

 

 

  

 


TỨ NHƯ Ý TÚC:

 1.-
Mong
muốn điều thiện.

2.-
Tinh
tấn làm thiện.

3.-
Vui
làm được việc thiện.

4.-
Quyết
tâm không rời việc thiện.

 

 

  

 


NGŨ CĂN:

 1.-
Luôn
bồi dưỡng đức tin Tam Bảo.

2.-
Tinh
tấn trên đường đạo

3.-
Luôn
nhớ Phật, Pháp, Tăng.

4.-
Luôn
bồi dưỡng định lực.

5.-
Luôn
bồi dưỡng và nâng cao trí tuệ.

 

 

  

 


NGŨ LỰC:

 1.-
Tín
tâm kiên cố.

2.-
Tinh
tấn kiên cố.

3.-
Niệm
tưởng kiên cố.

4.-
Định
tâm kiên cố.

5.-
Tuệ
giác kiên cố.

 

 

  

 


THẤT GIÁC CHI:

 1.-
Trạch
pháp.

2.-
Tinh
tấn.

3.-
Hỉ.

4.-
Khinh
an.

5.-
Niệm.

6.-
Định.

7.-
Xã.

 

 

  

 


BÁT CHÁNH ĐẠO:

 1.-
Chánh
kiến.

2.-
Chánh
tư duy.

3.-
Chánh
ngữ.

4.-
Chánh
nghiệp.

5.-
Chánh
mạng.

6.-
Chánh
tinh tấn.

7.-
Chánh
niệm.

8.-
Chánh
định.

 

 
Bồ Tát thừa thi hành Thiền và phát huy Thiền theo quá trình
tiệm tiến qua Lục độ:

 

– LỤC
ĐỘ: 1.- Bố thí thiền.

2.-
Trì
giới thiền.

3.-
Nhẫn
nhục thiền.

4.-
Tinh
tấn thiền.

5.-
Thiền
định thiền.

6.-
Trí
tuệ thiền. 

 

Năm
độ trước thiền phát huy phước đức. Độ thứ sáu thiền
phát huy trí tuệ, để Bồ Tát hoàn thành Phước Huệ song
tu và chuẩn bị bước lên đỉnh cao Bồ Đề vô thượng.

Đến
Phật quả gọi là Như Lai thiền.

Huyền
Giác
thiền sư nói:

“Đốn
giác liễu Như Lai thiền 

Lục
độ
vạn hạnh thể trung viên”

Bồ-Tát
Duy Ma Cật luận về thiền và giới thiệu cho Ngài Xá Lợi
Phất về Như Lai thiền ấy.

Như
Lai thiền không nhất thiết phải “tọa” mới có “thiền”.
Như Lai thiền đi, đứng, nằm, ngồi đều hiệu quả như nhau.

Thiền
định có nghĩa “Tư duy tu”. Đối cảnh thì tư duy, có đề
tài thì quán chiếu. Không luận đứng, đi, nằm, ngồi.

Thiền
định còn có nghĩa là “Tĩnh lự”. Thiền giả “Tư lự”
một đề tài trong lúc tâm thật yên tĩnh.

Một
câu thoại đầu là một đề tài. Một công án là một đề
tài. Thoại đầu công án là đề tài cũ sao chép của người
xưa. Có đề tài lạc hậu không còn tác dụng trong thời hiện
đại.

Thiền
giả có thể sáng tác đề tài thiền trong mọi chốn nơi,
ở mọi hoàn cảnh và mọi thời gian.

Rút
lại, thiền là pháp tu phổ biến trong toàn bộ giáo lý Phật.
Học kinh, luật, luận rồi phải hành thiền mới đem lại
kết quả.Các tông: Thiền tông, Hoa Nghiêm tông, Pháp Hoa tông
triển khai thiền thiên nặng về pháp tánh.

Duy
Thức tông, Tam luận tông, Luật tông, Tịnh Độ tông, Chân
ngôn tông triển khai thiền thiên nặng về pháp tướng.

Do
vậy, chỗ ở của người tu sĩ Phật giáo được gọi “Thiền
môn”.

*****

 

II.-
VẤN ĐỀ THUYẾT PHÁP

Đức
Phật gọi Ông Đại Mục Kiền Liên bảo: “Mục Kiền Liên!
Thầy hãy đến thăm bệnh trưởng giả Duy Ma Cật”.

Ông
Mục Kiền Liên thưa:

“Bạch
Thế Tôn! Con không dám lãnh trách nhiệm đi thăm bệnh Ông
ấy. Bạch Thế Tôn! Trước đây có lần con đi vào thành Tỳ
Da Ly. Trong một thôn xóm nọ, con vì một nhóm cư sĩ nói pháp
cho họ nghe. Bây giờ trưởng giả Duy Ma Cật đến nói với
con rằng:

1.-
Thưa Ngài Mục Kiền Liên! Vì hàng bạch y cư sĩ nói pháp Ngài
không nên nói những pháp như vậy. Phàm nói pháp phải nói
pháp “NHƯ” của pháp. Bởi vì pháp không có tướng chúng
sanh, xa lìa sự cấu nhiễm về chúng sanh. Pháp không có tướng
thọ mệnh, xa lìa sanh tử ưu bi. Pháp không có tướng nhơn,
vì thời gian trước và thời gian sau không phải là một. Pháp
thường vắng lặng, vì dứt bặt các tướng. Pháp ly tất
cả tướng, vì nó không phải đối tượng sở duyên. Pháp
không có tên, không có lời để gọi, vì ngoài sự nghỉ ngơi
nói năng. Pháp không có gì để nói, vì nó ly các giác quán.
Pháp không hình tướng, vì nó như hư không. Pháp không như
trò giởn, vì nó hoàn toàn rỗng lặng. Pháp không phải là
ngã sở, vì nó rời ngoài ngã sở. Pháp không thể phân biệt,
vì nó vượt ngoài sự nhận thức đánh giá. Pháp không có
thể so sánh, vì nó không ở trong vòng đối đải. Pháp không
lệ thuộc vào nhơn, vì pháp tồn tại ở duyên. Pháp hoà đồng
pháp tánh, vì nó dung nhập với pháp tánh. Pháp tùy thuận
với pháp “Như”, vì nó không chỗ tùy. Pháp trụ nơi thật
tế, vì pháp bất đồng với bên hữu bên vô, bên đoạn bên
thường. Pháp không có giao động, vì nó không tương can với
lục trần. Pháp không có đến đi, vì pháp vốn là bất trụ.
Pháp thuận với không, tùy vô tướng, hợp với vô tác. Pháp
rời tốt xấu. Pháp không tăng nhiều, khônggiãm thiểu. Pháp
không có chỗ qui thú, nó vượt qua nhãn, nhỉ, tỷ, thiệt,
thân tâm. Pháp không có cao thấp, pháp thường trú bất động.
Pháp xa lìa tất cả sự nghĩ ngợi và thi thố.

Thưa
Ngài Mục Kiền Liên! Pháp như thế thì làm sao mà có thể
nói được?

Luận
đến chỗ cứu kính của vấn đề thuyết pháp thì người
nói không nói gì hết, không phô bày gì hết. Người nghe không
nghe gì hết và không được có một sở đắc nào. Ví như
ảo thuật sư làm ra người ảo, người ảo lại nói chuyện
ảo. Phải xác lập ý thức kiên định như thế rồi mới
nên thuyết pháp. 

2.-
Còn nữa, thưa Ngài Mục Kiền Liên! Người thuyết pháp phải
biết căn tánh của chúng sanh. Trước một hay nhiều đối
tượng phải đọc thấy rõ rằng căn tánh của họ lợi hay
độn, phải lấy tâm đại bi mà khen ngợi đại thừa. Phải
nghĩ rằng thuyết pháp là truyền bá, duy trì cho ngôi Tam Bảo
cửu trụ thế gian.

Thuyết
pháp nhằm để báo đáp thâm ân Phật. Phải lập chí như
vậy, rồi sau mới thuyết pháp. 

Bạch
Thế Tôn! Ông Mục Kiền Liên thưa. Sau khi trươüng giả Duy
Ma Cật nói thời pháp đó, có 800 cư sĩ phát tâm vô thượng
Bồ Đề.

Bạch
Thế Tôn! Con không đươc biện tài như thế, cho nên con không
dám lãnh trách nhiệm đi thăm bệnh trưởng giả Duy Ma Cật.

TRỰC
CHỈ

1.-
Pháp có pháp tánh và pháp tướng. Pháp liễu nghĩa, pháp bầt
liễu nghĩa, pháp đại thừa, pháp tiểu thừa.

Về
pháp tánh, khởi ý nghĩ đã sai. Mở lời nói không đúng. Bồ
Tát Duy Ma Cật gọi thứ pháp tánh đó là pháp NHƯ.

Như
có nghĩa là tự nó sao để vậy. Đừng nói càn đừng nghĩ
ngợi. Vì nó ly tất cả. Ly văn tự, ly ngôn thuyết, ly tâm
duyên.

Người
nói được pháp tánh phải là người thành thạo diễn đạt
nghĩa lý của chữ “BẤT” và “VÔ”.

Đại
Mục Kiền Liên là Thanh văn chủng tánh chưa hiểu diệu lý:
“…Chư pháp không tướng, BẤT sanh, BẤT diệt, BẤT cấu,
BẤT tịnh, BẤT tăng, BẤT giãm…”

Chưa
hiểu được: “VÔ sắc, VÔ thọ, VÔ tưởng, VÔ hành, VÔ
thức… VÔ nhãn, nhỉ, tỷ, thiệt, thân, ý…”

Người
thể nhập diệu lý đó, khi thuyết pháp thường thuyết pháp
NHƯ.

Bồ
Tát Duy Ma Cật muốn Ngài Đại Mục Kiền Liên truyền đạt
pháp Như cho mọi người. Có vậy, người nghe pháp mới được
lợi ích lớn.

2.-
Theo Bồ Tát Duy Ma Cật, nhìn đối tượng, nhận xét căn cơ
là một chi tiết không thể thiếu của một vị pháp sư.

Phải
quán cơ rồi mới nên thuyết pháp. Thuyết đúng đối tượng
pháp đó mới đem lại lợi ích cho người nghe. Người nói
thì đền đáp được thâm ân Phật.

*****

III.-
VẤN ĐỀ KHẤT THỰC

Đức
Phật gọi Ông Đại Ca Diếp đến và bảo: “Đại Ca Diếp! 
Thầy hãy đến thăm bệnh trưởng giả Duy Ma Cật, ông ấy
đang có bệnh”.

Ông
Ca Diếp thưa: “Bạch Thế Tôn! Con không dám lãnh trách nhiệm
đi thăm bệnh Ông Duy Ma Cật.

Bạch
Thế Tôn! Vì con nhớ trước đây, một hôm nọ con đi khất
thực trong một xóm nghèo, Ông Duy Ma Cật gặp và thuyết pháp
cho con một thời pháp dài rằng: “Thưa Ngài Đại Ca Diếp,
Ngài có tâm từ mà không phổ biến, chẳng bình đẳng đối
với chúng sanh. Ngài chừa nhà giàu, tìm nhà nghèo để mà
khất thực. Thưa Ngài Đại Ca Diếp! Hãy nên trụ ở pháp
bình đẳng, khất thực theo thứ tự của xóm làng. Không phải
vì ăn mà khất thực thì mới nên đi khất thực. Nhằm hoại
diệt cái thân tướng hòa hiệp này mà nhận lấy thức ăn
nắm vắt đấy. Phải xử dụng cái ý tưởng không thọ nhận,
mới thọ nhận thức ăn. Vào làng xóm, phải tưởng như đến
chỗ không người. Thấy sắc mà như đui. Nghe thanh như nghe
vang. Ngửi hương như hít gió. Nếm vị nhưng không phân biệt.
Thọ xúc như tri chứng. Biết tướng của các pháp như huyễn,
xưa vốn không sanh cho nên nay không có diệt.

Còn
nữa thưa Ngài Đại Ca Diếp! Có thể không cần rời bỏ bát
tà mà được bát giải thoát. Ngay nơi tà pháp mà thể nhập
chánh pháp. Một chút thức ăn có thể đem bố thí cho tất
cả, có thể cúng dường chư Phật và các hiền thánh, sau
đó mới đáng ăn!

Ăn
bằng cách như vậy, sẽ không có phiền não cũng không rời
phiền não. Không dụng ý nhập định cũng không dụng ý xã
định. Kkông trụ thế gian cũng không trụ Niết Bàn. Người
thí chủ không có phước lớn cũng không có phước nhỏ, không
thêm công đức cũng chẳng mất công đức. Đấy là con đường
vào Phật thừa đạo chơn chánh, không chờn vờn khập khểnh
ở cổ xe bé bỏng của Thanh văn.

Thưa
Ngài Đại Ca Diếp! Nếu được như thế mà ăn thì mới không
luống uổng thức ăn của người thí chủ cúng dường”.

“Bạch
Thế Tôn! Ông Ca Diếp thưa. Lúc con nghe bài pháp ấy rồi,
con được cái chưa từng có. Ngay lúc đó con sanh tâm cung kính
chư Bồ Tát một cách thân thiết chân thành. Vì con nghĩ rằng,
ngoài địa vị Bồ Tát, không  ai có thể có trí tuệ
biện tài thâm diệu như thế. Thảo nào người nghe ai mà chẳng
phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác. Từ đó về sau
con không khuyên dạy ai học tu theo pháp Thanh văn, Bích chi Phật
nữa. Vì lẽ đó con không kham lãnh trách nhiệm đi thăm bệnh
trưởng giả Duy Ma Cật”.

TRỰC
CHỈ

Khất
thực là một hạnh trong mười hai hạnh đầu đà. Sống đời
khất thực có thể phủi dũ được từng phần phiền não,
cởi mở được một ít mối manh ràng buộc. 

Giàu
nghèo là chuyện của xã hội, của chúng sanh, ai có phần nấy.

Nghèo
không hẳn khổ. Biết đạo đức, sống tri túc, nghèo cũng
có thể an vui  hạnh phúc.

“Thanh
bần
thường lạc” là chuyện có thật.

Giàu
không hẳn vui. Làm giàu bằng bất chánh, bất lương, bất
nhân, bất nghĩa. Bên ngoài giàu, bên trong lo âu sợ sệt, đau
khổ triền miên.

“Trọc
phú
đa ưu” là chuyện có thật.

Quan
niệm giàu là người đầy đủ  phước đức, được
hưởng nhiều hạnh phúc  là sai.

Quan
niệm nghèo  là  kẻ  đáng thương, cần giúp đở
để cho họ được hưởng  phần  nào  hạnh-phúc,  
cũng sai.

Người
tu sĩ, nhìn bằng tuệ nhãn không đánh giá khổ vui qua hình
thức sự  nghiệp nghèo, giàu.

BÌNH
ĐẲNG
là tiêu chuẩn đo đạo đức và quả chứng của người
đạo sĩ.

Từ
vô lượng tâm của Phật thể hiện tiêu chuẩn đó.

Phải
ban  bố  lòng từ bình đẳng như  ánh sáng 
mặt trời chiếu xuống trần gian cho sanh linh vạn vật.

Nhằm 
tạo  
phước đức cho  người nghèo, lòng từ
đó có đối tượng, ví như ánh sáng của chiếc đèn “pin”.

Ý
niệm năng độ, sở độ, hành vi năng thí, sở thọ còn, thì
quả Bồ đề vô thượng  hy vọng còn lâu.

Quan
điểm khất thực của Bồ Tát,  ăn là phụ, giáo 
hóa chúng sanh là chánh. Tạo phước cho chúng sanh là  phụ,
dạy cho chúng sanh thành Phật là chánh. Thuyết pháp cho chúng
sanh là phụ, đoạn trừ vô minh phiền não cho  mình là
chánh. Dạy cho chúng sanh thành Phật là phụ, bồi dưỡng trí
tuệ Phật cho mình là chánh.  

Pháp
liễu nghĩa thượng thừa không chủ trương cúng dường để
được phước đức.

Cũng
không chủ trương chú nguyện ban phước đức cho người cúng
dường.

Chủ
trương người thí, người nhận đều là “Xứng tánh khởi
tu”, “Tùy thuận pháp tánh”.

Người
thí và người nhận đều thành Phật. Đến đó mới đạt
mục tiêu

*****

IV.-
LẠI ĐỀ KHẤT THỰC

Đức
Phật gọi Ông Tu Bồ Đề bảo: “Hiện giờ trưởng giả
Duy Ma Cật đang bị bệnh. Tu Bồ Đề! Thầy hãy đi thăm bệnh
Ông ấy”.

1.-
Ông Tu Bồ Đề thưa: “Bạch Thế Tôn! Con không kham lãnh trách
nhiệm đi thăm bệnh Ông Duy Ma Cật. Bởi vì trước đây, có
lần đi khất thực con ghé nơi nhà Ông, lúc bấy giờ Ông
lấy bình bát của con sớt đầy một bát cơm và nói với
con rằng:

Thưa
Ngài Tu Bồ Đề: người khất thực ở nơi vật thực có tâm
bình đẳng, ở nơi các pháp cũng có tâm bình đẳng. Ngược
lại, ở nơi các pháp có tâm bình đẳng, ở nơi vật thực
cũng có tâm bình đẳng. Khất thực được như thế, người
khất thực mới xứng đáng nhận lấy vật thực của người
thí chủ cúng dường.

2.-
Thưa Ngài Tu Bồ Đề! Không cần đoạn trừ dâm nộ si, mà
cũng tùy thuận với dâm nộ si. Không cần hủy hoại thân
nầy mà vẫn tùy thuận tướng nhất (Nhất chơn pháp giới),
không cần diệt si ái mà cũng có giải thoát. Ngay nơi tướng
ngũ đạo mà được giải thoát. Không mở cũng không cột,
không học hạnh Tứ đế, không phải không học hạnh Tứ
đế. Không đắc quả, không phải không đắc quả. Không phải
phàm phu, không phải xa rời pháp phàm phu. Không phải Thánh
nhân, không phải không Thánh nhân. Dù thành tựu tất cả pháp
mà rời ngoài cái tướng của tất cả pháp.

Được
vậy, mới nên nhận lấy vật thực của người cúng dường.

3.-Còn
nữa, thưa Ngài Tu Bồ Đề! Không cần tìm gặp Phật. Không
cần nghe pháp Phật. Bọn lục sư ngoại-đạo: Phú Lâu Na Ca
Diếp, Mạc Già Lê Câu Xa Lê Tử, Xan Xà Dạ Tỳ La Chi Tử,
A Kỳ Da Xí Xá Khâm Bà La, Ca La Câu Đà Ca Chiên Diên, Ni Kiền
Đà Nhã Đề Tử… Bọn đó phải là thầy của Ngài. Thưa
Ngài Tu Bồ Đề! Ngài hãy y chỉ vào họ mà xuất gia. Họ
đọa địa ngục Ngài cũng đọa theo. Được vậy mới xứng
đáng tho ïnhận vật thực của thí chủ cúng dường. 

4.-
Còn nữa, thưa Ngài Tu Bồ Đề! Cứ xông pha trong các thứ
tà kiến, không cần tránh né để đến Niết Bàn. Phải ở
ngay trong bát nạn, không được không nạn. Nhập cuộc với
phiền não, xa lìa pháp thanh tịnh đi. Ngài được Tam muội
vô tránh, tất cả chúng sanh cũng được Tam muội đó. Người
thí chủ của Ngài không được gọi là gieo giống phước
điền, kẻ cúng dường Ngài đọa trong ba đường ác. Họ
là một cánh tay của bọn ma khuấy rối. Ngài cùng các bọn
ma và các trần lao không hơn kém. Đối với tất cả chúng
sanh phải có tâm oán. Chê báng Phật, hủy mạ pháp, không
làm Tăng và không cần Niết Bàn. Nếu Ngài được như thế
thì mới xứng đáng nhận lấy vật thực cúng dường.

Bạch
Thế Tôn! Ngài Tu Bồ Đề thưa: Khi nghe những điều đó tâm
trí con mờ mịt, không còn biết phải nói lời gì, và không
biết phải đối đáp ra sao. Con bèn để bình bát xuống và
muốn mau được đi khỏi nhà Ông Duy Ma Cật. Như đoán được
ý con, Ông Duy Ma Cật nói tiếp:

Thưa
Ngài Tu Bồ Đề! Ngài cứ nhận lấy bát cơm đi, đừng sợ.
Ngài nghĩ thế nào? Giả như đức Như Lai hóa hiện ra một
người, đem những điều như thế đàm luận với Ngài thì
Ngài có sợ chăng…?

– Không
sợ. Bạch Thế Tôn! Con đáp như thế.

Ông
Duy Ma Cật lại nói tiếp:

Tất
cả các pháp như huyễn, như hóa, Ngài không nên có ý sợ
sệt. Tất cả ngôn thuyết cũng là huyễn hóa. Bậc trí giả
không dính mắc văn tự cho nên không có gì, vì tánh của văn
tự vốn không. Hiểu được rằng văn tự vốn không có tánh
thì người đó được giải thoát. Vì cái tướng giải thoát
chính là tướng các pháp vậy.

Bạch
Thế Tôn! Ông Tu Bồ Đề thưa. Sau khi Trưởng giả Duy Ma Cật
nói thời pháp ấy rồi, có hai trăm vị thiên tử được pháp
nhãn thanh tịnh. Do vậy, con không kham lãnh trách nhiệm đi
thăm bệnh Ông Duy Ma Cật.

TRỰC
CHỈ

1.-
Ngài Đại Ca Diếp khất thực bỏ nhà giàu, tìm nhà nghèo
đã sai. Ngài Tu Bồ Đề bỏ nhà nghèo, tìm khất thực nhà
giàu lý lẽ cũng không đúng.

Bỏ
giàu tìm nghèo, biểu lộ tánh chấp trong việc làm. Bỏ nghèo
tìm giàu, biết đâu đó là thứ chứng bệnh phổ biến của
chúng sanh.


là tánh chấp hay là chứng bệnh cũng là cái không nên có
của một đạo sĩ.

Phải
vận dụng tâm BÌNH ĐẲNG, thực hiện tứ vô lượng tâm,
đi con đường “Trung đạo” noi dấu chân Phật mà đi.

Giàu
nghèo là chuyện của chúng sanh, người đạo sĩ không tham
dự lo cái lo đó.

Người
đạo sĩ có cái lo riêng, kể từ lúc thế phát xuất gia hành
đạo.

“…Nội
cần khắc niệm chi công. Ngoại hoằng bất tránh chi đức”.

Đó
là mối lo chánh đáng của một đạo sĩ.

2.-
Thâm ngộ “Thật tướng” là vấn đề then chốt đối với
một đạo sĩ.

Không
thâm ngộ “Thật tướng” dù có nói ”tu” thế nầy, “Đọan”
thế kia “Trừ” như thế nọ chỉ là hí luận.

“Bất
cầu vọng tưởng bất cầu chơn”.

Thâm
nhập thật tướng, người đạo sĩ đối diện với tất cả,
không né tránh, không trốn chạy, không dụng công Đoạn, không
gắng sức Trừ…

3.-
Gặp  Phật qua 32 tướng tốt; gặp Phật qua giọng thuyết
pháp hay, chưa hẳn đã gặp được Phật Như Lai.

Gặp
Như Lai Viên giác Diệu tâm mới thật gặp được Phật và
mới nghe được pháp Phật.

*****

V.-
LẠI VẤN ĐỀ THUYẾT PHÁP

Đức
Phật gọi Ông Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử đến bảo:

“Phú
Lâu Na! Ông hãy đi thăm bệnh Trưởng giả Duy Ma Cật”.

Ông
Phú Lâu Na thưa: Bạch Thế Tôn! Con không dám lãnh trách nhiệm
đi thăm bệnh Ông ấy.

Bạch
Thế Tôn! Trước đây vào một hôm nọ, con ở trong khu rừng
đại lâm, cùng với một số tân học Tỳ Kheo ngồi dưới
bóng mát của một cây cổ thụ. Lúc con đang thuyết pháp dạy
cho số Tỳ Kheo tân học, tình cờ Trưởng giả Duy Ma Cật
đến, nói với con:

Thưa
Ngài Phú Lâu Na! Trước hết Ngài phải nhập định quán xét
tâm tánh của các vị Tỳ Kheo, rồi sau đó hãy thuyết pháp.

Thưa
Ngài Phú Lâu Na! Ngài không nên đem thức ăn thiu bẩn mà đựng
trong chén ngọc đĩa vàng. Ngài phải biết ý niệm của các
vị Tỳ Kheo đang nghĩ tưởng gì, nhiên hậu sẽ thuyết pháp.
Không nên xử dụng một thứ nhìn đồng nhất rồi cho rằng
lưu ly và thủy tinh là một. Ngài chưa biết căn cơ chủng
tánh của chúng sanh thì đừng đem pháp tiểu thừa mà dạy
cho họ. Họ vốn không có ghẻ, đừng làm cho lở loét một
con người. Họ muốn đi đại lộ, đừng chỉ cho họ ngõ
hẹp quanh co. Ngài đừng đem nước biển đựng vào dấu chân
trâu. Đừng lấy ánh sáng mặt trời mà đọ với ánh lập
lòe của đom đóm.

Thưa
Ngài Phú Lâu Na! Các vị Tỳ Kheo ấy đã phát tâm đại thừa
từ lâu, khoảng giữa họ quên đi tâm ý đó. Tại sao Ngài
lấy pháp tiểu thừa hướng dẫn cho họ làm chi? Tôi nghĩ
rằng thứ trí tuệ của hàng tiểu thừa nhỏ nhen, cạn cợt
chẳng khác người đui. Họ không thể phân biệt được ai
độn căn, ai lợi căn trong số chúng sanh, tâm họ vốn còn
trong trắng. Bấy giờ Ông Duy Ma Cật liền nhập tam muội truyền
một lực tĩnh tâm khiến cho các vị Tỳ Kheo kia tự biết
túc mệnh của mình: Rằng họ đã từng trồng sâu gốc rễ
phước ở 500 đức Phật từ thuở xa xưa.

Mọi
người tự xoay về quả vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Thoạt nhiên họ liền trở lại tâm đại thừa vốn có. Lúc
bấy giờ các vị Tỳ Kheo ấy đảnh lễ dưới chân Ông Duy
Ma Cật.

Sau
thời pháp của Trưởng giả Duy Ma Cật, các vị Tỳ Kheo ấy
không còn thoái chuyển đối với ngôi vị vô thượng chánh
đẳng chánh giác.

Bạch
Thế Tôn! Ông Phú Lâu Na thưa. Qua sự kiện đó con suy nghĩ
rằng hàng Thanh văn không thể quán xét căn tánh của người
thì không nên thuyết pháp. Do vậy, hôm nay con không dám lãnh
trách nhiệm đi thăm bệnh Ông Duy Ma Cật!

TRỰC
CHỈ

Như
ta đã biết. Pháp có pháp liễu nghĩa và bất liễu nghĩa.
Có pháp Đại thừa và Tiểu thừa. Có pháp cứu cánh và pháp
phương tiện.

Thế
nên thuyết pháp cần phải quán căn cơ, nhìn đối tượng.

Hồi
tại thế, đức Phật thường vận dụng “Tứ tất đàn”
mỗi khi thuyết pháp.

Do
vậy,
pháp Phật có ngũ thừa.

Ngài
Phú Lâu Na thuyết pháp không phải sai pháp, nhưng sai đối
tượng.

Sai
đối tượng người nghe không có kết quả, pháp đúng trở
thành sai.

Chiếc
áo trắng khi đã nhúng chàm, chiếc áo sẽ không còn nhuộm
màu đẹp hơn được nữa.

Nhuộm
tâm hồn người ta bằng màu sắc tiểu thừa là làm bẩn một
tâm hồn trong trắng.

Cầu
thần, khấn quỉ, van cô, lạy cậu, truyền bá thứ đức tin
đó lại càng tệ lậu hơn nhiều. Người trí gọi đó là
mê tín.

Người
ta có khả năng đi đại lộ, không nên chỉ ngõ hẽm quanh
co. Chỉ sai đường làm chận trễ bước tiến của người
đi, ơn không ra ơn mà có thể còn là một cái tội.

Tất
cả chúng sanh đều có Phật tánh thì tất cả chúng sanh đều
có chủng tánh Đại thừa. Được hướng dẫn bằng pháp Đại
thừa thì hạt giống Đại thừa sẽ phát triển.

Tu
mà cầu phước báu là chưa biết giáo lý Phật.

Được
quả A La Hán là phước báu ư? Được Niết Bàn an lạc là
phước báu ư? Thành Phật là phước báu ư? Nói bậy!

Bồ
Đề, Niết Bàn là tự tánh vốn có của mọi người. Ở địa
vị Thanh văn nó không tăng thêm, ở phàm phu nó không giảm
bớt.

Nước
trong trăng hiện, mây đen tan trời xanh hiện, phiền não vô
minh hết, Phật tánh hiện.

Tất
cả quả vị “Chứng đắc” không ai ban cho. Bồ Đề, Niết
Bàn không do Phật thưởng.

Nói
phước báu là nhằm dẫn dụ những người sơ cơ. Đó là
phương tiện ở trong phương tiện.

Trâu
sắt không sợ tiếng rống của sư tử. Người nộm không
có ý bắt chim sẻ. Thể nhập thật tướng còn ngu si đâu
nữa để kỳ thị với bọn ngoại đạo lục sư.

Ngũ
uẩn thân hợp tan như mây nổi. Tham, sân, si chìm nổi như
bọt bèo. Thì ai tạo nghiệp, ai chịu khổ?

4.-
Không đoạn vọng, chẳng cầu chơn. Vì vọng chơn cả hai đều
vọng.


trong nước đừng nhọc công kiếm nước. Đứng trên non chớ
phí sức tìm non.


trong phiền não mà nhận lấy Bồ Đề. Ở trong sanh tử thọ
hưởng Niết Bàn tự tại.

Được
như thế, người đạo sĩ xứng đáng nhận lấy thức ăn.
Và mục đích khất thực mới đạt yêu cầu.

*****

VI.-
THUYẾT PHÁP YẾU

Đức
Phật gọi Ông Ca Chiên Diên bảo: “Ca Chiên Diên! Thầy hãy
đi thăm bệnh Trưởng giả Duy Ma Cật”.

1.-
Ông Ca Chiên Diên thưa: “Bạch Thế Tôn! Trước kia con đã
từng được nghe Phật nói pháp yếu cho các Tỳ kheo. Hôm nọ
con cùng các Tỳ Kheo hội họp lại, con bèn trùng tuyên diễn
nói lại về ý nghĩa vô thường, khổ ,không, vô ngã và tịch
diệt…Lúc bấy giờ Trưởng giả Duy Ma Cật đến, nói với
con rằng:

2.-
Thưa Ngài Ca Chiên Diên! Ngài không nên dùng tâm hành sanh diệt
mà nói pháp thật tướng. Thưa Ngài, các pháp không sanh không
diệt, đó là nghĩa vô thường. Ngũ ấm rỗng không, không
có điểm sanh khởi, đó là nghĩa khổ. Các pháp rốt ráo không,
không có nguồn gốc, đó là nghĩa không. Ngã và vô ngã không
hai, đó mới là nghĩa vô ngã. Các pháp xưa không sanh, nay không
diệt, đó là nghĩa tịch diệt.

Sau
khi Ông Duy Ma Cật diễn nói về những pháp yếu đó, các Tỳ
Kheo tâm được cởi mở. Vì vậy hôm nay con không dám lãnh
trách nhiệm đi thăm bệnh Trưởng giả Duy Ma Cật”.

TRỰC
CHỈ

Học
Phật phải tập nhìn vạn pháp qua hai mặt. Thuyết pháp cũng
vậy.

Pháp
có pháp tánh và pháp tướng. Chưa ngộ nhập “thật tướng”,
chỉ nói được pháp tướng. Thể nhập thật tướng mới
được pháp tánh.

Thấy
cái ta thật có, cho nên thấy cái ta vô ngã.

Muốn
ngã và ngã sở trường cửu nên thấy vạn pháp giai không.

Thấy
phiền não là thật, cho nên thấy tịch diệt Niết Bàn.


thường, khổ, không, vô ngã, tịch diệt, Ông Ca Chiên Diên
càng diễn giải tỉ mỉ chi ly, càng chứng tỏ tâm Ông bị
dính mắc càng nhiều.

Thật
tướng vạn pháp là CHƠN THƯỜNG. Vì các pháp sanh không thật
sanh. Các pháp diệt không thật diệt. Sanh diệt là hiện tượng
tùy duyên, nhìn bên mặt pháp tướng. Không sanh không diệt
là thật tướng các pháp nhìn bên mặt pháp tánh.


thật tướng “VÔ” tướng.


thấy vạn pháp sanh diệt VÔ THƯỜNG cho nên KHỔ.


thấy VÔ THƯỜNG, KHỔ cho nên thấy vạn pháp KHÔNG.


thấy VÔ THƯỜNG, KHỔ, KHÔNG, cho nên thấy vạn pháp VÔ NGÃ.


thấy VÔ THƯỜNG, KHỔ, KHÔNG, VÔ NGÃ, cho nên thấy TỊCH DIỆT
NIẾT BÀN cầu mong chứng đắc.

Nhìn
qua cái nhìn pháp nhãn của Thanh văn là thế.

Nhận
biết thật tướng vạn pháp không sanh diệt, cho nên biết
vạn pháp THƯỜNG.


biết
vạn pháp THƯỜNG, cho nên có CHƠN LẠC.


biết
vạn pháp CHƠN THƯỜNG, CHƠN LẠC, cho nên có CHƠN NGÃ.


biết
vạn pháp CHƠN THƯỜNG, CHƠN LẠC, CHƠN NGÃ, cho nên có
CHƠN TỊNH.

Với
tuệ
nhãn của Bồ Tát thì vạn pháp CHƠN THƯỜNG, CHƠN LẠC,
CHƠN NGÃ, CHƠN TỊNH.

Nhìn
vạn pháp CHƠN THƯỜNG, CHƠN LẠC, CHƠN NGÃ, CHƠN TỊNH thì
NIẾT BÀN TỊCH DIỆT còn dùng vào đâu mà cầu mong “chứng”
với “đắc”.

Nhằm
xiển dương “thật tướng vô tướng” của các pháp, Bồ
Tát Duy Ma Cật tung đòn “đối trị tất đàn” để khủng
bố tư tưởng tiểu thừa của Ông Ca Chiên Diên:

“Các
pháp không sanh không diệt là VÔ THƯỜNG”.

“Ngũ
uẩn giai không là KHỔ”

*****

VII.-
VẤN ĐỀ THIÊN NHÃN

Đức
Phật gọi Ông A Na Luật bảo: “A Na Luật! Thầy hãy đi thăm
bệnh Trưởng giả Duy Ma Cật”.

Ông
A Na Luật thưa: “Bạch Thế Tôn! Con không kham lãnh trách  
nhiệm đi thăm bệnh Trưởng giả Duy Ma Cật. Bởi vì con nhớ
một hôm nọ, con đang kinh hành, bấy giờ có vị Phạm Vương
tên là Nghiêm Tịnh và hàng ngàn Phạm Vương khác phóng hào
quang đến chỗ con, dập đầu làm lễ và hỏi con rằng:

– Thưa
Ngài A Na Luật! Thiên nhãn Ngài chứng được có thể quan sát
thấy được bao xa?

Bạch
Thế Tôn! Con trả lời với Phạm Thiên Vương rằng: “Thiên
nhãn của tôi trông thấy cõi Tam thiên Đại thiên thế giới
của đức Phật Thích Ca như xem trái quít để trên bàn tay”.

Bạch
Thế Tôn! Lúc bấy giờ Trưởng giả Duy Ma Cật đến hỏi
con:

Thưa
Ngài A Na Luật! Thiên nhãn của Ngài khi thấy có khởi tướng
tác ý hay không có tác ý? Giả sử có khởi tướng tác ý
thì giống như cái thấy của bọn người ngoại đạo được
ngũ thông. Còn như không khởi tướng tác ý là vô vi, lẽ
ra không có thấy.

Bạch
Thế Tôn! Lúc đó con chẳng biết nói gì, đành im lặng. Các
Phạm Thiên thì được sự khinh an chưa từng có. Họ bèn làm
lễ Ông Duy Ma Cật và hỏi:

– Thưa
Trưởng giả! Trên đời nầy có ai là người được chơn
thiên nhãn?

Ông
Duy Ma Cật đáp: Chỉ có Phật Thế Tôn là người được chơn
thiên nhãn, thường ở trong chánh định và thấy tất cả
cõi nước chư Phật không có tướng hai.

Bấy
giờ Nghiêm Tịnh Phạm Vương và năm trăm Phạm Thiên Vương
quyến thuộc đều phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác.
Tất cả lễ lạy dưới chân Ông Duy Ma Cật và thoạt nhiên
biến mất.


duyên cớ đó, con không dám lãnh trách nhiệm đi thăm bệnh
Trưởng giả Duy Ma Cật.

TRỰC
CHỈ

“Nhục
nhãn ngại phi thông

Thiên
nhãn
thông phi ngại

Pháp
nhãn
quan nhất thể

Tuệ
nhãn
liễu tri không

Phật
nhãn
thể dụng đồng”.

Thiên
nhãn của Ngài A Na Luật do tu chứng.

Thiên
nhãn
của các Phạm Vương do quả báo.

Thiên
nhãn
của Chư Thiên do “báo đắc”, xử dụng tự nhiên,
không cần tác tướng.

Thiên
nhãn
của Ngài A Na Luật do “chứng đắc”, khi xử dụng
có tác tướng.

Tác
tướng tức là khởi ý dụng công.


báo đắc hay chứng đắc, thiên nhãn vẫn là thiên nhãn.

Biết
rộng là tối cần, thấy xa chưa quan trọng

Thấy
để mà thấy. Dù thấy gần thấy xa cũng vậy thôi.

Thấy
và biết toàn diện, thấy biết tận nguồn gốc vạn pháp,
đó là CHƠN THIÊN NHÃN.

Với
CHƠN THIÊN NHÃN nhìn pháp giới “bất nhị” không có tướng
hai.

“Cần
phải tu học, nhìn pháp giới không có tướng hai” ấy.

Đem
thiên nhãn “chứng đắc” so sánh với thiên nhãn “báo đắc”
rốt cuộc chỉ là hý luận.

Mừng
rằng mình được thiên nhãn! Hãy coi chừng! Ngày trở thành
ngoại đạo tà kiến không xa.

*****

VIII.-
GIẢNG LUẬT

Đức
Phật gọi Ông Ưu Ba Ly bảo: “Ưu Ba Ly! Thầy hãy đi thăm
bệnh Trưởng giả Duy Ma Cật”.

Ông
Ưu Ba Ly thưa: “Bạch Thế Tôn! Con không kham lãnh trách nhiệm
đi thăm bệnh Ông Duy Ma Cật.

Bạch
Thế Tôn! Còn nhớ một lần nọ có hai vị Tỳ Kheo lỡ phạm
luật hạnh, họ lấy làm xấu hổ không dám đem việc ấy
ra thưa với Phật mà đến hỏi con rằng:

Thưa
Ngài Ưu Ba Ly! Hai chúng tôi đã lỡ phạm luật hạnh, chúng
tôi lấy làm xấu hổ, không dám đến thưa với Phật. Vậy
xin Ngài hãy chỉ giáo cho chúng tôi phải làm gì để xóa hết
được cái lỗi ấy.

Bạch
Thế Tôn! Ông Ưu Ba Ly thưa. Con liền như Luật mà giải đáp
rằng: Tứ khí thì tẩn xuất. Tội tăng tàn thì bất cộng
trú…

Bấy
giờ Ông Duy Ma Cật đến bảo con rằng: Thưa Ngài Ưu Ba Ly!
Ngài đừng làm tăng tội cho hai vị Tỳ Kheo kia. Hãy dừng
ngay cách phán xử luật nghi của Ngài đi! Thưa Ngài Ưu Ba Ly!
Tánh của tội không ở trong, không ở ngoài, không ở chặng
giữa. Đức Phật đã từng dạy: Tâm cấu cho nên chúng sanh
cấu. Tâm tịnh thì chúng sanh tịnh. Tâm cũng không ở trong,
không ở ngoài, không ở chặng giữa. Tâm vốn đã NHƯ, tội
cấu cũng NHƯ và các pháp cũng NHƯ. Tất cả không vượt ngoài
tánh NHƯ. Cũng như Ngài trong khi Ngài xử dụng cái tướng
của tâm giải thoát, vậy lúc đó tâm Ngài còn có cấu không?

– Không.
Bạch Thế Tôn! Con đáp như thế.

Ông
Duy Ma Cật giảng tiếp: “Tâm của tất cả chúng sanh cũng
giống như vậy, vốn không có tướng cấu. Vọng tưởng là
cấu, không vọng tưởng là tịnh. Điên đảo là cấu, không
điên đảo là tịnh. Chấp ngã là cấu, không chấp ngã là
tịnh.

Thưa
Ngài Ưu Ba Ly! Tất cả pháp sanh diệt cũng dừng, như huyễn
hóa, như điện chớp không có chờ nhau, cho đến trong một
niệm cũng không có trụ. Các pháp đều do vọng thấy như
chiêm bao, như ngấn nước giữa cơn nắng gắt, như trăng đáy
nước, như bóng trong gương. Tất cả đều do vọng tưởng
sanh ra. Người nào biết kỹ những việc đó mới là người
trì luật chơn chánh. Người nào hiểu rõ những điều đó
mới là người luận giải luật đúng ý Phật.

Bạch
Thế Tôn! Ông Ưu Ba Ly thưa. Sau giây phút lãnh hội pháp ngữ
hùng hồn siêu việt của Ông Duy Ma Cật, hai vị Tỳ Kheo bèn
tán thán: Ôi! thượng trí thay! Ngài Ưu Ba Ly không bằng được.

Đấy
mới là người trì luật tối thượng. Đấy mới là người
luận giải luật đệ nhất. Tuyệt diệu thay! Không còn ngôn
từ tán thán cho vừa.

Bạch
Thế Tôn! Ông Ưu Ba Ly thưa. Lúc đó con cũng cảm kích và xúc
động. Con nghĩ rằng: Ngoài đức Như Lai ra, chưa có một vị
Thanh Văn, Bồ Tát nào có biện tài lạc thuyết vô ngại của
một bậc trí tuệ thông đạt tuyệt luân như vậy.    

Bạch
Thế Tôn! Khi bấy giờ hai vị Tỳ Kheo kia dứt trừ mọi hoang
mang sợ sệt và dõng mãnh phát tâm vô thượng chánh đẳng
chánh giác. Vì duyên cớ đó, con không dám lãnh trách nhiệm
đi thăm bệnh Ông Duy Ma Cật.

TRỰC
CHỈ

Tội
lỗi không có tánh cố định. Cũng như phiền não vô minh không
có tánh cố định. 

Lỡ
làm sai, biết là sai thì tội đã tự giảm khinh. Biết tội
sanh tâm hổ thẹn, tội đó phải được xem như hết.

“Tội
tánh bổn không”.

Tội
không ở trong, không ở ngoài, không ở chặng giữa. Tâm tạo
tội cũng không ở trong, không ở ngoài, không ở chặng giữa.

“Tội
tòng tâm khởi tòng tâm diệt”.

Tâm
cũng NHƯ. Tội cũng NHƯ. Vạn pháp cũng NHƯ. Giải thoát cũng
NHƯ.

Tìm
tâm trong ba thời, không có: Tâm NHƯ.

Tìm
tội trong ba thời, không có: Tội NHƯ.

Tìm
pháp trong ba thời, không trụ: Pháp NHƯ.

Tìm
tướng giải thoát trong ba thời, không có: Giải thoát NHƯ.

NHƯ
tức là NHƯ NHƯ, cũng tức CHƠN NHƯ. Muốn đánh đổ phá hoại,
không phá hoại được. Muốn xây dựng bồi bổ, không bồi
bổ được. NHƯ là tánh viên mãn tự nhiên, tánh ly ngôn thuyết.

Tất
cả pháp sanh diệt không dừng, như huyễn như hóa. Tội cấu
cũng như vậy.

Không
linh hoạt trong nguyên tắc: KHAI, TRÌ, GIÁ, PHẠM vô tình tăng
tội cho người thêm nặng.

 

 

IX.-
VẤN ĐỀ XUẤT GIA

Bấy
giờ đức Thế Tôn gọi La hầu La bảo: “La Hầu La! Thầy
nên đi thăm bệnh Trưởng giả Duy Ma Cật”.

Ông
La Hầu La thưa: “BạchThế Tôn! Con không kham lãnh trách nhiệm
đi thăm bệnh trưởng giả! Bởi vì trước đây có lần các
trưởng giả tử trong thành Tỳ Da Ly đến chỗ con, cúi đầu
làm lễ và hỏi con rằng:

– Thưa
Ngài La Hầu La! Ngài là con của Phật, Ngài bỏ địa vị chuyển
luân thánh vương đi xuất gia hành đạo. Vậy xin hỏi việc
xuất gia đó có được lợi ích gì?

Bạch
Thế Tôn! Con vì các trưởng giả tử, nói rõ những cái lợi
và công đức của việc xuất gia. Bấy giờ Ông Duy Ma Cật
đến nói với con rằng:

1.-
Thưa Ngài La Hầu La! Ngài không nên nói về cái lợi và cũng
không nên nói về công đức của việc xuất gia. Vì sao? Bởi
vì không có lợi, không có công đức mới xuất gia. Bởi vì
xuất gia thuộc về pháp vô vi. Pháp vô vi không có lợi và
không có công đức.

Thưa
Ngài La Hầu La! Luận về xuất gia là không kia, không đây.
Không có cái giữa. Rời sáu mươi hai thứ kiến chấp mà ở
chỗ Niết Bàn. Là việc của người trí cảm nhận, bậc thánh
thường hành. Hàng phục các ma. Cứu độ ngũ đạo.Thanh tịnh
ngũ nhãn. Thành tựu ngũ lực. Làm chủ ngũ căn. Không não
hại người. Xa lìa xấu ác. Dẹp các ngoại đạo. Vượt khỏi
các giả danh. Ra khỏi bùn lầy phiền não. Không có người
buộc. Không có ngã sở hữu. Không có cái sở thọ. Lòng không
khát vọng. Giữ ý an vui. Thuận theo thiền định. Xa rời các
lỗi lầm. Nếu được như thế, chính là chơn xuất gia.

Tiếp
theo Ông Duy Ma Cật nói với các trưởng giả tử:

2.-
“Các vị hãy ở trong chánh pháp và nên xuất gia trong chánh
pháp. Bởi vì người sanh ra trong đời gặp được Phật rất
là khó”.

Các
trưởng giả tử nói:

– Thưa
cư sĩ! Chúng tôi nghe Phật nói rằng, nếu cha mẹ không cho
thì không được xuất gia.

– Đúng
vậy! Ông Duy Ma Cật đáp: Nhưng các trưởng giả tử đừng
lo! Khi nào các vị phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác
thì chính lúc đó được xem như xuất gia rồi và đã thọ
giới cụ túc rồi!

Khi
bấy giờ có 32 vị trưởng giả phát tâm vô thượng chánh
đẳng chánh giác.

Bạch
Thế Tôn! Vì duyên cớ ấy, con không dám lãnh trách nhiệm
đi thăm bệnh!”.

TRỰC
CHỈ

Xuất
gia mục đích không phải vì lợi, cũng không phải vì công
đức.

Lợi
và công đức, chỉ để nói với người có trí bậc hạ và
bậc trung. Bậc thượng trí vừa nghe, đã biết sai từ căn
bản.

1.-
Xuất gia là ra khỏi nhà tam giới, nhà phiền não, tham, sân,
si, mạn. Mục đích tối hậu là đến bảo sở Bồ Đề, Niết
Bàn vô thượng.

Xuất
gia là pháp vô vi. Không được nói lợi, không được đề
cập công đức.

Xuất
gia là việc của người trí cảm nhận, của bậc Thánh thường
hành.

2.-
Xuất gia là quí. Phải xuất gia theo chánh pháp, sống đúng
chánh pháp. Đó là:

“Thân
xuất
gia, tâm xuất gia”.

Xuất
gia đúng chánh pháp, sống không đúng chánh pháp. Đó là:

“Thân
xuất
gia, tâm không xuất gia”.

Các
trưởng giả tử chưa có điều kiện xuất gia hãy phát tâm
cầu vô thượng Bồ Đề.

Kể
từ phút phát tâm, xem như xuất gia rồi, thọ cụ túc giới
rồi. Đó là:

“Tâm
xuất
gia, thân không xuất gia”.

*****

X.-
NHƯ LAI BỆNH

Đức
Phật gọi Ông A Nan và bảo: “A Nan! Thầy hãy đi thăm bệnh
Trưởng giả Duy Ma Cật!”.

1.-
Ông A Nan thưa: “Bạch Thế Tôn! Con không kham lãnh trách nhiệm
đi thăm bệnh trưởng giả. Bởi vì trước đây, có lần Như
Lai trong người hơi có chút bệnh, phải cần dùng sữa. Con
mang bình bát đến đứng trước nhà của một đại Bà La
Môn để xin. Bấy giờ, Trưởng giả Duy Ma Cật đến nói với
con rằng:

– Thưa
Ngài A Nan! Ngài làm gì mang bình bát đến đứng ở đây sớm
thế?

Con
đáp rằng:

– Như
Lai trong người hơi có bệnh, cần phải dùng sữa, tôi đến
đây hóa duyên xin sữa cho Như Lai.

Ông
Duy
Ma Cật nói:

– Thôi!
Thôi! A Nan! Ngài đừng nói như vậy. Thân Như Lai là thân Kim
Cang, các xấu ác đã hết, chứa nhóm tất cả công đức thiện,
nào có bệnh tật, não hại gì?

Hãy
im! và đi đi! Ngài nói như vậy là phỉ báng Như Lai đó. Đừng
để cho người ngoài họ nghe được những lời bất kính
đó! Đừng để cho các hàng chư  Thiên đại oai đức
và các Bồ Tát ở các cõi Tịnh độ khác nghe được những
lời ấy!

2.-
Thưa Ngài A Nan! Chuyển Luân Thánh Vương chỉ có phước đức
chút ít mà còn không bệnh, huống chi Như Lai là thân Kim Cang
hội tụ vô lượng phước đức!

 Hãy
đi đi, Ngài A Nan! Đừng để chúng tôi phải chịu sự xấu
hổ đó! Hàng ngoại đạo Phạm Chí họ nghe được những
điều đó, họ sẽ nghĩ gì về một bậc thầy của chúng
ta!

Bản
thân một vị thầy có bệnh mà không thể tự cứu thì làm
sao cứu bệnh cho ai? Ngài hãy âm thầm đi nhanh đi. Đừng để
lộ ra cho người ngoài nghe biết!

A Nan!
Ngài nên biết rằng: Thân của Như Lai là pháp thân, không
phải thân do tư dục. Phật là bậc Thế Tôn vượt ngoài tam
giới. Thân Phật vô lậu, vì các lậu đã hết. Thân Phật
vô vi, không đối đãi với các số. Thân như thế thì còn
có bệnh gì?

– Bạch
Thế Tôn! Ông A Nan thưa. Lúc đó con rất là xấu hổ. Nghĩ
rằng con được hầu bên Phật há lại nghe lầm ư? Liền đó,
con tư nghe có tiếng trong không trung vọng đến: A Nan! Lời
cư sĩ như thế là đúng, nhưng vì Phật xuất hiện trong đời
ngũ trược ác thế thị hiện ra việc làm như vậy nhằm hoá
độ chúng sanh. A Nan! Ông hãy đi xin sữa, đừng có hổ thẹn!

Bạch
Thế Tôn! Ông A Nan thưa. Ông Duy Ma Cật có sức trí tuệ biện
tài vô ngại như thế, con không dám lãnh trách nhiệm đến
thăm bệnh.

Ngoài
mười vị đại đệ tử Thanh Văn này, còn có năm trăm vị
nữa ở trước Phật đến trình bày duyên cớ đã từng gặp
Ông Duy Ma Cật trước kia.

Tất
cả đồng xưng tán Trưởng giả Duy Ma Cật và đồng thưa
lên Phật, rằng không dám đi thăm bệnh.

 

TRỰC
CHỈ

1.-
Người Thanh Văn xử dụng “pháp nhãn” nhìn vạn pháp chỉ
thấy được pháp tướng.

Bồ
Tát nhìn vạn pháp bằng “tuệ nhãn”, biết suốt căn nguyên,
thấy tột pháp tánh.

Nhìn
pháp chỉ thấy “pháp tướng” thì nhìn Phật chỉ thấy
“Phật tướng”.

Thấy
“Phật tướng” thì rõ ràng Phật có bệnh, Ông A Nan đi
xin sữa là phải.

Nếu
chỉ biết có “Phật tướng”, tu sĩ dễ lạc “tà đạo”
không biết được Như Lai Phật.

2.-
Phải thâm nhập ngộ pháp tánh, mới nhận thức rõ pháp thân.

Pháp
thân Phật là “bản thể ”của ứng thân Phật.

Ứng
thân Phật là “tướng dụng” của pháp thân.

Pháp
thân biến nhất thiết xứ. Là thể bất sanh, bất diệt, vô
thỉ, vô chung.

Nhìn
bằng tuệ nhãn sẽ thấy pháp thân Phật không hề có bệnh.

Phải
hiểu Phật qua pháp thân mới thật hiểu Phật.

Ứng
hóa thân chỉ là công cụ phương tiện của Như Lai.

Nói
là: “tiếng vọng trong không trung” người trí phải hiểu
đó là “tiếng lòng” phản tỉnh của Ông A Nan qua những
giây phút tiếp thu hơi ấm lửa Đại thừa. Người khơi dậy
ngọn lửa trong đống tro tàn là Ông Duy Ma Cật.

Trở
về với “pháp tướng” nhớ “Phật tướng” ở tịnh
xá mà Ông A Nan phải tiếp tục đi xin sữa cho Phật dùng!

 

CHƯƠNG
THỨ TƯ

BỒ
TÁT

I.-
VẤN ĐỀ THỌ KÝ

Bấy
giờ đức Phật gọi Bồ Tát Di Lặc bảo: “Di Lặc! Ông hãy
đi thăm bệnh Trưởng giả Duy Ma Cật!”

Bồ
Tát Di Lặc thưa: “Bạch Thế Tôn! Con không kham nhận trách
nhiệm đi thăm bệnh trưởng giả! Bởi vì trước đây, trong
một hôm nọ con vì Đâu Suất Thiên Vương và một số chư
Thiên quyến thuộc, dạy cho họ về hạnh bất thối chuyển
đối với quả vô thượng Bồ Đề. Bấy giờ Ông Duy Ma Cật
đến bảo con rằng:

– Thưa
Ngài Di Lặc! Thế Tôn thọ ký cho Ngài một đời sẽ thành
vô thượng Bồ Đề; vậy Ngài định dùng đời nào, khi Ngài
nhận sự thọ ký ấy? Đời quá khứ? Đời hiện tại? Hay
đời vị lai ư? Nếu đời quá khứ thì đã qua rồi! Đời
vị lai thì chưa đến! Đời hiện tại? Có hiện tại nào
lại không vận động biến chuyển? Có hiện tại nào tồn
tại cố định? Đức Phật đã thường dạy: “Nầy các thầy
Tỳ Kheo! Ngay bây giờ, các thầy vừa có sanh, vừa có lão,
vừa có diệt vong!” Hay là Ngài định xử dụng cái vô sanh
mà cho rằng được thọ ký ư? Nói đến vô sanh tức là chánh
vị. Đã là chánh vị thì không có vấn đề thọ ký và cũng
không có cái gọi là “được” quả vô thượng Bồ Đề.
Thế thì làm sao Ngài Di Lặc lại “được thọ ký” một
đời? Hay là Ngài dựa theo đời của chân như sanh mà được
thọ ký? Hay là đời của chân như diệt mà được thọ ký? 
Nếu dựa theo đời của chân như sanh không được. Vì chân
như không có sanh. Nếu dựa theo đời của chân như diệt cũng
không được. Vì chân như không có diệt. Ngài nên biết tất
cả chúng sanh đều NHƯ. Tất cả pháp đều NHƯ. Các thánh
hiền cũng NHƯ. Chính Di Lặc ngài cũng NHƯ. Nếu Ngài được
thọ ký thì tất cả chúng sanh lẽ ra cũng được thọ ký.
Vì luận về nghĩa NHƯ thì không còn có cái hai. Không có cái
nào khác với cái nào. Nếu Ngài được vô thượng Bồ Đề
lẽ ra tất cả chúng sanh cũng được quả vô thượng Bồ
Đề! Vì tất cả chúng sanh là tướng của Bồ Đề. Nếu
Ngài được diệt độ thì tất cả chúng sanh cũng phải được
diệt độ. Vì chư Phật biết tất cả chúng sanh là tướng
của Niết Bàn vốn đã vĩnh cửu tịch diệt. Cho nên chẳng
còn gì để diệt nữa. Vì vậy, Ngài không nên lấy pháp bất
thối chuyển mà dạy cho các Thiên tử. Thực ra không có người
phát tâm vô thượng Bồ Đề và cũng không có người thối
thất với quả vô thượng Bồ Đề. Ngài nên hướng dẫn
cho các Thiên tử này xã bỏ quan niệm chấp mắc về quả
Bồ Đề. Vì sao? Vì Bồ Đề không phải được từ nơi thân,
cũng không phải được từ nơi tâm. 

Tịch
diệt là Bồ Đề, vì diệt hết các tướng chấp. 

Bất
quán là Bồ Đề, vì xa lìa hết các trần duyên. 

Bất
hành là Bồ Đề, vì không lưu một ức niệm, một hy vọng
nào.

Đoạn
là Bồ Đề, vì xa lìa tất cả kiến chấp. 

Ly
là Bồ Đề, vì lìa xa tất cả vọng tưởng. 

Chướng
là Bồ Đề, vì chống lại tất cả mong muốn. 

Bất
nhập là Bồ Đề, vì không dính dáng vào chuyện tục lụy. 

Thuận
là Bồ Đề, vì thuận theo chân như. 

Trụ
là Bồ Đề, vì hằng trụ ở pháp tánh. 

Chí
là Bồ Đề, vì đạt đến chỗ thật tế của chân lý. 

Bất
nhị là Bồ Đề, vì xa rời ý căn và pháp trần. 

Đẳng
là Bồ Đề, vì bình đẳng như hư không. 


vi là Bồ Đề, vì không sanh, không trụ, không dị, không diệt. 

Tri
là Bồ Đề, vì rõ biết hết tâm hành của chúng sanh. 

Bất
hội là Bồ Đề, vì các nhập không nhóm được. 

Bất
hiệp là Bồ Đề, vì dẹp tan hết các phiền não. 

Giả
danh là Bồ Đề, vì biết rõ tánh của ngôn ngữ văn tự vốn
không. 

Như
hóa là Bồ Đề, vì không còn dính ở thủ, xã hai bên. 


loạn là Bồ Đề, vì tự tâm thường trụ tướng tịch tĩnh. 

Thiện
tịch là Bồ Đề, vì thể tự tánh lúc nào cũng vắng lặng. 

Bất
thủ là Bồ Đề, vì xa lìa hết các phan duyên. 

Bất
dị là Bồ Đề, vì nhìn các pháp bằng cái thấy bình đẳng. 


tỉ là Bồ Đề, vì các pháp không có tướng đối đải để
so sánh. 

Vi
diệu là Bồ Đề, vì các pháp khó biết mà biết rõ tất
cả.

-Bạch
Thế Tôn! Bồ Tát Di Lặc thưa. Khi Trưởng giả Duy Ma Cật
thuyết thời pháp ấy, hai trăm Thiên tử được vô sanh pháp
nhẫn. Vì vậy, con không dám lãnh trách nhiệm đi thăm bệnh”.

TRỰC
CHỈ

Kinh
Phật thường gọi đức Di Lặc là Bồ Tát nhất sanh bổ xứ.
Được Phật thọ ký một đời sẽ thành vô thượng Bồ Đề.

Tự
tin mình một đời sẽ thành tựu quả vô thượng Bồ Đề.
Bồ Tát Di Lặc chẳng có lỗi gì. Đem hạnh nguyện bất thối
chuyển dạy cho chư Thiên Đâu Suất cung, khiến cho “bất
thối chuyển” quả vô thượng Bồ Đề, Bồ Tát Di Lặc cũng
chẳng có lỗi gì. Vì lợi tha là Bồ Tát hạnh.

Điểm
yếu của Bồ Tát Di Lặc ở chỗ:

1.-
Tin vào ngữ ngôn Thọ Ký.

2.-
Tin
ở văn tự Một Đời.

3.-
Tin
ở quả chứng Bồ Đề.

Kinh
Hoa Nghiêm, “Nhật xuất tiên chiếu” Phật dạy:

“Tất
cả chúng sanh sẽ thành Phật. Vì tất cả chúng sanh đều
có phước đức trí tuệ Phật”.

Kinh
Pháp Hoa, “Nhật một hoàn chiếu” Phật dạy:

“Tất
cả chúng sanh đã thành Phật”.

Xem
thế, không phải chỉ có Bồ Tát Di Lặc được “Thọ ký”
mà tất cả chúng sanh cũng đã được Phật thọ ký từ lâu
rồi.

Đời,
nói cách khác là Thời gian. Thời gian thì không có “Mốc”.
Chỉ dựa trên hiện tượng vật chất, người ta đánh giá
“Mốc thời gian”.

Thời
gian thọ mệnh của rùa…

Thời
gian
thọ mệnh của người…

Thời
gian
thọ mệnh của “Cẩu”, của “Kê”…  

Thời
gian
thọ trưởng của cây tùng, cây bách..

Thời
gian
thọ trưởng cam, quít, lựu, lê…

Xóa
bỏ vật chất ra sẽ không có Đời. Dựa trên vật chất để
đánh giá Đời, thì Đời chẳng có gì để làm tiêu chuẩn.

Tin
ở ngữ ngôn văn tự, Bồ Tát Di Lặc bị “Hố”, đối với
chân lý đệ nhất nghĩa.

Xưa
kia đức Thích Ca cũng có lần được Phật Nhiên Đăng thọ
ký thành Phật sau này. Đức Thích Ca hồi ấy có nghe; mà không
để lòng nghĩ ngợi đặt hy vọng ở lời Thọ Ký của Phật
Nhiên Đăng. Nhờ vậy, đức Thích Ca thành Phật trước.

Người
thực khách thông minh, không tin ở tấm biển “MAI ĂN KHỎI
TRẢ TIỀN” của tiệm ăn quảng cáo có nhiều đặc sản
ấy.

Trông
chờ hy vọng “quả vô thương Bồ Đề”. Coi chừng! Sai một
ly, đi một dặm.

“Nhật
hành lãnh thượng mạc tầm sơn”!

Cần
phải khai quật Bồ Đề tâm, phát huy Bồ Đề tự tánh. Đó
mới là con đường tiến đến vô thượng Bồ Đề. Đi theo
con đường đó thì:

* Tịch
diệt là Bồ đề.

* Bất
quán là Bồ đề.

* Bất
hành là Bồ đề.

* Đoạn
là Bồ đề.

* Ly
là Bồ đề.

* Chướng
là Bồ đề

* Bất
nhập là Bồ đề.

* Thuận
là Bồ đề.

* Trụ
là Bồ đề.

* Bất
nhị là Bồ đề.

* Đẳng
là Bồ đề.

* Vô
vi là Bồ đề.

* Tri
là Bồ đề.

* Bất
hội là Bồ đề.

* Bất
hiệp là Bồ đề.

* Vô
xứ là Bồ đề.

* Giả
danh là Bồ đề.

* Như
huyễn là Bồ đề.

* Vô
loạn là Bồ đề.

* Thiện
tịch là Bồ đề.

* Vô
thủ là Bồ đề.

* Vô
dị là Bồ đề.

* Vô
tỷ là Bồ đề

* Vi
diệu là Bồ đề.

Bồ
Đề đạo là đạo tỉnh thức.

Bồ
Đề giả là người tỉnh thức.

Luôn
luôn tỉnh thức sống đúng, sống hợp chân lý là sống trong
Bồ Đề đạo, không cần phải lo lắng vấn đề “thối
chuyển”. Ôm tâm trạng “Sợ” thối chuyển là đã sụp
đổ một góc lâu đài Niết Bàn rồi.

Cố
học và giữ gìn cái “Hạnh bất  thối chuyển”, 
càng làm cho tòa Niết Bàn mờ ảo xa xăm hơn

Trước
mắt, Bồ Đề chưa thấy mà Niết Bàn của các Thiên vương
cứ sụp đổ và mất hút dần.

Chưa
thâm ngộ “thật tướng” học pháp “bất liễu nghĩa”,
thực hành pháp “bất liễu nghĩa” thường bị “kẹt”.
Nhìn Bồ Đề Niết Bàn, còn bị bao phủ những lớp sương
mù “chấp mắc”.

 

I I.
VẤN ĐỀ ĐẠO TRÀNG

Đức
Phật gọi Quang Nghiêm Đồng Tử bảo: “Quang Nghiêm! Ông hãy
đi thăm bệnh Trưởng giả Duy Ma Cật”.

Quang
Nghiêm Đồng Tử thưa: “Bạch Thế Tôn! Con không kham lãnh trách 
nhiệm đi thăm bệnh trưởng giả Duy Ma Cật! Bởi vì, trước 
đây vào một hôm nọ, con từ thành Tỳ Da Ly đi ra, Ngài Duy
Ma Cật thì từ ngoại thành đi vào. Con lễ phép chào và hỏi:

– Thưa
cư sĩ! Ngài từ  đâu đến đây?

Ông
Duy Ma Cật đáp: Tôi từ  đạo tràng đến.

Con
lấy làm lạ hỏi: Ngài nói đạo tràng, vậy đạo tràng nào?
Ở đâu?

Ông
Duy Ma Cật đáp:

Trực
tâm là đạo tràng: Tâm hạnh thành thật, thẳng thắn không
hư dối quanh co.

Phát
hạnh là đạo tràng: Siêng năng tinh tấn làm tất cả việc.

Thâm
tâm là đạo tràng: Luôn luôn vun bồi công đức và làm tăng
trưởng công đức.

Bồ
đề tâm là đạo tràng: Vận dụng trí tuệ trong sự thấy,
nghe, ngửi, nếm, xúc, biết…để tránh mọi si mê lầm lạc.

Bố
thí là đạo tràng: Thí tài, thí pháp và thí cả vô úy cho
chúng sanh mà không hy vọng đáp đền ơn nghĩa.

Trì
giới là đạo tràng: Giữ giới thanh tịnh đúng như chí nguyện
mong ước lúc phát khởi sơ tâm.

Nhẫn
nhục là đạo tràng: Tâm được điều thuận, nhu nhuyễn đối
với tất cả chúng sanh không còn bị chướng ngại.

Tinh
tấn là đạo tràng: Không lúc nào giải đãi trong việc học
chánh pháp, hành chánh pháp và sống trong chánh pháp.

Thiền
định là đạo tràng: Tâm nhu hòa an ổn, không rong rủi ở
lục dục thất tình.

Trí
tuệ là đạo tràng: Thấy rõ bản chất vô thường, vô ngã
và bất tịnh của các pháp đúng như thật.

 Từ
là đạo tràng: Đối với tất cả chúng sanh đều thương
như con một.

Bi
là đạo tràng: Vận dụng mọi phương tiện cứu khổ cho chúng
sanh.

Hỉ
là đạo tràng: Lúc nào cũng vui mừng khi thấy người khác
được vui.


là đạo tràng: Đoạn hết mọi ý niệm ghét thương trong lòng.

Thần
thông là  đạo tràng: Thành tựu đầy đủ lục thông.

Giải
thoát là đạo tràng: Luôn luôn vận dụng pháp bội xã và
sống trong pháp bội xã. 

Phương
tiện là đạo tràng: Giáo hóa chúng sanh bằng nhiều hình thức,
tùy căn cơ, đối tượng. 

Tứ
nhiếp là đạo tràng: Thuyết pháp độ chúng sanh bằng nhiều
cách và tùy cơ duyên mà hóa độ.

Đa
văn là đạo tràng: Nghe chánh pháp rồi thực hành đúng chánh
pháp.

Phục
tâm là đạo tràng: Vận dụng chánh quán mà quán các pháp.

Ba
mươi bảy phẩm trợ đạo là đạo tràng: Rời bỏ hết các
pháp hữu vi.

Tứ
đế là đạo tràng: Thấy đúng như thật, biết đúng như
thật, nói đúng như thật các pháp thế gian.

Duyên
khởi là đạo tràng: Biết rõ từ vô minh cho đến lão tử
đều không có cái hết.

Các
phiền não là đạo tràng: Vì nhận biết sự tác hại của
phiền não một cách quyết định.

Chúng
sanh là đạo tràng: Vì nhận biết sự hòa hợp, sự nương
gá tạm bợ, biết rõ tánh chất vô thường vô ngã của chúng.

Tất
cả pháp là đạo tràng: Vì biết rõ tất cả pháp vốn không.

Hàng
ma là đạo tràng: Vì biết trước các thế lực bất hảo
của ma.

Tam
giới là đạo tràng: Dù nhận có tam giới mà không bị ràng
buộc trong tam giới.


tử hống là đạo tràng: Vì sự thuyết pháp độ sanh đạt
đến vô sở úy.

Thập
lực, tứ vô sở úy, thập bát bất cộng pháp là đạo tràng:
Vì thân, khẩu, ý đã thuần thục đạt đến chỗ tột cùng
của thanh tịnh, không còn có sự sai lầm.

Tam
minh là đạo tràng: Nhận thức các pháp thấu suốt tận gốc,
tột nguồn.

Nhất
niệm tri nhất thiết pháp là đạo tràng: Vì thành tựu nhất
thiết chủng trí.

Thế
đấy! Quang Nghiêm đồng tử! Bồ Tát nếu ứng dụng trí tuệ
ba la mật giáo hóa chúng sanh thì mọi hành động giở chân
lên, hạ chân xuống đều từ đạo tràng đến và lúc nào
cũng ở trong Phật pháp vậy.

Bạch
Thế Tôn! Quang Nghiêm thưa. Trưởng giả Duy Ma Cật nói thời
pháp ấy rồi có năm trăm trời, người đều phát tâm vô
thượng Bồ đề. Vì vậy con không dám lãnh trách nhiệm đi
thăm bệnh”.

TRỰC
CHỈ

ĐẠO
TRÀNG, thông thường người ta có ba cách nghĩ:

Một,
chỗ đức Phật thành đạo dưới cội Bồ Đề

Hai,
chỗ tụ hội của một tập thể đông đảo.

Ba,
chỗ làm chay có xô đàn thí rế, cầu siêu, bạc tiền…

Trong
nhận thức của Quang Nghiêm đồng tử cũng chưa vượt ra ba
ý nghĩa đó.

Bồ
Tát Duy Ma Cật trong dáng vẻ ung dung tự tại đi vào nội thành
Tỳ Da Ly, khiến cho Quang Nghiêm đồng tử rất ngạc nhiên
khi nghe Ông Duy Ma Cật trả lời:

“Tôi
từ đạo tràng đến”.

Một
câu trả lời bình thường như bao nhiêu ngữ ngôn bình thường.
Vậy mà sức công phá hết sức lớn lao. Nó xé toạc màn vô
minh vĩnh viễn cho thế hệ tương lai, vén mây ngút chỉ trời
xanh cho những người thức giả lúc bấy giờ rằng:

Đạo
tràng không phải là chỗ Phật ngồi. Cũng không phải là chỗ
tụ hội của một nhóm người đông đảo, cũng không phải
đám làm chay có xô đàn thí rế, tụng tán chóc cheng…

– Trực
tâm là đạo tràng.

– Thâm
tâm là đạo tràng.

– Bồ
Đề tâm là đạo tràng.

– Phát
hạnh là đạo tràng.

– Bố
thí là đạo tràng.

– Trì
giới là đạo tràng.

– Nhẫn
nhục là đạo tràng.

– Tinh
tấn là đạo tràng.

– Thiền
định là đạo tràng.

– Trí
tuệ là đạo tràng.

– Từ
là đạo tràng.

– Bi
là đạo tràng.

– Hỉ
là đạo tràng.

– Xã
là đạo tràng.

– Đoạn
là đạo tràng.

– Thần
thông là đạo tràng.

– Giải
thoát là đạo tràng.

– Phương
tiện là đạo tràng.

– Tứ
nhiếp là đạo tràng.

– Đa
văn là đạo tràng.

– Phục
tâm là đạo tràng.

– Ba
mươi bảy phẩm trợ đạo là  đạo tràng.

– Tứ
đế là đạo tràng.

– Thập
nhị nhân duyên là đạo tràng.

– Các
phiền não là đạo tràng.

– Chúng
sanh là đạo tràng.

– Tất
cả pháp là đạo tràng.

– Hàng
ma là đạo tràng.

– Tam
giới là đạo tràng.

– Sư
tử hống là đạo tràng.

– Thập
lực là đạo tràng.

– Tứ
vô sở úy là đạo tràng.

– Thập
bát bất cộng pháp là đạo tràng.

– Tam
minh là đạo tràng.

– Nhất
niệm tri nhứt thiết pháp là đạo tràng.

Bồ
Tát sống trong các Ba la mật môn, giáo hóa chúng sanh khiến
cho họ phát tâm thì nhất cử, nhất động, giở chân lên,
để chân xuống đều từ đạo tràng đến và ở chỗ nào,
cũng là ở trong Phật pháp.

 

III.
PHÁP VUI VÔ TẬN

Đức
Phật gọi Bồ Tát Trì Thế bảo: “Trì Thế! Ông hãy đi thăm
bệnh trưởng giả Duy Ma Cật”.

Bồ
Tát Trì Thế thưa: “Bạch Thế Tôn! Con không kham lãnh trách
nhiệm đi thăm bệnh trưởng giả.

Bạch
Thế Tôn! Con còn nhớ một hôm nọ con đang ở nơi tịnh thất,
bấy giờ có ma Ba tuần đem theo cả một vạn hai ngàn Thiên
nữ, giả dạng y như Trời Đế Thích. Họ đánh trống thổi
kèn, đàn nhạc, ca hát, đi đến chỗ con. Một số đông dập
đầu lễ lạy dưới chân con; rồi chấp tay cung kính đứng
trước con, hàng ngũ trang nghiêm trật tự. Con nghĩ họ là
Trời Đế Thích. Con bèn thuyết pháp cho họ rằng:

Quí
hóa thay! Kiều Thi Ca! Các vị có phước báu, nhưng không nên
buông lung, trong khi hưởng phước. Phải quán ngũ dục là vô
thường, để trồng sâu cội phúc. Dựa trên tự thân, trên
của cải vô thường mà tu tập quán chiếu, ngõ hầu được
cái thân bền chắc…!

Bấy
giờ trong số người đó nói với con rằng: Thưa Chánh sĩ!
Chúng tôi xin hiến cho Ngài, hai nghìn Thiên nữ này, Ngài hãy
nhận để làm người hầu hạ. Họ sẽ giúp đở cho Ngài
công việc khi cần.

Bạch
Thế Tôn! Lúc bấy giờ con bèn nói với họ: Kiều Thi Ca! Không
nên đem hàng Thiên nữ như thế mà hiến tặng cho sa môn Thích
tử chúng tôi. Việc làm đó phi pháp, hàng sa môn Thích tử
chúng tôi không thể nhận những người như thế để giúp
việc.

Con
nói chưa dứt lời thì Ông Duy Ma Cật đến, bảo con rằng:

Nầy
Ngài Trì Thế! Họ không phải là Đế Thích. Họ là ma đến
để trêu ghẹo ông đấy.

Ông
Duy Ma Cật bèn nói với các ma: Các cô gái kia ơi! Hãy hiến
các cô cho tôi! Như tôi đây mới là người đáng nhận sự
hầu hạ giúp đở của các cô.

Bấy
giờ bọn ma rất sợ hãi, nghĩ rằng: Có thể Ông Duy Ma Cật
sẽ làm bức não chúng ta!

Tất
cả đều muốn biến hình trốn đi, nhưng vẫn không biến
được. Chúng vận hết sức thần cũng không sao ẩn hình trốn
thoát. Bỗng nhiên, trên không trung có tiếng vọng lên rằng:
“Ma Ba tuần hãy hiến tặng các cô gái ấy đi thì mới có
thể rời khỏi nơi đó”.

Bọn
ma cả sợ, lạy sấp, lạy ngửa mà dâng.

Bấy
giờ Ông Duy Ma Cật bảo các cô gái rằng: Ma đã hiến các
cô cho tôi rồi! Các cô nên phát tâm vô thượng Bồ Đề đi!

Sau
đó, tùy căn tánh mỗi người, trưởng giả Duy Ma Cật thuyết
pháp khiến cho hàng ma nữ vui mừng phát tâm hướng về Phật
đạo…

Trưởng
giả Duy Ma Cật dạy tiếp: Các cô đã phát tâm theo Phật đạo,
các cô sẽ có cái vui chính của các cô, mà không cần đến
cái vui của ngũ dục nữa.

Thiên
nữ hỏi: Cái vui đó là thế nào?

Ông
Duy Ma Cật đáp: Vui thường tin Phật. Vui ham nghe Pháp. Vui cúng
dường Tăng. Vui vĩnh ly ngũ dục. Vui quán ngũ ấm như ác tặc.
Vui quán tứ đại như độc xà. Vui quán nội nhập như rỗng
không. Vui thuận theo ý đạo. Vui lợi ích chúng sanh. Vui kính
trọng và cúng dường sư trưởng. Vui làm bố thí được nhiều.
Vui giữ giới kiên trì và thanh tịnh. Vui nhẫn nhục nhu hòa.
Vui siêng nhóm thiện căn. Vui thiền định không loạn. Vui cấu
hết, tuệ sanh. Vui được tâm Bồ Đề rộng lớn. Vui hàng
phục các ma. Vui đoạn các phiền não. Vui thấy cõi Phật thanh
tịnh. Vui thành tựu tướng hảo. Vui tu các công đức lành.
Vui trang nghiêm đạo tràng. Vui nghe pháp sâu xa mà không sợ.
Vui với tam giải thoát môn. Vui gần bạn đồng học. Vui ở
trong chỗ phi đồng học mà tâm không bị chướng. Vui chuyển
hóa được những người ác tri thức. Vui tâm thường thanh
tịnh. Vui tu vô lượng đạo phẩm. Đó là pháp vui của Bồ
Tát, các cô nên biết. Khi bấy giờ, Ma Ba tuần bảo các ma
nữ rằng: Ta muốn các ngươi cùng ta hãy trở về thiên cung.

Các
ma nữ nói: đã hiến chúng tôi cho cư sĩ, bấy giờ chúng tôi
có được pháp vui, chúng tôi vui lắm rồi. Từ đây chúng
tôi không thích cái vui ngũ dục nữa.

Ma
Ba tuần nói: Thưa cư sĩ! Mong Ngài thả các cô ấy đi! Theo
chúng tôi biết Bồ Tát hạnh là xả thí tất cả các sở
hữu của mình cho người khác.

Ông
Duy Ma Cật nói: Tôi đã thả rồi, các cô tự ý mà đi. Các
cô hãy nhớ làm thế nào cho chúng sanh đều được học chánh
pháp như các cô vậy.

Bấy
giờ các cô gái hỏi Ông Duy Ma Cật: Khi trở về cung ma, chúng
tôi phải làm gì? Thưa Ngài Duy Ma Cật!

Ông
Duy Ma Cật bảo: Này các cô! Có pháp môn tên là :”Vô tận
đăng”, các cô hãy siêng năng tu học. Vô tận đăng có nghĩa
là cây đèn vô tận. Ví như một ngọn đèn đem mồi thêm
ra cả trăm ngọn đèn, khiến cho chỗ tối được sáng, sáng
rộng và sáng mãi mà ngọn đèn nguyên thủy chẳng hao mòn
chút ánh sáng nào. Cũng như vậy, thưa các cô! Bồ Tát có
thể dạy dỗ cho trăm, ngàn chúng sanh khiến cho họ phát tâm
vô thượng Bồ Đề mà đạo tâm và đạo hạnh của Bồ Tát
chẳng có giảm sút. Ví như ngọn vô tận đăng ấy! Các cô
dù ở cung ma xử dụng pháp “Vô tận đăng” khiến cho chư Thiên
tử, thiên nữ phát tâm vô thượng Bồ Đề, thì chính các
cô đã đền đáp thâm ân Phật.

Bấy
giờ các Thiên nữ đầu mặt lễ dưới chân Ông Duy Ma Cật.
Lễ xong, cùng theo thiên ma về cung. Tất cả hốt nhiên biến
mất.

Bạch
Thế Tôn! Bồ Tát Trì Thế thưa: Trưởng giả Duy Ma Cật có
trí biện tài tự tại như thế, cho nên con không dám lãnh
trách nhiệm đi thăm bệnh”.

TRỰC
CHỈ

Ma
Ba Tuần mà nhận là Thiên Đế Thích. Thế là lầm lẫn đối
tượng trong khi thuyết pháp.

Pháp
thuyết sai đối tượng không phát huy được công dụng của
pháp. Thuốc hay trị không đúng bệnh mất đi công hiệu của
thuốc. Bệnh trị không đúng thuốc, uống thuốc cũng như
không.

Sợ
ma bị ma nhiểu loạn. Không sợ ma, ma sợ lại. Bồ Tát Trì
Thế không dám nhận “Thiên nữ”, lại được ép tặng ‘Thiên
nữ” cho. Bồ-Tát Duy Ma Cật rất bằng lòng nhận các “Thiên
nữ”, tất cả “Thiên nữ” đều kinh tâm táng đởm.

Đối
với ma quân, Bồ Tát gặp lúc cần phải trực diện đương
đầu. Từ đó thi thố khả năng điều phục.

Phật
tánh tùy duyên nhi bất biến. Bất biến nhi tùy duyên.


là “Nữ thiên ma”, khi gặp thiện tri thức khai thị Phật tri
kiến cho mình, ma có khả năng quay về chánh đạo, phát tâm
cầu tiến vô thượng Bồ Đề.

Vui
trong ngũ dục, là cái vui của người nướng mình trên hầm
lửa. Cái vui của con người bệnh hoạn. nhiễm nặng vi rút
vô minh.

Người
trí chọn cho mình cái vui trường cửu ở mọi hoàn cảnh ở
mọi thời gian.    Bồ Tát Duy Ma Cật nói:

Vui
thường tin Phật. Vui ham nghe Pháp. Vui cúng dường Tăng.Vui
vĩnh ly ngũ dục. Vui quán ngũ ấm như oán tặc. Vui quán tứ
đại như độc xà. Vui thuận theo ý đạo. Vui lợi ích chúng
sanh. Vui kính trọng sư trưởng. Vui bố thí được nhiều.
Vui giữ giới thanh tịnh. Vui nhẫn nhục nhu hòa. Vui tinh tấn
thiện hạnh. Vui thiền định không loạn. Vui trí tuệ tăng
trưởng.


là thiên ma, khi phát Bồ đề tâm là đã “Hồi đầu thị ngạn”.
Bấy giờ các thiên nữ có cái vui chân thật không còn thích
cái vui ngũ dục nữa. Các cô từ chối không muốn trở lại
ma cung.

Bồ
Tát Duy Ma Cật cho rằng các cô có thể trở về ma cung mà
chẳng có tổn hại gì.

“Ngọc
trắng dù ở trong bùn bẩn, không vì vậy mà hoen ố sắc màu”.

“Người
phát Bồ Đề tâm dù ở trong cảnh trược, không vì vậy nhiễm
loạn chất thanh cao”.

Điều
cốt yếu, các cô hãy luôn luôn bồi dưỡng trí tuệ, phát
Bồ đề tâm ngày thêm rộng lớn.

Để
đền đáp ơn Phật, các cô hãy mồi thêm mãi “Vô tận đăng”
khiến cho chỗ tối được sáng, chỗ sáng được rực rỡ
huy hoàng.


tận đăng tức là ngọn đèn chánh pháp. Học Bồ Tát hạnh,
các cô có trách nhiệm truyền bá rộng rãi đến tất cả,
khiến cho thiên tử, thiên nữ phát Bồ đề tâm thì các cô
đền đáp được thâm ân Phật.

*****

IV.-
HỘI ĐẠI THÍ

Bấy
giờ Phật gọi trưởng giả tử Thiện Đức bảo: “Thiện
Đức! Ông hãy đi thăm bệnh trưởng giả Duy Ma Cật”.

Thiện
Đức thưa: “Bạch Thế Tôn! Con không kham lãnh trách nhiệm
đi thăm bệnh ông Duy Ma Cật. Vì trước đây, lúc ở tại
nhà của thân phụ, con có thiết lập một hội đại thí,
kỳ hạn bảy ngày cúng dường các sa môn, Bà la môn, ngoại
đạo và bố thí cho tất cả những người nghèo khó, cho những
kẻ ăn xin. Khi bấy giờ, Ông Duy Ma Cật đến nói với con
rằng:

Thưa
trưởng giả tử! Hội đại thí lập như vậy chưa đúng.
Ngài lập hội tài thí trong bảy ngày, những người được
thọ thí đở khổ trong bảy ngày. Sau bảy ngày họ không còn
gì nương cậy. Ngài nên lập hội pháp thí mới đem lại lợi
ích lâu dài cho người thọ thí.

Con
hỏi: Hội pháp thí là thế nào?

Ông
Duy Ma Cật nói: Hội pháp thí không phải chỉ có lợi cho thời
gian trước hay thời gian sau, trong một thời cúng dường cho
tất cả chúng sanh.

– Thế
nghĩa là sao? Thưa cư sĩ, con hỏi.

– Nghĩa
là vì vô thượng Bồ đề, khởi từ tâm. Vì cứu độ chúng
sanh, khởi bi tâm. Vì hộ trì chánh pháp, khởi hỉ tâm. Vì
sự nghiệp trí tuệ, khởi xả tâm. Vì hóa độ xan tham khởi
bố thí ba la mật. Vì hóa độ phạm giới, khởi trì giới
ba la mật. Vì biết rõ tánh vô ngã của các pháp, khởi nhẫn
nhục ba la mật. Vì biết rõ thân tâm như huyễn, khởi tinh
tấn ba la mật. Vì Bồ đề, khởi thiền định ba la mật.
Vì nhất thiết chủng trí, khởi bát nhã ba la mật. Vì giáo
hóa chúng sanh, khởi quán vạn pháp giai không. Nhằm trực diện
với các pháp hữu vi, khởi quán chư tướng vô tướng. Thị
hiện thọ sanh, mà khởi quán không, vô tác. Nhằm truyền bá
chánh pháp, khởi nhiều phương tiện. Nhằm hóa độ chúng
sanh, thực hành pháp tứ nhiếp. Vì cung kính tất cả, khởi
trừ tâm ngã mạn. Vì biết rõ thân mệnh tài như huyễn, khởi
ái mộ pháp thân, bát nhã và giải thoát. Đối với lục niệm,
thường khởi tưởng niệm. Đối với pháp lục hòa, khởi
tâm chánh trực. Dùng tâm hoan hỉ, khởi ý gần gủi thánh
hiền. Khởi tâm điều phục, không ghét người ác. Với pháp
xuất gia, khởi tâm kính mộ. Vì tri hành không lệch lạc,
khởi ý chí đa văn. Nhằm tránh mọi ràng buộc, khởi ý đặt
mình như ở chỗ cô tịch. Nhằm đạt đến Phật tuệ, khởi
chí tọa thiền. Vì ái mộ cõi Phật thanh tịnh, khởi làm
việc phước đức.

Thế
đấy, Thiện nam tử! Nếu Bồ Tát lập hội pháp thí như thế,
thì vừa là đại thí chủ vừa là phước điền cho tất cả
chúng sanh.

Bạch
Thế Tôn! Trưởng giả tử Thiện Đức thưa. Ông Duy Ma Cật
thuyết thời pháp ấy, có hai trăm Bà la môn phát tâm vô thượng
Bồ Đề. Riêng con cảm thấy tâm mình được cởi mở nhẹ
nhàng thanh thoát. Con đảnh lễ dưới chân Ông và cởi xâu
chuổi anh lạc giá trị trăm ngàn vàng dâng cúng; nhưng Ông
Duy Ma Cật không nhận.

Sau
lời thỉnh cầu, hiến dâng thành khẩn của con, Ông Duy Ma
Cật nhận lấy và liền chia làm hai phần. Một phần bố thí
cho người hành khất tối hạ cơ cực nhất. Một phần Ông
dâng cúng đức Nan Thắng Như Lai. Khi bấy giờ cả chúng hội
đều được thấy cõi nước trang nghiêm của đức Nan Thắng.
Đồng thời thấy chuỗi anh lạc biến thành bốn trụ cột
của một bảo đài. Bốn mặt đài đẹp đẽ trang nghiêm và
trong suốt không chướng ngại nhau.

Ông
Duy Ma Cật nói với đại chúng rằng: Một thí chủ bố thí
cho người hành khất tối hạ bằng tấm lòng bình đẳng y
như cúng dường đấng Như Lai phước điền tối thượng.
Cúng dường và bố thí phát xuất từ một bi tâm. Không hy
vọng trả ơn không mong cầu phước báu.

Đó
là mô hình của hội pháp thí viên mãn nhất.

Bạch
Thế Tôn! Trưởng giả tử Thiện Đức thưa: Những người
hành khất tối hạ thấy thần lực của Ông Duy Ma Cật và
nghe thuyết những pháp thậm thâm như thế, họ đều phát
tâm hướng về vô thượng Bồ Đề. Vì duyên cớ đó, con
không kham lãnh trách nhiệm đi thăm bệnh trưởng giả Duy Ma
Cật”.

Nhiều
vị Bồ Tát ở trước Phật cùng trình bày những trường
hợp bị khiển trách của mình. Tất cả đều từ khước
không dám đi thăm bệnh trưởng giả Duy Ma Cật.

TRỰC
CHỈ

Bố
thí cúng dường là hạnh thứ nhất trong lục độ Ba la mật.

Bố
thí cúng dường đúng chánh pháp, lợi mình, lợi người, lợi
ở hiện tại và tương lai.

Bố
thí cúng dường không đúng chánh pháp có thể đem lại cho
mình hậu quả khổ đau đời nầy kiếp nọ. Phật là người
trí mới thấy biết hết điều nầy.

Bố
thí cúng dường có hai cách: Một, thí tài. Hai, thí pháp.

Bố
thí tài có hai cách: Một, nội tài. Hai, ngoại tài.

Nội
tài, người tại gia hay xuất gia đều làm được.

Ngoại
tài, để cho vua quan, cư sĩ, cận sự nam, cận sự nữ.

Cúng
dường đồng nghĩa như bố thí. Cúng dường là bố thí cho
kẻ bề trên. Bố thí là cúng dường, không phân biệt đối
tượng.

Người
thọ lễ cúng dường, kẻ nhận quà bố thí, thực chất đều
là “Khất thực”, không ai hãnh diện hơn ai.

Đó
là dụng ý thâm sâu của Thế Tôn ta về bài học “Diệt ngã
vì vô ngã”.

Tài
thí giúp cho người “đở ngặt” chưa giúp được “đỡ nghèo”.
Yêu cầu “đở khổ” tài thí chẳng gíúp được gì.

Đạo
Phật lấy sự cứu khổ là chánh: Cứu ngặt, cứu nghèo, phần
việc đó có vua, quan, cư sĩ…Các nhà khoa học, kỹ thuật,
kinh tế gia chăm lo việc xã hội ấy.

Lập
hội pháp thí mới là cứu khổ cho tất cả mọi người trong
mọi giai tầng xã hội. Lợi ích của pháp thí không có biên
giới. Vua. quan, cư sĩ giàu nghèo, sang hèn đều có khổ. Chỉ
khác nhau hoàn cảnh và môi trường. Khổ không có ranh giới
quá khứ, hiện tại hay tương lai.

Chỉ
có hội pháp thí trong một thời mới có thể cúng dường
cho tất cả.

Người
hoàn thành pháp thí hội, vừa là đại thí chủ, vừa là phước
điền cho tất cả chúng sanh.

Người
hoàn thành pháp thí hội phải là người làm được những
việc sau:

– Vì
vô thượng Bồ Đề, khởi tâm Từ.

– Vì
cứu độ chúng sanh, khởi tâm Bi.

– Vì
hộ trì chánh pháp, khởi tâm Hỉ.

– Vì
sự nghiệp trí tuệ, khởi tâm Xả.

– Vì
độ xan tham, khởi Bố thí ba la mật.

– Vì
độ sai trái của ba nghiệp, khởi Trì giới Ba la mật.

– Vì
độ tánh chấp ngã, khởi Nhẫn nhục Ba la mật.

– Vì
nhận rõ thân tâm như huyễn, khởi Tinh tấn Ba la mật.

– Vì
Bồ Đề, khởi Thiền định Ba la mật.

– Vì
nhất thiết chủng trí, khởi Trí tuệ Ba la mật.

– Vì
giáo hóa chúng sanh, khởi Vạn pháp giai không.

– Vì
đối diện các pháp hữu vi, khởi Chư pháp vô tướng.

– Vẫn
thọ sanh khởi Không vô tác.

– Vì
hoành dương chánh pháp, khởi nhiều Phương tiện.

– Vì
hóa độ chúng sanh, khởi Tứ nhiếp pháp.

– Vì
biết rõ thân, mệnh, tài như huyễn, khởi tâm ham mộ Pháp
thân Bát nhã, giải thoát.

– Vì
tri hành chân lý, khởi Đa văn.

– Vì
giải thoát triền phược, khởi Cô tịch độc hành.

– Vì
Phật trí tuệ, khởi Tọa Thiền…

Nói
tóm lại, những kinh điển Đại thừa khó nghe, khó hiểu,
khó tin, khó hành. Mà nghe được, hiểu được, tin được
và thực hành được. Từ đó, mình được giác ngộ, giải
thoát trước rồi mới truyền bá cho mọi người học tu để
cùng được giác ngộ, giải thoát.

Đó
là cách cúng dường ưu việt nhất. “Chư cúng dường trung,
pháp cúng dường tối”.

Người
cúng chuỗi anh lạc phát xuất từ tâm thanh tịnh vô cầu.

Người
nhận chuỗi, không thấy nhận, thỏa lòng ham muốn.

Một
phần cúng dường người ăn xin tối hạ. Một phần cúng dường
đức Nan Thắng Như Lai tối thượng.

Tuyệt
diệu thay! Tinh thần Bình đẳng!

Năng
sở bình đẳng. Cao hạ bình đẳng.

Do
vậy chuỗi anh lạc kết thành bốn cột trụ trong suốt của
tòa bảo đài chân lý. 

 

  

CHƯƠNG
THỨ
NĂM

VĂN
THÙ BỒTÁT THĂM BỆNH 

Bấy
giờ đức Phật bảo Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi: “Văn Thù! Ông
hãy đi thăm bệnh Trưởng giả Duy Ma Cật”.

Bồ
Tát Văn Thù thưa: “Bạch Thế Tôn! Bậc thượng nhân kia khó
đối đáp với Ông khi đàm đạo. Ông đã quán triệt sâu
sắc thực tướng. Thuyết pháp rất giỏi. Biện tài vô ngại,
trí tuệ siêu thường. Ông biết hết pháp thức của Bồ Tát.
Thâm nhập kho tàng bí mật của chư Phật. Hàng phục ma quân.
Thần thông du hí. Trí tuệ, phương tiện đáng làm thầy người.
Dù vậy, vâng lời Phật, con sẽ đi thăm bệnh trưởng giả
Duy Ma Cật”.

Các
Bồ Tát, Thinh văn, Phạm Thiên, Đế Thích, Tứ Thiên vương
cùng có ý niệm: Nay hai vị đại sĩ Văn Thù Sư Lợi và Duy
Ma Cật đàm đạo, chắc sẽ nói những pháp mầu nhiệm sâu
xa. Chúng hội cả mấy ngàn người đều muốn tháp tùng.

Bồ
Tát Văn Thù Sư Lợi cùng đại chúng tùy tùng hàng hàng, lớp
lớp trang nghiêm cung kính đi vào Tỳ Da Ly đại thành để
thăm bệnh Trưởng giả Duy Ma Cật.

1.-
Ông Duy Ma Cật biết Bồ Tát Văn Thù và đại chúng sắp đến.
Ông cho dẹp hết các vật sở hữu chỉ để tịnh thất trống.
Không có thị giả và độc nhất có một cái giường, bệnh
nhân là Ông Duy Ma Cật nằm choán hết.

2.-
Bồ Tát Văn Thù vào thất thấy sự kiện có vẻ lạ thường
chưa hỏi han được gì, trưởng giả Duy Ma Cật cất tiếng:

– Quý
hóa thay! Ngài Văn Thù Sư Lợi đến mà không có tướng đến.
Thấy mà không có tướng thấy.

Bồ
Tát Văn Thù đáp: Đúng vậy, thưa cư sĩ. Nếu đến thì lại
chẳng đến. Nếu đi thì lại chẳng đi. Bởi vì đến không
chỗ “Từ”. Đi không chỗ “Tới”. Gọi là “Thấy” kỳ thật
chẳng thấy gì.

Thôi
chúng ta gác lại chuyện ấy. Xin hỏi bệnh của cư sĩ có
được đở chưa! Trị liệu có bớt không? Thế Tôn ân cần
thăm hỏi và lo lắng lắm đó.

Do
nguyên nhân gì cư sĩ phát sanh bệnh như thế? Bệnh đã bao
lâu rồi và phải làm sao cho hết?

3.-
Ông Duy Ma Cật nói: Vì có si mê ái nhiễm mà bệnh của tôi
sanh. Vì tất cả chúng sanh bệnh cho nên tôi bệnh. Nếu tất
cả chúng sanh không bệnh thì bệnh của tôi lành. Bởi vì
Bồ Tát vì chúng sanh cho nên vào trong sanh tử. Có sanh tử
thì có bệnh. Nếu chúng sanh khỏi bệnh thì Bồ Tát không
còn bệnh nữa. Ví như trưởng giả có một đứa con, đứa
con bệnh, cha mẹ cũng bệnh theo. Nếu bệnh của con lành thì
bệnh của cha mẹ cũng lành. Bồ Tát cũng như vậy. Với chúng
sanh thương như con một. Chúng sanh bệnh thì Bồ Tát bệnh.
Chúng sanh lành bệnh thì bệnh của Bồ Tát cũng lành.

Ngài
hỏi: Do nguyên nhân gì, bệnh của tôi phát sanh.

4.-
Xin thưa: Bệnh của Bồ Tát phát sanh do tâm đại bi.

Bồ
Tát Văn Thù hỏi: Vì sao thất của Ngài trống không và không
có thị giả?

Trưởng
giả Duy Ma Cật đáp:

– Cõi
nước của chư Phật cũng không như vậy.

– Do
đâu mà biết không?

– Do
trống không cho nên biết không.

– Dùng
không để không cái gì?

– Dùng
không để không phân biệt.

– Đã
không thì phân biệt được gì?

– Phân
biệt cũng không.

– Tìm
cái không ở đâu, dựa vào đâu để nhận biết?

– Dựa
vào 62 kiến chấp của ngoại đạo.

– 62
kiến chấp phải tìm ở đâu?

– Tìm
trong đức giải thoát của chư Phật.

– Đức
giải thoát của chư Phật tìm ở đâu?

– Tìm
nơi tâm tánh của tất cả chúng sanh.

5.-
Thưa Ngài Văn Thù! Ngài hỏi vì sao tôi không có thị giả.
Thưa Ngài: Tất cả ma quân và các ngoại đạo là thị giả
của tôi. Bởi vì ma quân rất ưa sanh tử, mà Bồ Tát thì
ở trong sanh tử không xa rời. Ngoại đạo ưa kiến chấp,
Bồ Tát thì ở trong kiến chấp mà không động.

5.-
Bồ Tát Văn Thù hỏi: Bệnh của cư sĩ trạng huống ra sao?

– Bệnh
của tôi không hình trạng không thấy được.

– Bệnh
của Ngài thuộc thân hay thuộc tâm?

– Không
phải thuộc thân vì tôi đã ly cái tướng thân. Cũng không
phải thuộc tâm, vì tâm như huyễn.

– Địa,
thủy, hỏa, phong, trong bốn đại, Ngài bệnh đại nào?

– Bệnh
của tôi không phải địa đại nhưng không rời địa đại.
Không phải thủy, hỏa, phong; cũng không rời thủy, hỏa, phong.
Bệnh của chúng sanh phát từ tứ đại. Chúng sanh bệnh cho
nên tôi bệnh.

7.-
Bồ Tát Văn Thù hỏi: Khi một Bồ Tát nhuốm bệnh, vị Bồ
Tát đi thăm bệnh phải thăm hỏi thế nào, nói những gì?

Ông
Duy Ma Cật đáp: “Bồ Tát đi thăm bệnh nên nói: Rằng thân
vô thường, nhưng không bảo phải chán bỏ thân. Rằng thân
là khổ, nhưng không khuyên nhận cái vui Niết Bàn. Rằng thân
là vô ngã, mà khuyến khích tích cực giáo hóa chúng sanh. Rằng
thân rỗng lặng như hư không, nhưng không nói vĩnh viễn không
như sừng thỏ, lông rùa. Rằng nên ăn năn tội trước, nhưng
không nên ôm ấp những lỗi đã qua. Hãy quán xét bệnh của
mình mà thương xót người đang có bệnh. Phải tự thức tỉnh
rằng: ta đã từng khổ đau trong nhiều kiếp, mà đừng quên
nghĩ đến việc lợi lạc cho chúng sanh. Nhớ làm phước đức,
luôn nghĩ tường đến đời sống trong sạch. Không nên sanh
tâm buồn rầu, thường khởi tâm tinh tấn. Ta phải làm vị
đại y vương để trị bệnh cho tất cả chúng sanh.

Bồ
Tát đi thăm bệnh phải thăm hỏi như thế, an ủi như thế
khiến cho Bồ Tát có bệnh phát khởi hoan hỉ.

8.-
Văn Thù Sư Lợi hỏi: Thưa cư sĩ! Bồ Tát có bệnh phải điều
phục tâm mình như thế nào?

Trưởng
giả Duy Ma Cật đáp: Bồ Tát có bệnh nên quán chiếu và tư
duy rằng, bệnh của ta hôm nay là do các phiền não vọng tưởng
điên đảo đời này, đời trước mà sanh ra. Nó là pháp không
thật thì ai là người thọ bệnh!

Thân
nầy là kết quả của sự tổ hợp, nương gá tứ đại mà
thành. Tứ đại không có chủ tể thì thân nầy là vật vô
ngã. Bệnh sanh khởi là do chấp ngã. Vì vậy, đối với bản
ngã không nên sanh tâm luyến ái chấp mắc.

9.-
Đã biết nguồn gốc của bệnh, cần phải trừ bỏ quan niệm”chấp
ngã” và “chúng sanh”. Chỉ lưu lại ý tưởng về “pháp”. Do
các pháp hợp lại mà thành thân. Sanh chỉ là pháp sanh; diệt
chỉ là pháp diệt. Pháp thì chẳng biết gì nhau. Khi sanh nó
chẳng nói ta sanh. Khi diệt chẳng nói ta diệt. Tư duy như vậy,
Bồ Tát có bệnh trừ diệt quan niệm về “pháp”. Lại tư duy
rằng: quan niệm về “pháp” cũng chỉ là một thứ điên đảo.
Điên đảo còn thì còn khổ não, còn bệnh hoạn. Thế nên
Bồ Tát khởi ý tưởng “Ly”.

– Ly
là thế nào?

– Ly
ngã và ngã sở.

– Ly
ngã, ngã sở là sao?

– Ly
cả hai pháp.

– Ly
cả hai pháp là thế nào?

– Ly
nội tâm, ly ngoại cảnh, thể hiện tánh bình đẳng.

– Bình
đẳng như thế nào?

– Bình
đẳng về ý niệm ngã và bình đẳng về ý niệm Niết bàn.
Nhận thức rõ rằng: Ngã vốn không, Niết-bàn cũng chẳng
có. Ngã và Niết bàn đều không.

– Do
gì biết đó là không?

– Tư
duy rằng chúng chỉ dựa trên văn tự mà giả lập. Chúng không
có tính quyết định. Hiểu được tính bình đẳng đó thì
không còn bệnh nào khác., chỉ có bệnh “không”. Cuối cùng
“không” cũng không. Bấy giờ Bồ Tát có bệnh xử dụng vô
sở thọ mà thọ cái thọ. Khi nào Phật pháp chưa đầy đủ,
cũng không diệt thọ để nhận lấy quả sở chứng. Giả
sử thân có khổ, nhớ nghĩ chúng sanh trong ác thú mà khởi
lòng đại bi: rằng ta đã điều phục cũng sẽ điều phục
cho chúng sanh. Vì vậy chỉ trừ bỏ bệnh chấp mà không trừ
bỏ “pháp”. Vì muốn trị dứt gốc bệnh của chúng sanh mà
giáo hóa họ.

10.-
Thế nào là gốc bệnh?

– Gốc
bệnh có vì có tâm phan duyên. Chừng nào còn có tâm phan duyên
thì gốc bệnh còn.

– Đối
tượng phan duyên là gì?

– Đối
tượng phan duyên là tam giới.

– Làm
sao đoạn được phan duyên?

11.-
Muốn đoạn phan duyên phải vô sở đắc. Vô sở đắc thì
hết phan duyên.

– Sao
gọi là vô sở đắc?

– Vô
sở đắc có nghĩa là vĩnh ly hai thứ kiến chấp.

– Hai
thứ kiến chấp là gì?

– Là
nội kiến và ngoại kiến. Nội kiến là chấp bản ngã của
tự thân.Ngoại kiến là chấp hiện tượng vạn pháp bên ngoài.

Thưa
Ngài Văn Thù Sư Lợi! Đây là những điều Bồ Tát có bệnh
phải điều phục tâm mình. Nhằm dứt trừ các khổ, lão,
bệnh, tử. Đó là Bồ Đề của Bồ Tát. Nếu không như thế
thì việc tu sửa của mình sẽ không có được trí tuệ sắc
bén. Ví như có chiến thắng đối thủ ngoan cường thì mới
gọi là chàng dũng sĩ! Được vậy, Bồ Tát gọi đó là người
chiến sĩ tiêu trừ giặc cướp: lão, bệnh, tử.

12.-
Bồ Tát có bệnh còn quán chiếu tư duy rằng: Bệnh của ta
đây không thật có. Bệnh của chúng sanh cũng không thật có.
Quán chiếu tư duy như thế đối với chúng sanh. Nếu sanh khởi
lòng đại bi ái kiến thì cần phải xả ly. Bởi vì Bồ Tát
nhằm đoạn trừ khách trần phiền não mà phát khởi lòng
đại bi. Nếu lòng đại bi còn có tâm ái kiến thì ở trong
sanh tử sẽ có lúc mỏi mệt mà thoái thoát đạo tâm. Xa lìa
đại bi ái kiến thì hóa độ chúng sanh đời nầy, kiếp khác
cùng không có chán nản mỏi mệt. Người không bị ràng buộc
mới dạy cách mở cho người ràng buộc. Đang bị ràng buộc
mà dạy cách mở ràng buộc cho người khác là chuyện không
thể có. Mình không bị ràng buộc, mở ràng buộc giúp cho
người khác là việc dễ dàng! Thế nên Bồ Tát không nên
làm những điều gì khiến cho mình bị ràng buộc.

13.-
Thế nào là bị ràng buộc. Thế nào là được mở ràng buộc?

– Đam
mê thiền vị là Bồ Tát bị ràng buộc. Xử dụng các phương
tiện trong sinh hoạt bình thường là Bồ Tát không bị ràng
buộc.

Lại
nữa Bồ Tát không phương tiện, không trí tuệ là bị ràng
buộc. Có phương tiện có trí tuệ là Bồ Tát được mở
ràng buộc.

– Thế
nào là không phương tiện, không trí tuệ, Bồ Tát bị ràng
buộc?

– Nghĩa
là Bồ Tát dùng tâm ái kiến mà trang nghiêm cõi Phật hóa
độ chúng sanh. Dùng “không”, “vô tướng”, “vô tác” mà điều
phục tâm mình. Đó là Bồ Tát không phương tiện, không trí
tuệ, Bồ Tát bị ràng buộc.

– Có
trí tuệ, có phương tiện, Bồ Tát được mở ràng buộc là
thế nào?

– Nghĩa
là Bồ Tát lìa xa các tham dục, sân nhuế tà kiến, các phiền
não mà trồng cội phước, hồi hướng thẳng vô thượng Bồ
Đề. Đó là có trí tuệ, có phương tiện, Bồ Tát được
mở ràng buộc.

Thưa
Ngài Văn Thù Sư Lợi! Bồ Tát có bệnh phải nên quán các
pháp như thế.

Lại
nữa, quán thân vô thường, khổ, không, vô ngã. Đó là trí
tuệ. Thân dù có bệnh mà ở trong sanh tử làm lợi ích cho
chúng sanh không chán nản, mỏi mệt. Đó là có phương tiện.

Lại
quán về thân. Thân không rời bệnh, bệnh không rời thân.
Thân ấy, bệnh ấy không phải mới, không phải cũ gọi đó
là trí tuệ. Thân dù có bệnh mà không diệt thân, gọi đó
là phương tiện.

14.-
Thưa Ngài Văn Thù Sư Lợi! Bồ Tát có bệnh nên như thế mà
điều phục tâm mình. Không trụ ở tâm điều phục, cũng
không trụ ở tâm bất điều phục. Vì trụ tâm bất điều
phục là pháp của phàm phu. Trụ ở tâm điều phục là pháp
của Thanh văn. Thế nên, Bồ Tát không trụ ở tâm điều phục
và tâm bất điều phục. Ly đuợc cả hai pháp, thì Bồ Tát
làm việc ở sanh tử mà không bị nhiễm ô. Trụ ở Niết
bàn mà không diệt độ hẳn. Thế nên Bồ Tát hạnh không
phải là hạnh phàm phu cũng không phải là hạnh hiền 
thánh. Bồ Tát hạnh không phải hạnh cấu, cũng không phải
hạnh tịnh.

15.-
Bồ tát hạnh dù vượt quá hạnh ma mà hiện hàng phục các
ma. 

Bồ
tát hạnh cầu nhất thiết trí mà không cầu phi thời. 

Bồ
tát hạnh dù quán các pháp không sanh mà không vào chánh vị. 

Bồ
tát hạnh dù quán thập nhị nhân duyên mà tham nhập các tà
kiến. 

Bồ
tát hạnh dù chinh phục tất cả chúng sanh mà không luyến
ái. 

Bồ
tát hạnh dù ưa vui với hạnh viễn ly mà không có ý tưởng
diệt hết tướng thân tâm. 

Bồ
tát hạnh dù sanh hoạt trong tam giới mà không tổn hoại pháp
tánh. 

Bồ
tát hạnh dù không chấp ở việc làm phúc đức mà vẫn trồng
các cội phước đức. 

Bồ
tát hạnh dù thấy tất cả vô tướng mà vẫn cứu độ chúng
sanh. 

Bồ
tát hạnh dù biết vạn pháp vô tác mà vẫn hiện thọ thân. 

Bồ
tát hạnh dù việc làm vô khởi mà khởi các hạnh lành. 

Bồ
tát hạnh dù thực hành lục ba la mật mà phổ biến khắp
đủ tâm và tâm sở pháp của chúng sanh. 

Bồ
tát hạnh dù thực hành đủ lục thông mà không hết hoặc
lậu. 

Bồ
tát hạnh dù thực hành tứ vô lượng tâm mà không tham đắm
sanh cõi Phạm thế. 

Bồ
tát hạnh dù thực hành thiền định, giải thoát tam muội
mà không đam nhiễm vị thiền. 

Bồ
tát hạnh dù thực hành tứ niệm xứ mà không vĩnh viễn xa
lìa thân, thọ, tâm, pháp. 

Bồ
tát hạnh dù thực hành tứ chánh cần mà không bỏ rời sự
tinh tấn của thân tâm. 

Bồ
tát hạnh dù hành tứ như ý túc mà được tự tại thần
thông. 

Bồ
tát hạnh dù thực hành ngũ căn mà phân biệt các căn lợi
độn của chúng sanh. 

Bồ
tát hạnh dù thực hành ngũ lực mà ưa cầu thập lực. 

Bồ
tát hạnh dù thực hành thất giác chi mà phân biệt trí tuệ
Phật. 

Bồ
tát hạnh dù thực hành bát chánh đạo mà ưa thực hành vô
lượng Phật đạo. 

Bồ
tát hạnh dù thực hành pháp chỉ quán trợ đạo mà không
bị rơi vào tịch diệt hoàn toàn. 

Bồ
tát hạnh dù biết rõ các pháp không sanh, không diệt mà vẫn
dùng tướng hảo trang nghiêm thân. 

Bồ
tát hạnh dù hiện oai nghi Thanh văn, Duyên giác mà không rời
pháp Phật. 

Bồ
tát hạnh dù tùy thuận thật tướng mà vẫn tùy thuận chỗ
hiện thân cần thiết. 

Bồ
tát hạnh dù quán đất nước chư Phật vắng lặng như hư
không mà hiện cảnh trí thanh tịnh của cõi Phật. 

Bồ
tát hạnh dù được thành Phật đạo, chuyển pháp luân, nhập
Niết bàn mà không rời bỏ đạo Bồ tát.

Sau
khi Trưởng gia Duy Ma Cật nói thời pháp ấy có tám ngàn Thiên
chúng tùy tùng phát tâm cầu vô thượng chánh đẳng chánh
giác.

TRỰC
CHỈ

1.-
Tịnh thất trống, tiêu biểu “Nhất chân pháp giới, vạn pháp
giai không” nhằm xiển dương chân lý:

“Sắc
chẳng khác không, không chẳng khác sắc. Sắc là không, không
là sắc”.

Một
giường, một thân. Một thân nằm trên một giường, tiêu
biểu pháp thân và huyễn thân bất ly. Pháp thân không rời
huyễn thân. Huyễn thân ở trong pháp thân.

“Huyễn
hóa không thân tức pháp thân”.

2.-
Nếu đứng bên mé sông, trên bờ biển, người ta sẽ thấy
chiếc thuyền đi từ địa điểm này đến địa điểm nọ:
Đi từ Thái Bình Dương sang  đến Đại Tây Dương chẳng
hạn…

Qua
sự thấy biết đó, người ta cho rằng chiếc thuyền có Đi
có Đến.

Giả
sử người ta được nhìn thấy qua cái nhìn thấy cao rộng
của phi hành gia vũ trụ thì sự Đi và Đến của chiếc thuyền
kia chẳng có nghĩa lý gì cả, vì nó chưa có phút giây tạm
rời khỏi mặt địa cầu.

Sự
di chuyển “Đến”, “Đi” của con người trong pháp giới “nhất
chân” cũng chẳng có nghĩa gì.

Nhìn
bằng tuệ nhãn, Bồ tát thấy rõ:

“Đến
mà không có tướng đến”

“Đi
không chỗ khởi hành”

Bởi
trong quá trình Đi, Đến không có giây phút tạm rời pháp
giới nhất chân.

“Tánh
thấy” và “đối tượng thấy”. Phải học cách nhìn “Pháp nhĩ
như thị”, người đệ tử Phật mới có cơ may nhận thức
được chân lý.

Pháp
nhĩ như thị nghĩa là thấy mà không có tướng thấy. Thấy
cũng như không thấy, không thấy cũng như thấy. Có cũng như
không có. Không có cũng như có. Có là không. Không là có.
Vì biết rằng: thật tướng của các Pháp là vô tướng.

3.-
Sanh, lão, bệnh, tử đối với Bồ tát không có gì đáng nói.
Vì đó là quy luật phổ biến. Nó là chân lý của cuộc đời.
Có gì phải bận tâm Bồ tát.

Bồ
tát Duy Ma Cật bệnh, chỉ là một cái cớ được tạo ra nhằm
triển khai thật tướng, chỉ bày pháp tánh, giới thiệu pháp
thân, xiển dương đệ nhất nghĩa của Đại thừa.


gió độc si ái làm cho Bồ tát sanh bệnh. Vì chúng sanh bệnh
mà Bồ tát bệnh. Chừng nào chúng sanh hết bệnh, thì bệnh
Bồ tát lành.

Bồ
tát thương chúng sanh như cha mẹ thương con. Con bệnh cha mẹ
bệnh theo. Con lành bệnh, bệnh cha mẹ cũng lành.

Bệnh
của Bồ tát phát sanh do tâm đại bi.

4.-
Cõi nước của chư Phật cũng trống không, thất của Bồ
tát Duy Ma Cật cũng trống không, nhằm khai thị đạo lý “Hành
thâm Bát Nhã, chiếu kiến ngũ uẩn giai không”.

Tuy
nhiên người đạt đạo phải tìm thấy “Cái không ngay trong
cái có”.

Đó
là cái nhìn cũa tuệ nhãn: Đương thể tức không của Bồ
tát.

5.-
Ma quân ưa sanh tử. Bồ tát ở trong sanh tử không rời. Ngoại
đạo đam mê kiến chấp, Bồ tát ở trong kiến chấp mà không
động.

Do
vậy Bồ tát không cô đơn. Ma quân và ngoại đạo là người
hầu cận, là “thị giả” rồi.

6.-
Bệnh của Bồ tát không thuộc thân, vì Bồ tát đã ly “thân
tướng”. Cũng không phải thuộc tâm, vì Bồ tát biết rõ “tâm
như huyễn”.

7.-
Khi thăm bệnh, Bồ tát cần nhắc nhở bệnh nhân về sự vô
thường, khổ, không, vô ngã, bất tịnh của thân, nhưng không
khuyến khích chán nản thân, bi quan, yếm thế và tiêu cực
vì thân.

Hãy
quán xét bệnh của mình, mà nghĩ đến bệnh khổ của chúng
sanh. Hãy phát chí nguyện làm vị đại y vương để trị bệnh
cho tất cả.

8.-
Bồ tát có bệnh nên tự quán chiếu rằng: Bệnh của ta do
phiền não vọng tưởng điên đảo, do chấp ngã pháp mà sanh.
Có điên đảo thì có bệnh khổ.

9.-
Muốn trừ diệt bệnh khổ, Bồ tát khởi ý tưởng “Ly”. Ly
ngã, ngã sở. Ly nội tâm, ly ngoại cảnh. Khởi ý niệm bình
đẳng rằng: Ngã vốn không và Niết bàn cũng chẳng có.

10.-
Gốc bệnh của chúng sanh là tâm phan duyên. Chừng nào chúng
sanh còn tâm phan duyên thì gốc bệnh còn.

11.-
Muốn đoạn tâm phan duyên phải “Vô sở đắc”.Muốn được
vô sở đắc phải viễn ly chấp ngã và chấp pháp.

12.-
Bồ tát cứu độ chúng sanh không được có lẫn tâm ái kiến.
Nếu lòng đại bi mà có lẫn ái kiến thì việc độ sanh sẽ
có lúc mỏi mệt nản lòng.

13.-
Trong việc độ sanh, thực hiện đúng chánh pháp, Bồ tát tự
tại trong nhiệm vụ lợi tha. Thực hiện sai chánh pháp, Bồ
tát có thể bị ràng buộc, mắc mứu, chướng ngại sự giải
thoát giác ngộ của mình.

Nếu
Bồ tát còn mống niệm đam mê, trụ chấp dù là đam mê trụ
chấp thiền định lục ba la mật, Bồ đề, Niết bàn, Bồ
tát bị ràng buộc rồi.

  
Bồ tát phải thường xuyên xử dụng trí tuệ, luôn luôn vận
dụng phương tiện trong việc độ sanh là Bồ tát được cởi
mở ràng buộc.

14.-
Bồ tát có bệnh điều phục tâm mình bằng cách: không trụ
ở tâm điều phục, cũng không trụ ở tâm bất điều phục.
Bởi vì trụ ở tâm điều phục là pháp của Thanh văn. Trụ
ở tâm bất điều phục là pháp của phàm phu.

       
15.- Bồ tát phải thể hiện Bồ tát hạnh. Không thể hiện
Bồ tát hạnh thực nghĩa Bồ tát không còn.

Bồ
tát hạnh không phải là hạnh phàm phu, cũng không phải là
hạnh hiền thánh. Bồ tát hạnh không phải hạnh cấu nhiễm
cũng không phải hạnh thanh tịnh.

Bồ
tát hạnh: “Ưng vô sở trụ, nhi sanh kỳ tâm”.

 

LỜI
TỰA  TẬP II

THIỀN
và QUÁN là tông chỉ của đạo Phật. Trên đường tu Phật,
thiền, quán là phương tiện đặc thù không thể không có
đối với một Phật tử. Bồ đề, Niết bàn là mục đích
cần đạt đến mà Thiền Quán được ví như hai cổ xe chuyên
chở lữ hành trên suốt lộ trình tiến về mục đích ấy.

Muốn
hiểu kinh Duy Ma Cật học giả phải vận dụng công phu trong
việc “Tư duy”, phải xử dụng nhiều “Quán trí”. Có “Tư duy
tu” trong “tĩnh lự” có quán chiếu sâu sắc mới thật thấy,
thật biết và thật chứng nhiều điều trong kinh nói. “Thập
huyền duyên khởi” là những đề tài Thiền Quán vi diệu thậm
thâm. Đọc, nghiên cứu kinh Bất Tư Nghì Giải Thoát Pháp Môn
mà không có khả năng tư duy không thể nhập Thập huyền duyên
khởi thì không thể nào hiểu đúng được tông chỉ mục
đích của kinh.

Để
chuẩn bị tư tưởng, trước khi nghiên cứu tập hai của bộ
kinh Duy Ma Cật, tôi trân trọng giới thiệu cùng quý đọc
giả về những đề tài Thiền Quán vi diệu thậm thâm ấy:

1.-
Đồng thời cụ túc tương ứng môn.

2.-
Nhất đa tương dung bất đồng môn.

3.-
Chư pháp tương túc tự tại môn.

4.-
Nhân đà la võng cảnh giới môn.

5.-
Vi tế tương dung an lập môn.

6.-
Bí mật ẩn hiển câu thành môn.

7.-
Chư tàng thuần tạp cụ đức môn.

8.-
Thập thế cách pháp dị thành môn.

9.-
Duy tâm hồi chuyển thiện thành môn.

10.-
Thác sự hiển pháp sanh giải môn.

Thiền
giả tư duy vạn pháp, nhận thức vạn pháp qua “mười mặt”
của một vấn đề. Thể nhập sâu sắc “Thập huyền duyên
khởi”. Thiền giả sẽ lý giải đúng ý nghĩa, quán triệt
hết tông chỉ mục đích của toàn kinh. Những chuyện nghe
như hoang đường, thần thoại, sau khi lý giải đúng tông chỉ
mục đích của kinh, thì ra đó không phải kinh có ý nghĩ chép
chuyện thần thoại hoang đường. Mà đó là nhằm mục đích
hướng dẫn cho người đệ tử Phật cách nhận thức vạn
pháp trong vũ trụ qua “mười mặt” của một vấn đề. Phải
nhận thức như thế mới biết bằng cái biết toàn diện,
thấy bằng cái thấy toàn diện của “một pháp”.

Thiền
của kinh Duy Ma Cật là Đại thừa thiền. Thiền mà không cần
trốn tránh trách nhiệm, không từ chối bổn phận trong việc
lợi lạc chúng sanh. Thiền giả có thể làm tất cả việc,
mà không luyến ái chấp thủ ở sự nghiệp, ở thành tích
của mình làm. Thiền giả cũng không cần xua đuổi chối bỏ
thành tích để hy vọng đổi lấy cảnh giới Niết bàn, Bồ
đề nào ở một thế giới xa xăm nếu có.

“Bất
tận hữu vi, bất trụ vô vi” là tinh thần Thiền của Duy Ma
Cật. Về tục đế, không một việc gì lợi ích chúng sanh
mà không làm. Bên chân đế, không thủ đắc một pháp dù
đó là Bồ đề, Niết bàn vô thượng.

Tu
học kinh Duy Ma Cật là tu học Bất Tư Nghì Giải Thoát Pháp
Môn, cho nên thành quả của hành giả chứng đắc phải là
Cảnh giới bất tư nghì giải thoát, nghĩa là giải thoát ngay
trong cuộc sống hiện tại, giải thoát ở trên mặt đất
này, ở trong mọi hoàn cảnh mà kinh điển thường gọi :”Bất
ly ư đương xứ”. 

Viết
tại Huỳnh Mai Tịnh Thất 

Ngày
20
tháng 12 năm 1991. 

Pháp

THÍCH TỪ THÔNG 

Kính
đề. 

 

 

CHƯƠNG
THỨ SÁU

BẤT
TƯ NGHÌ

1.- 
Ông Xá Lợi Phất thấy trong tịnh thất không có giường cũng
chẳng có một chiếc ghế nào. Ông bèn khởi ý nghĩ: Tịnh
thất trống trơn như thế này, chư Bồ tát và Thanh văn chúng
rồi sẽ ngồi vào đâu?

Biết
ý nghĩ của Ông Xá Lợi Phất, trưởng giả Duy Ma Cật bèn
hỏi:

– Thưa
ngài Xá Lợi Phất! ngài vì pháp đến đây hay vì chỗ ngồi
mà đến?

– Tôi
vì pháp mà đến chớ không phải vì chỗ ngồi. Ông Xá Lợi
Phất đáp.

– Thưa
ngài Xá Lợi Phất! người thực tâm cầu pháp, thân mạng
còn không đáng tiếc hà huống phải quan tâm nghĩ đến chỗ
ngồi. Cầu pháp phải quên đi cái thân ngũ uẩn. Cầu pháp
phải đóng bít lục căn, cắt đứt lục trần và vô hiệu
hóa hết cả lục thức.

Cầu
pháp không cầu những pháp triền phược tương quan trong cõi
Dục, cõi Sắc và cõi Vô Sắc.

– 
Thưa ngài Xá Lợi Phất! người cầu pháp không phải vì ham
quả vị Phật. Cầu pháp không phải vì đam mê giáo pháp.
Cầu pháp không phải vì cảm tình với chúng Tăng. Không vì
thấy khổ mà cầu pháp. Không vì đoạn tập mà cầu pháp.
Không vì chứng đắc Niết bàn mà cầu pháp. Và cũng không
vì nguyên nhân chứng đắc Niết bàn mà cầu pháp. Vì sao?
Vì pháp không phải hý luận. Nếu nói rằng ta vì thấy khổ,
vì đoạn tập, vì chứng Niết bàn, vì tu đạo mà cầu pháp
thì pháp đó trở thành hý luận, không phải cầu pháp.

– Thưa
ngài Xá Lợi Phất! Pháp là tịch diệt. Nếu biểu hiện qua
hành vi sanh diệt thì đó là cầu sanh diệt, chớ không phải
cầu pháp.

Pháp
là vô nhiễm. Nếu nhiễm ở pháp cho đến nhiễm Niết bàn,
thế là cầu nhiễm chớ không phải cầu pháp.

Pháp
không năng hành, sở hành. Nếu dụng ý hành ở nơi pháp, đó
là cầu năng hành sở hành chớ không phải cầu pháp.

Pháp
không có thủ xả. Đối với pháp mà có ý thủ xả, đó là
cầu thủ xả chớ không phải cầu pháp.

Pháp
không có xứ sở. Nếu chấp nê xứ sở, đó là cầu xứ sở
chớ không phải cầu pháp.

Pháp
là vô tướng. Nếu dựa trên tướng để nhận biết, đó
là cầu tướng chớ không phải cầu pháp.

Pháp
không được trụ. Nếu trụ ở nơi pháp, đó là cầu trụ
chớ không phải cầu pháp.

Pháp
không phải thấy, nghe, hiểu biết. Nếu biểu hiện qua thấy,
nghe, hiểu biết đó là cầu thấy, nghe, hiểu biết chớ không
phải cầu pháp.

Pháp
là vô vi. Nếu hiểu qua hữu vi, đó là cầu hữu vi chớ không
phải cầu pháp. Vì vậy cho nên:

– Thưa
ngài Xá Lợi Phất! nếu là người cầu pháp, đối với tất
cả không nên khởi ý niệm cầu.

Ông
Duy Ma Cật nói xong những điều trên, bấy giờ có năm trăm
thiên tử đối với các pháp có được cái nhận thức thanh
tịnh ( đắc pháp nhãn tịnh).

2.- 
Ông Duy Ma Cật hỏi Bồ tát Văn Thù rằng: Nhân giả từng
vân du vô lượng vô số cõi nước, Ngài biết cõi Phật nào
có tòa sư tử đẹp nhất do công đức trang nghiêm thành tựu?

– Có,
thưa cư sĩ. Bồ tát Văn Thù đáp. Ở về phương Đông, từ
đây phải trải qua ba mươi sáu hằng hà sa nước, có thế
giới tên Tu Di Tướng, đức Phật ở cõi nước đó hiệu
Tu Di Đăng Vương đang trụ thế. Thân Phật lớn tám muôn bốn
ngàn do tuần. Tòa sư tử của Phật cũng cao tám muôn bốn
ngàn do tuần, lộng lẫy trang nghiêm bậc nhất.

 Ông
Duy Ma Cật vận dụng hiện sức thần thông khiến ba muôn hai
ngàn tòa sư tử lộng lẫy trang nghiêm cao rộng tự chuyển
vào trong tịnh thất của ông trong khoảnh khắc.

Chư
Bồ tát, các đại đệ tử, Đế thích, Phạm thiên nghĩ rằng
việc này từ trước đến nay chưa từng thấy. Chu vi ngôi
tịnh thất hữu hạn chừng ấy, lại bao dung cả ba muôn hai
ngàn tòa sư tử đồ sộ thế kia mà không chướng ngại gì
nhau. Thành Tỳ Da Ly cũng có chừng mực phạm vi của nó thế
mà mọi hiện trạng đều y nguyên như cũ, không chật chội
hơn chút nào!

Ông
Duy Ma Cật mời Bồ tát Văn Thù và chư đại Bồ tát an tọa.
Các Bồ tát được thần thông tự biến thân cao lớn bốn
muôn hai ngàn do tuần, mới lên tòa ngồi được. Các Bồ tát
tân phát ý và hàng Thanh văn đại đệ tử đều không lên
ngồi được.

Trưởng
giả Duy Ma Cật mời ông Xá Lợi Phất thăng tòa.

Ông
Xá Lợi Phất nói: Thưa cư sĩ, tòa cao quá tôi không lên được.

Trưởng
giả Duy Ma Cật nói: Xá Lợi Phất! Ngài làm lễ đức Tu Di
Đăng Vương Như Lai rồi có thể lên tòa ngồi được.

Hàng
tân phát ý Bồ tát và tất cả đại đệ tử Thanh Văn làm
lễ đức Tu Di Đăng Vương Như Lai, bấy giờ mọi người đều
lên được tòa ngồi.

Ông
Xá Lợi Phất nói: Thưa cư sĩ! Quả là việc lạ lùng chưa
từng có. Diện tích của ngôi tịnh thất hữu hạn này mà
lại có thể dung chứa hàng mấy muôn cái tòa cao rộng. Thành
Tỳ Da Ly, xóm làng, cõi nước đều không chật chội trở
ngại gì nhau. Đây là việc chưa từng có!

Thưa
ngài Xá Lợi Phất! Ông Duy Ma Cật nói: Chư Phật, Bồ tát
có pháp môn giải thoát gọi là “Bất khả tư nghì”. Nếu Bồ
tát trụ trong pháp môn giải thoát đó, có thể lấy núi Tu
Di cao rộng để vào trong một hạt cải, mà núi Tu Di vẫn
y nguyên trạng, hạt cải cũng không thêm bớt chút nào. Trời
Tứ Thiên vương, Đao Lợi, chư Thiên không thể hay biết cảnh
giới chư Thiên đang ở trong hạt cải. Chỉ có những người
đáng độ (Bồ tát đăng địa), mới thấy biết núi Tu Di
được đặt vào trong hạt cải.

Bồ
tát trụ bất tư nghì giải thoát, có thể lấy nước biển
cả để vào lỗ chân lông mà nước biển cả vẫn y nhiên.
Các loài thủy tộc cá, tôm, rùa, trạnh v.v…không bị khuấy
động, Long vương, quỷ thần, A tu La…không hề hay biết và
họ chẳng bị nhiễu hại chút nào.

Bồ
tát trụ bất tư nghì giải thoát, còn xắn lấy ba ngàn đại
thiên thế giới để trên bàn tay và ném qua hằng hà sa thế
giới, rồi thu về đặt lại chỗ cũ, mà thế giới vẫn y
nhiên. Người người ở trong các thế giới kia không hề hay
biết về sự đi lại của mình.

3.-
Còn nữa thưa ngài Xá Lợi Phất! Nếu có chúng sanh thích sống
lâu ở đời, vì hóa độ họ, trong khoảng bảy ngày, Bồ
tát nói với họ là một kiếp, khiến chúng sanh kia tin nhận
là một kiếp. Hoặc có chúng sanh không thích sống lâu ở
đời, vì hóa độ họ, Bồ tát rút ngắn một kiếp nói là
bảy ngày, khiến chúng sanh kia tin nhận là bảy ngày.

Còn
nữa thưa ngài Xá Lợi Phất! Trụ bất tư nghì giải thoát,
Bồ tát lấy những sự trang trí đẹp đẽ của tất cả cõi
Phật nhóm lại ở một chỗ chỉ bày cho chúng sanh xem thấy
rõ ràng. Bồ tát lại lấy tất cả chúng sanh và cõi Phật
để trên bàn tay bay đến khắp mười phương, chỉ rõ cho
tất cả mà “bổn xứ” không hề động chuyển.

Thưa
ngài Xá Lợi Phất! Những món đồ cúng dường chư Phật trong
mười phương, Bồ tát có thể đem vào trong một lỗ chân
lông khiến cho ai cũng có thể được thấy.

Mười
phương cõi nước có bao nhiêu nhật nguyệt, tinh tú gom về
trong một lỗ chân lông, khiến cho xem thấy dễ dàng.

Mười
phương thế giới có bao nhiêu gió, Bồ tát hớp vào miệng
mà thân không hề tổn hại. Tất cả cỏ cây bên ngoài không
bị gãy đổ.

Mười
phương thế giới, khi kiếp tận, lửa cháy ngút trời, Bồ
tát hút tất cả lửa vào trong bụng, mà thân không bị hại.

Bồ
tát có thể lấy một cõi Phật ở hằng hà sa thế giới ở
hạ phương, cầm đem lên cách hằng hà sa số thế giới ở
thượng phương như cầm một que tăm găm vào một lá táo,
không khó khăn mệt nhọc chút nào.

Còn
nữa thưa ngài Xá Lợi Phất! Trụ bất tu nghì giải thoát,
Bồ tát có thể dùng thần thông hiện thân Bích chi Phật,
hoặc hiện thân Thanh văn, hoặc hiện thân Đế thích, hoặc
hiện thân Phạm vương. hoặc hiện thân Chuyển luân vương.

Lại
nữa, trong mười phương thế giới có bao nhiêu thứ âm thanh,
thượng, trung, hạ đều có thể biến thành âm thanh Phật,
diễn nói những pháp của chư Phật trong mười phương đã
nói như vô thường, khổ, không, vô ngã khiến cho chúng sanh
hữu duyên đều được nghe.

Thưa
ngài Xá Lợi Phất! Tôi lược nói về thần lực bất khả
tư nghì giải thoát của Bồ tát là thế. Nếu nói rộng suốt
kiếp cũng không thể nói hết được.

4.-
Ngài Đại Ca Diếp, sau khi nghe pháp môn bất khả tư nghì giải
thoát, rất hoan hỉ, tán thán và nói với ông Xá Lợi Phất
rằng:


như sắc tượng hiện hữu ngay trước mắt người mù nhưng
người mù không sao thấy được. Cũng vậy, với pháp môn
bất khả tư nghì giải thoát, hàng Thanh văn dù có nghe nhưng
cũng không hiểu rõ được.

Người
trí ai nghe mà chẳng phát tâm vô thượng Bồ đề.

Hàng
Thanh văn chúng ta vì sao lại dứt hẳn hạt giống đại thừa
để cho mầm tược cháy khô! Tất cả hàng Thanh văn nghe pháp
môn bất khả tư nghì giải thoát, nên khóc rống lên đi! Khóc
cho vang động cả ba ngàn đại thiên thế giới! Còn tất cả
những Bồ tát, những người chủng tánh đại thừa nên hoan
hỉ tiếp thụ, kê đầu đội lấy pháp môn này.

Bồ
tát tin và hiểu pháp môn bất khả tư nghì giải thoát, tất
cả các ma dù có thế lực bao nhiêu đi nữa cũng không làm
gì động chuyển.

Ngài
Đại Ca Diếp nói xong, khi bấy giờ có ba muôn hai ngàn thiên
tử phát tâm vô thượng Bồ đề.

Ông
Duy Ma Cật nói với ngài Đại Ca Diếp:

5.-
Thưa nhân giả! Trong thập phương vô lượng A tăng kỳ thế
giới, những người làm ma vương phần nhiều là Bồ tát trụ
bất tư nghì giải thoát, dùng sức phương tiện giáo hóa chúng
sanh mà hiện làm ma vương như vậy.

Lại
nữa, thưa ngài Ca Diếp! Bồ tát trong mười phương nhiều
vô số. Có khi người ta theo các ngài để xin mắt, mũi, tay,
chân, máu thịt, xương tủy, đầu óc…Xin quốc thành thê
tử, tượng mã, kim ngân…xin  cả y phục và thức ăn.
Người xin như vậy, phần nhiều là Bồ tát trụ bất khả
tư nghì giải thoát dùng sức phương tiện để thử thách
hạnh sở hành của Bồ tát khiến cho sức kiên cố càng thêm
kiên cố.

Thử
thách như vậy để làm gì?

Bởi
vì Bồ tát trụ bất tư nghì giải thoát có nghị lực và
uy đức lớn lao, cho nên dùng những hành động bức bách dồn
ép làm những việc khó làm để biểu thị sức tinh tấn,
chỉ bày đức nhẫn nhục…vì sự nghiệp giáo hóa chúng sanh.

Hạng
phàm phu hạ liệt không có uy lực, không thể kham chịu những
sự bức bách nghiệt ngã như Bồ tát được. Ví như sức
lừa không thể chịu nổi sự dẫm đạp của long tượng.

Đó
là pháp môn phương tiện và trí tuệ của Bồ tát trụ bất
khả tư nghì giải thoát pháp môn.

TRỰC
CHỈ

Bất
khả tư nghì có nghĩa là vượt ngoài khái niệm suy tư phân
biệt của sự hiểu biết thường tình. Sự kiện bất tư
nghì đồng nghĩa với những gì xưa nay chưa từng có mà nay
có.

Duy
Ma Cật là người bất tư nghì. Ông thuyết bất tư nghì pháp,
tập hợp bất tư nghì chúng để khởi động bất tư nghì
tâm, khiến cho những ai còn mơ hồ về khả năng  trí
tuệ của đại thừa, nhân cơ hội này đều được nghe qua
sự trình diễn “bất tư nghì cảnh”, của vị Bồ tát tại
gia là trưởng giả Duy Ma Cật.

1.-
Tịnh thất trống không tiêu biểu chân lý: vạn pháp giai không.

Một
thân nằm trên một giường, tiêu biểu pháp giới thân và
pháp giới độ viên dung, bất ly, bất tức.

Phật
có “Pháp thân, Báo thân, và Ứng thân”. Con người ai ai cũng
có ba thân như vậy. Về pháp thân thì ở Thánh cũng không
thể tốt thêm ra, ở phàm cũng không xấu bớt, nghĩa là pháp
thân thì Phật và chúng sanh cùng có y nhau. Chỉ có Báo và
Ứng hai thân này thì sự thọ dụng tùy phước đức và trí
huệ riêng khác của mỗi con người.


vậy, một thân nằm choán trên một giường và chỉ một giường
bệnh đơn độc ở trong một tịnh thất trống, đó là một
báo hiệu mở màn cho những thời pháp bất tư nghì ở các
chương sắp tới.

Đi
nghe pháp cốt để học chánh pháp, hành chánh pháp và sống
theo chánh pháp. Sống đúng chánh pháp tức là sống trong Bồ
đề Niết bàn rồi. Cho nên nghe pháp, học pháp không nên dụng
ý khởi tâm mong cầu. Cầu chứng đắc Bồ đề, Niết bàn
vẫn đã là sai huống chi cầu chỗ ngồi, nghĩ đến chỗ ngồi
và khởi tâm mong cầu những điều gì khác.

Sống
đúng theo chánh pháp đồng nghĩa với sống đúng pháp tánh.
Sống đúng pháp tánh tức là mình sống với Phật tánh của
mình rồi. Vì Phật tánh và Pháp tánh không hai. Vì tánh thanh
tịnh bản nhiên của chúng sanh vô tình trong vũ trụ vạn hữu
gọi là pháp tánh. Tánh thanh tịnh bản nhiên của chúng sanh
hữu tình, của con người gọi là Phật tánh. Ví như cùng
là lửa do đốt rơm hay đốt than đá mà tên của lửa và
độ nóng của lửa khác nhau.

2.-
Bồ tát trụ trong pháp môn bất tư nghì có thể làm tất cả
việc bất tư nghì do Bồ tát xử dụng “Quán trí” bất tư
nghì vậy.

Xử
dụng Quán trí bất tư nghì, Bồ tát thấy và hiểu biết rõ
tánh duyên khởi huyền diệu của vạn pháp như sau:

a.-
Đồng thời cụ túc tương ứng môn : Bồ tát xử dụng quán
trí biết và thấy rõ ràng một pháp có đủ chủng tử, chất
liệu của vạn pháp tự nó ứng hợp lại với nhau mà hình
thành.

b.-
Nhất đa tương dung bất đồng môn: Một là một của cái
nhiều. Nhiều là nhiều của cái một. Một và nhiều dung nhiếp
quyện chặt với nhau. Trong cái nhiều có nhiều cái một. Cái
một là yếu tố cấu tạo nên cái nhiều. Dù vậy tướng
một và tướng nhiều không hai mà cũng không phải một.

c.-
Chư pháp tương tức tự tại môn: Pháp này tức là pháp kia.
Pháp kia tức là pháp này. Trong pháp này hàm chứa chủng tử
của pháp kia. Trong tất cả pháp kia có chứa chất liệu chủng
tử của pháp này. Chủng tử của vạn pháp trùng trùng duyên
khởi cho nhau, tương túc tương nhập một cách tự tại.

    
d.- Nhân đà la võng cảnh giới môn: Nhân đà la võng là màn
lưới châu nhiều lớp của Thiên Đế Thích. Lưới châu này
ánh hiện hình ảnh trùng trùng, cho nên sự phản chiếu và
ánh hiện của lưới châu vô tận. Hiện tượng vạn pháp
tương ưng, tương dung, tương tức, tương nhập tác dụng lẫn
nhau mà hình thành, sự tương quan tác dụng đó như sự ánh
hiện của lưới châu trời.

    
e.- Vi tế tương dung an lập môn:  Dù vật nhỏ như một
mảy may hay ở một điểm vi tế nào cũng hàm dung chất liệu
của tất cả hiện tượng vạn pháp. Ví như đầu mảy lông
của con sư tử vàng cùng với chất vàng của toàn thân con
sư tử tương dung tương tức mà an lập hình thành ra sư tử
vàng.

   
f.- Bí mật ẩn hiển câu thành môn: Một pháp tức là tất
cả các pháp. Khi thấy biết một pháp thì một pháp hiển,
tất cả pháp ẩn. Bấy giờ, tất cả pháp tức là một pháp.
Khi thấy biết tất cả pháp thì tất cả pháp hiển, một
pháp ẩn. Bấy giờ, một pháp là tất cả pháp. Ví như ngôi
nhà và nguyên liệu xây dựng ngôi nhà.

   
g.- Chư tàng thuần tạp cụ đức môn:  Mỗi pháp là một
chỉnh thể hàm tàng hỗn hợp. Những pháp do hỗn hợp nhiều
chất liệu, nhiều yếu tố mà thành gọi là tạp. Có pháp
không do nhiều chất tương đối có tính đơn thuần  hỗn
hợp mà vẫn được thành, gọi đó là thuần.  Dù thuần
dù tạp pháp nào cũng có vị trí của nó và tương quan tác
dụng với nhau để hình thành vạn pháp trong thế giới hiện
tượng.

   
h.- Thập thế cách pháp dị thành môn: Dựa trên bảy môn trên,
thiền giả quán chiếu nhận thức vạn pháp bên mặt không
gian, không có pháp nào đơn độc tự nó hình thành ra nó.
Về mặt thời gian cũng thế. Khái niệm thời gian là dựa
trên quá trình vận động biến chuyển vô thường của sự
vật hiện tượng. Đã là biến chuyển vận động vô thường
thì không thể có một phút giây dừng đứng. Cho nên, đời
chỉ là một khái niệm ước định nhận thức của con người.
Chơn thật mà nói, đời không có gì làm điểm tựa. Quá,
hiện. vị lai gọi là ba đời. Kỳ thật trong quá khứ đã
có đủ quá, hiện, vị lai. Trong hiện tại đã có quá, hiện,
vị lai và vị lai vẫn đã có quá, hiện, vị lai. Chín đời
tổng hợp thành một đời. Một đời do chín đời hợp lại.
Cho nên gọi là thập thế cách pháp dị thành nghĩa là chín
đời dị biệt lại có thể thành tựu một đời.

   
i.- Duy tâm hồi chuyển thiện thành môn: Duy tâm tức là Duy
Như Lai tàng tâm. Tất cả vạn pháp duy Như Lai tàng tâm mà
chuyển biến xoay vần, duyên khởi tác dụng vào nhau hình thành
một cách mầu nhiệm. Cho nên gọi là Duy tâm hồi chuyển thiện
thành.

   
j.- Thác sự hiển pháp sanh giải môn: Dựa trên sự vật cụ
thể phô diễn trước mắt, người ta có thể suy luận, tư
duy và nhận thức vạn pháp một cách không khó khăn về cả
hai mặt: không gian và thời gian. Người thiền giả nhận thức
rõ sự tổ hợp hình thành của vạn pháp với chân lý trùng
trùng duyên khởi qua Thập huyền môn cũng là một chân lý
hiển nhiển không khó khăn gì.

Thể
nhập sâu sắc chân lý của vạn pháp qua thập huyền duyên
khởi, người học Phật mới cắt nghĩa được những bất
tư nghì sự của Bồ tát thi thố, mới hiểu đúng những bất
tư nghì pháp của Bồ tát nói, mới thật thấy mà không phải
thấy thật những bất tư nghì cảnh giới mà Bồ tát trình
diễn ở kinh Duy Ma Cật Sở Thuyết này.

Tòa
sư tử cao rộng 84.000 do tuần (một do tuần 30 km), vậy  
84.000 x 30 = 2.520.000 km. Thế là một tòa sư tử chiếm diện
tích: hai triệu năm trăm hai chục ngàn cây số. Vậy mà trưởng
giả Duy Ma Cật mượn về và đem vào tịnh thất của mình
ba muôn hai ngàn tòa sư tử cao rộng như thế. Thế mà tịnh
thất vẫn dung chứa hết. Thành Tỳ Da Ly, xóm làng cũng không
chật chội hơn chút nào.

Sự
kiện này, kinh Duy Ma Cật muốn nói gì đây? Người đệ tử
Phật phải tin hiểu cách nào? Pháp sư truyền bá chánh pháp
phải giảng dạy như thế nào để cho người đệ tử Phật
sau khi học pháp không ngu đần mê tín dị đoan hơn lúc chưa
đi nghe pháp.

Giải
đáp mấy nghi vấn vừa nêu, người học Phật chỉ có một
con đường duy nhất phải hành thiền, phải tư duy và quán
chiếu thập huyền duyên khởi cho thấu triệt, thể nhập tận
tường. Bấy giờ trí tuệ của thiền giả phát triển thì
sự thấy nghe và nhận thức vạn pháp xuyên qua kinh điển
không lầm.

Bồ
tát trụ bất tư nghì giải thoát làm những việc bất tư
nghì…là cách vận dụng ngôn ngữ để chuyên chở trí tuệ
bất tư nghì của con người thành tựu nhất thiết chủng
trí.

Xử
dụng nhất thiết chủng trí nhìn bất cứ một pháp nào đều
thấy :Đồng thời cụ túc tương ứng.

Xử
dụng nhất thiết chủng trí nhìn vạn pháp, thiền giả sẽ
thấy: Chư pháp tương tức tự tại.

Xử
dụng nhất thiết chủng trí nhìn vạn pháp, thiền giả sẽ
thấy: Nhất đa tương dung bất đồng.

Xử
dụng nhất thiết chủng trí nhìn vạn pháp, thiền giả sẽ
biết: Quảng hiếp tự tại vô ngại.

Kinh
nói trưởng giả Duy Ma Cật mượn ba muôn hai ngàn tòa sư tử
cao rộng 84.000 do tuần ở thế giới thượng phương đem vào
trong thất mà tịnh thất vẫn dung nạp hết. Thành Tỳ Da Ly
và xóm làng không hề chật chội và chẳng trở ngại gì.

Mở
gút nghi ngờ đó, thiền giả phải xử dụng nhất thiết chủng
trí nhìn vạn pháp qua tri kiến: Quảng hiếp tự tại vô ngại.
Thiền giả thấy rằng: sự rộng, hẹp, lớn, nhỏ của vạn
pháp trên hiện tượng chỉ là hiện tượng. Còn bản thể
của vạn pháp thì tương ứng, tương dung, tương tức, tương
nhập, tương thành.

Người
học Phật và là đệ tử Phật chơn chánh tuyệt đối không
được khởi niệm tin rằng Bồ tát Duy Ma Cật có tài phép
biến hóa như một nhà ảo thuật, như một thôi miên gia…

3.-Nói
về việc kéo dài thời gian ngắn ra dài, dài rút ngắn để
đáp ứng nguyện vọng của chúng sanh cốt là khiến cho họ
quay về với Phật pháp.

Làm
được điều đó, thiền giả chỉ cần xử dụng quán trí:
Thập thế cách pháp dị thành. Thành tựu phép quán đó, thiền
giả chợt thấy thời gian chẳng có giá trị chơn thật. Khái
niệm thời gian chỉ là dựa trên sự vô thường vận động
chuyển biến của các pháp hữu vi vẫn luôn luôn chuyển biến
vận động vô thường.

Do
vậy, dưới mắt của người thành tựu nhất thiết chủng
trí thời gian ngắn dài chỉ là hí luận để luận thuyết
với những ai còn mê mộng chân lý cuộc đời.

Xử
dụng nhất thiết chủng trí nhìn vạn pháp qua lăng kính Bát
nhã Ba la mật, thiền giả sẽ thấy vạn pháp giai không thì
không gian và thời gian dù có diễn tả thiên ngôn vạn ngữ
bùi tai đẹp ý cách nào thì cũng chỉ là hí luận mà thôi.

Người
học Phật không tư duy sâu sắc, không thể nhập ý nghĩa Thập
huyền duyên khởi mà đem kinh Duy Ma Cật ra giảng nói lếu
láo, qua loa càng khiến cho những người Phật tử chưa có
điều kiện học Phật vốn đã mê tín, sau thời gian đi nghe
giảng kinh Duy Ma, óc mê tín càng tăng thêm vạn bội.

Bởi
vì trưởng giả Duy Ma Cật là người bất tư nghì, tập hợp
bất tư nghì chúng, thuyết bất tư nghì pháp, làm bất tư
nghì sự, trình diễn bất tư nghì cảnh giới, trụ bất tư
nghì giải thoát pháp môn, nhưng bất tư nghì không được
hiểu như người có tài phép biến hóa. Càng không được
hiểu bất tư nghì đồng nghĩa với sự khéo tay trình diễn
trước công chúng của các nhà ảo thuật thiên tài.

4.-
Hàng Thanh văn sau khi nghe bất tư nghì sự của Bồ tát rồi
tự trách về tri kiến mình và sau đó, phát tâm Vô thượng
Bồ đề, đó là chân lý đương nhiên vậy.

5.-
Có lửa cao mới biết tuổi vàng. Có chiến đấu mới thể
hiện khả năng của dũng sĩ. Bồ tát thì phải làm cho được
những việc khó làm. Để trắc nghiệm mức độ thành công
của Bồ tát là những sự bức bách, những bất như ý, khó
khăn Bồ tát phải vận dụng sức trí tuệ đáp ứng mọi
tình huống, mọi yêu cầu để hoàn thành hạnh nguyện. Vì
tất cả chủng loại chúng sanh là Tịnh Độ của Bồ tát.

 

  

CHƯƠNG
THỨ
BẢY 

QUÁN
CHÚNG
SANH 

1.-
Bồ
tát Văn Thù Sư Lợi hỏi ông Duy Ma Cật rằng: Đối với
chúng sanh, Bồ tát quán chiếu và thấy như thế nào?

Ông
Duy Ma Cật nói: Bồ tát quán thấy chúng sanh như nhà huyễn
thuật thấy người huyễn do huyễn thuật hóa ra. Lại ví như
như người trí thấy trăng trong nước, như bóng trong gương,
như sóng nắng lúc trời nắng gắt của ngày hè, như vang của
tiếng, như mây trong không, như bọt trên mặt nước, như bong
bóng dưới cơn mưa, như sự bền chắc của cây chuối, như
sự dừng lâu của tia chớp lưng trời, như đại thứ tám,
như ấm thứ sáu, như nhập thứ mười ba, như giới thứ mười
chín.

Bồ
tát quán chúng sanh như thế đấy.

Lại
nữa, Bồ tát quán thấy chúng sanh: như sắc chất trong cõi
vô sắc, như mầm của thóc rang, như thân kiến của người
được quả Tu Đà hoàn, như sự nhập thai của người được
quả A la hán, như tham, sân, si của Bồ tát được chứng pháp
vô sanh nhẫn, như phiền não tập khí của Phật, như sự thấy
màu sắc của người mù, như dấu chim trong hư không, như con
của thạch nữ, như phiền não của huyễn nhơn, như chiêm
bao lúc thức, như lửa không khói.

Bồ
tát quán thấy chúng sanh như thế đấy. Thưa ngài Văn Thù
Sư Lợi!

2.-
Bồ tát Văn Thù Sư Lợi hỏi: Bồ tát đã khởi quán chúng
sanh như vậy, thế còn hạnh từ bi Bồ tát phải thực hiện
hạnh từ bi của mình đối với chúng sanh bằng cách nào?

Ông
Duy Ma Cật nói: Bồ tát khởi quán như thế rồi tự nghĩ rằng
ta sẽ vì chúng sanh mà nói pháp như thế đó là hành chơn
thật từ. Tiếp đến, Bồ tát vận dụng: 

Hành
tịch diệt từ biết rõ các pháp vốn không sanh. 

Hành
bất
nhiệt từ không để cho phiền não sanh khởi trong lòng. 

Hành
bình
đẳng từ với quá khứ, hiện tại, vị lai thời nào
tâm cũng bình đẳng. 

Hành

tránh từ không khởi ý tranh cải thị phi. 

Hành
bất
nhị từ cắt đứt ý phân biệt ngoại cảnh nội tâm. 

Hành
bất
hoại từ biết rõ tánh rốt ráo không của các pháp. 

Hành
kiên
cố từ tâm thâm tín chánh pháp không gì lay động nổi. 

Hành
thanh
tịnh từ biết rõ tánh của vạn pháp vốn thanh tịnh. 

Hành

biên từ tâm rỗng lặng cởi mở như hư không. 

Hành
La
hán từ đề cao cảnh giác hóa giải hết những phiền não
kiết sử. 

Hành
Bồ
tát từ sẳn sàng đem lại mọi an ổn hạnh phúc cho chúng
sanh. 

Hành
Như
lai từ thể nhập cái tướng như của vạn pháp. 

Hành
Phật
đà từ đem hết cuộc đời mình truyền bá tư tưởng
tỉnh thức giác ngộ cho chúng sanh. 

Hành
tự
nhiên từ biết rõ quả sở chứng không hề có đắc. 

Hành
Bồ
đề từ biết rõ tất cả giáo pháp Phật chỉ có một
vị đó là vị giải thoát. 

Hành

đẳng từ cắt đứt trọn vẹn các ái tưởng nhiễm tâm. 

Hành
đại
bi từ dắt dẫn mọi người vào đại thừa đạo. 

Hành

yểm từ tâm luôn luôn trụ trong quán trí vô ngã và không. 

Hành
pháp
thí từ không dấu diếm chúng sanh về sự hiểu biết
chánh pháp của mình. 

Hành
trì
giới từ sẳn sàng giúp đở, cảm hóa những ai phạm
giới. 

Hành
nhẫn
nhục từ giúp đở người khác như giúp đở cho chính
ta. 

Hành
tinh
tấn từ gánh vác trọng trách giáo hóa chúng sanh. 

Hành
thiền
định từ không đam mê vị khinh an của thiền định. 

Hành
trí
tuệ từ luôn luôn biết việc, biết thời, biết tà, biết
chánh. 

Hành
phương
tiện từ tất cả thi vi hành động đều là việc
làm của thị hiện. 

Hành

ẩn từ tâm lúc nào cũng trực và luôn luôn thanh tịnh. 

Hành
thâm
tâm từ dù hành các hạnh mà không có tạp hạnh. 

Hành

cuống từ không làm những gì có tánh dối gạt phỉnh
phờ. 

Hành
an
lạc từ bằng mọi cách khiến cho mọi người thọ dụng
được cái vui của Phật đạo.

Thưa
ngài đại trí Văn Thù! Thực hiện hạnh từ của Bồ tát
là như thế đấy.

– Bồ
tát Văn Thù hỏi: Thưa cư sĩ! Thế nào là Bi tâm của Bồ
tát?

– Ông
Duy Ma Cật đáp: tất cả công đức của Bồ tát làm đều
cho chúng sanh hết.

– Hỉ
tâm của Bồ tát thế nào?

– Chúng
sanh được những lợi lạc gì, Bồ tát đều tán thán vui
mừng không có hối tiếc.

– Xả
tâm của Bồ tát thế nào?

– Bồ
tát làm bao nhiêu việc phước đức, cứu độ cho chúng sanh
được những gì không có niệm ta là kẻ thi ân và đặt hy
vọng chờ ngày đền trả.

3.-
Đường sanh tử rất đáng sợ, Bồ tát phải nương tựa nơi
gì để được an ổn?

– Nương
nơi nghị lực và công đức Như Lai.

– Bồ
tát muốn nương tựa nghị lực và công đức Như lai cần
phải trụ tâm ở nơi nào?

– Trụ
ở tâm độ thoát tất cả chúng sanh.

– Muốn
độ thoát tất cả chúng sanh, Bồ tát phải trừ bỏ những
gì?

– Phải
trừ bỏ tất cả những phiền não.

– Muốn
trừ bỏ phiền não, Bồ tát phải thực hành những gì?

– Phải
thực hành chánh niệm.

– Thực
hành chánh niệm phải làm sao?

– Muốn
thực hành chánh niệm phải hành bất sanh, bất diệt.

– Pháp
nào bất sanh, pháp nào bất diệt?

– Pháp
bất thiện bất sanh. Pháp thiện bất diệt.

– Pháp
thiện và bất thiện lấy gì làm gốc?

– Thân
làm gốc.

– Thân
lấy gì làm gốc?

– Dục
và tham làm gốc.

– Dục
và tham lấy gì làm gốc?

– Hư
vọng phân biệt làm gốc.

– Hư
vọng phân biệt lấy gì làm gốc?

– Tướng
điên đảo làm gốc.

– Tướng
điên đảo lấy gì làm gốc?

– Vô
trụ làm gốc.

– Vô
trụ lấy gì làm gốc?

– Vô
trụ thì không có gốc.

Thưa
ngài Văn Thù Sư Lợi! Ông Duy Ma Cật nói: Từ chỗ vô trụ
mà an lập tất cả pháp.

4.-
Trong tịnh thất của ngài Duy Ma Cật có vị thiên nữ. Thấy
hàng nhơn thiên nghe pháp, thiên nữ bèn hiện thân và dùng
hoa cõi trời tung rải trên các hàng Bồ tát và đại đệ
tử Thanh văn cúng dường. Hoa rơi đến các Bồ tát, rớt xuống
bình thường. Những hoa rơi nhằm các đại đệ tử thì dính
trên người không rớt. Các đại đệ tử dùng hết thần
lực phủi bỏ những hoa kia nhưng phủi mãi mà hoa không rớt
được.

Thiên
nữ hỏi ông Xá Lợi Phất: Vì sao ngài Xá Lợi Phất lại
phủi hoa như thế?

Ông
Xá Lợi Phất đáp: Vì hoa này không đúng pháp đối với một
tu sĩ như chúng tôi.

Thiên
nữ nói: Đừng cho rằng hoa này không đúng pháp. Vì sao? Vì
hoa không có phân biệt, tại vì Xá Lợi Phất  ngài có
cái tướng phân biệt đấy thôi. Ở trong Phật pháp, xuất
gia mà còn có phân biệt đó là không đúng pháp. Nếu không
phân biệt thế mới là đúng pháp.


Lợi Phất! Ngài hãy xem kia, các Bồ tát hoa không dính các
ngài vì Bồ tát đã dứt hết tướng phân biệt. Ví như người
hay sợ thì quỷ mị mới có dịp khuấy phá khủng bố. Các
hàng đệ tử Thanh văn sợ sanh tử cho nên sắc, thanh, hương,
vị, xúc, pháp trở thành đối tượng nhiễu loạn cõi lòng.
Nếu đã ly sự sợ hãi thì ngũ dục không làm gì được.
Chỉ vì tập khí kiết sử của ngài chưa hết cho nên hoa dính
mắc vào thân, khi nào tập khí hết hoa sẽ không còn dính
nữa.

5.-
Ông Xá Lợi Phất hỏi: Thiên nữ ở tại tịnh thất này đã
lâu rồi chứ?

– Thiên
nữ đáp: Tôi ở tại tịnh thất này như sự giải thoát của
bậc kỳ cựu cao niên.

– Vậy
có lâu chưa?

– Sự
giải thoát của bậc kỳ cựu cao niên há cũng có lâu sao?

Ông
Xá Lợi Phất lặng thinh không biết phải nói gì.

Thiên
nữ nói: Bậc kỳ cựu đại trí như ngài Xá Lợi Phất sao
lại lặng thinh?

– Sự
giải thoát vượt ngoài ngôn thuyết văn tự cho nên tôi không
biết phải nói gì!

– Văn
tự ngôn thuyết là tướng giải thoát đấy chứ! Vì sao? Vì
giải thoát không ở trong, không ở ngoài, không ở trung gian.
Văn tự cũng không ở trong, không ở ngoài, cũng không ở trung
gian.

Thế
cho nên không rời văn tự mà nói giải thoát thưa ngài Xá
Lợi Phất! Bởi vì sao? Vì tất cả các pháp là tướng giải
thoát.

– Không
xa lìa dâm nộ si vẫn được giải thoát nữa sao?

– Đúng
vậy, Phật vì hạng người tăng thượng mạn nói: Phải xa
lìa dâm nộ si để được giải thoát. Nếu không phải hạng
tăng thượng mạn, Phật nói tánh của dâm nộ si là tánh giải
thoát.

6.-
Ông Xá Lợi Phất tán thán: Quí hóa thay! Quí hóa thay Thiên
nữ! Cô đắc gì? Cô chứng được gì mà cô có được sức
biện tài như thế?

– Tôi
không đắc gì hết cũng không chứng gì hết nên tôi mới
có được biện tài như thế. Vì sao? Bởi vì có chứng có
đắc ở trong Phật pháp là người tăng thượng mạn. 7.- Ông
Xá Lợi Phất hỏi thiên nử: Ở trong ba thừa cô cầu thừa
nào?  

– 
Thiên nữ đáp: Khi cần pháp Thanh văn giáo hoá chúng sanh tôi
cầu Thanh văn thừa. Khi cần pháp nhân duyên giáo hóa chúng
sanh tôi cầu Bích chi Phật thừa. Khi cần pháp đại bi giáo
hóa chúng sanh tôi cầu Đại thừa.

– Thưa
ngài Xá Lợi Phất! Ví như người vào rừng chiêm bặc chỉ
ngửi hương chiêm bặc, không ngửi hương khác. Cũng vậy,
nếu người vào tịnh thất này chỉ nghe hương công đức
của chư Phật, không ưa nghe hương công đức của Bích chi
Phật, của Thanh văn.

8.-
Thưa ngài Xá Lợi Phất! Ở trong tịnh thất này, thỉnh thoảng
có Đế Thích, Phạm Thiên, Tứ Thiên Vương, chư Thiên Long,
quỷ thần vào và nghe Duy Ma Cật thượng nhơn thuyết chánh
pháp. Tất cả đều vui ưa hương công đức Phật phát tâm
rồi đi.

Ngài
Xá Lợi Phất này! Tôi ở tịnh thất này đã mười hai năm.
Ngay từ ban đầu, không bao giờ nghe thuyết pháp Thanh văn,
Bích chi Phật, tôi chỉ nghe pháp đại từ, đại bi của Bồ
tát và pháp bất tư nghì của Phật.

Thưa
ngài Xá Lợi Phất! Tịnh thất này thường hiện tám pháp
chưa từng có và khó được.

Tịnh
thất này thường dùng màu hoàng kim soi sáng ngày cũng như
đêm mà không cần đến ánh sáng của nhật nguyệt. Đó là
pháp chưa từng có, khó được thứ nhất.

Người
vào tịnh thất này không bị các sự cấu uế làm não loạn
thân tâm. Đó là pháp chưa từng có, khó được thứ hai.

Tịnh
thất này thường có Đế Thích, Phạm Vương và chư Bồ tát
ở mười phương đến nhóm họp thường xuyên. Đó là pháp
chưa từng có, khó được thứ ba.


tịnh thất này thường có thuyết giảng về lục ba la mật
và những pháp bất thối chuyển. Đó là pháp chưa từng có,
khó được thứ tư.


tịnh thất này thường ngân vang những pháp âm vi diệu, tác
động cho nhơn thiên tiếp nhận niềm vui thượng diệu. Đó
là pháp chưa từng có, khó được thứ năm.


tịnh thất này có kho tàng tứ đại chứa đầy các báu vật,
giúp cho những ai nghèo thiếu, cung cấp hoài không hết. Đó
là pháp chưa từng có, khó được thứ sáu.


tịnh thất này khi Duy Ma Cật thượng nhơn khởi tưởng niệm
thì Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật A Di Đà, Phật A Súc, Phật
Bảo Đức, Phật Bảo Viêm, Phật Bảo Nguyệt, Phật Bảo Nghiêm,
Phật Nan Thắng, Phật Sư Tử Hướng, Phật Nhất Thiết Lợi
Thành v.v…vô lượng chư Phật trong mười phương cùng đến
nói hết những pháp yếu bí tàng của chư Phật. Nói xong rồi,
chư Phật trở về bản quốc. Đó là pháp chưa từng có, khó
được thứ bảy.


tịnh thất này tất cả cung điện lộng lẫy, đẹp đẽ của
chư Thiên và các Tịnh độ của chư Phật đều hiển hiện
ở tịnh thất này. Đó là pháp chưa từng có, khó được
thứ tám.

Thưa
ngài Xá Lợi Phất! Tịnh thất này thường hiện tám pháp
chưa từng có, khó được như vậy. Ai đã thấy biết những
việc bất tư nghì như thế mà lại còn ưa thích những pháp
Thanh văn!

9.-
Ông Xá Lợi Phất hỏi: Tại sao thiên nữ không chuyển đổi
nữ thân?

Thiên
nữ nói : Từ mười hai năm, tôi tìm cái tướng nữ thân không
có. Tôi biết phải chuyển gì? Ví như huyễn sư hóa làm người
nữ huyễn. Nếu có người hỏi: “Vì sao không chuyển nữ thân”.
Câu hỏi đó có đúng lý không?

Ông
Xá Lợi Phất đáp: Không đúng. Đã huyễn thì không có tướng
cố định. Biết chuyển cái gì!

Thiên
nữ nói: Tất cả các pháp cũng như vậy. Không có tướng
cố định. Thế tại sao ngài hỏi tôi: “Vì sao không chuyển
đổi nữ thân?”

Liền
đó, thiên nữ dùng sức thần thông biến ông Xá Lợi Phất
y như thiên nữ. Thiên nữ hóa mình y như ông Xá Lợi Phất
và hỏi: “Vì sao ngài Xá Lợi Phất không chuyển nữ thân?”

Trong
dáng mạo Thiên nữ, ông Xá Lợi Phất đáp: “Tôi không biết
chuyển thế nào mà biến làm thân nữ như vầy”.

Thiên
nữ nói: Ngài Xá Lợi Phất mà có thể chuyển ra thân nữ
như thế thì tất cả người nữ sẽ có thể chuyển được.
Ngài Xá Lợi Phất không phải nữ mà hiện thân nữ thì tất
cả người nữ không phải nam lại cũng có thể hiện thân
nam. Ngài Xá Lợi Phất dù hiện thân nữ mà không phải nữ.
Thế cho nên Phật nói: “Tất cả pháp phi nam phi nữ”.

Ngay
bấy giờ, Thiên nữ thâu nhiếp thần lực, ông Xá Lợi Phất
hoàn hình như cũ.

– Thiên
nữ hỏi: Hình mạo nữ thân của ngài ở đâu?

– Xá
Lợi Phất đáp: Hình mạo nữ thân của tôi không ở đâu,
không đâu chẳng ở.

– Tất
cả các pháp cũng lại như vậy. Không ở đâu, không đâu
chẳng ở. Cái đạo lý: không ở đâu, không đâu chẳng ở
là chân lý đức Phật đã nói ra.

– Thiên
nữ! Người chết ở cõi này rồi sẽ sanh ở đâu?

– Đức
hóa Phật sanh đâu, tôi sanh ở đó.

– Sự
sanh của đức hóa Phật không có chết và cũng không có sanh.

– Chúng
sanh cũng vậy. Không có chết cũng không có sanh.

– Chừng
nào người được quả vô thượng Bồ Đề, thưa Thiên nữ?

– Chừng
nào ngài Xá Lợi Phất trở lại làm phàm phu thì tôi mới
thành vô thượng Bồ đề.

– Tôi
không bao giờ trở lại làm phàm phu.

– Thì
tôi cũng không bao giờ được quả vô thượng Bồ đề. Vì
sao? Vì Bồ đề “vô sở trụ”. Thế nên Bồ đề không có
cái được.

– Chư
Phật đã được, đang được và sẽ được vô thượng Bồ
đề nhiều như số cát sông Hằng. Điều đó gọi là gì?

– Đó
là dựa trên văn tự và số mục của thế gian tục đế mà
có ba đời, chứ không phải quả vô thượng Bồ đề có quá
khứ, hiện tại, vị lai.

– Thưa
ngài Xá Lợi Phất! Ngài được quả A la hán chứ?

– Không
có được, mà được.

– Chư
Phật và Bồ tát cũng vậy. Không có được cho nên được.

 Ông
Duy Ma Cật nói với ông Xá Lợi Phất: Thiên nữ này từng
cúng dường chín mươi hai ức đức Phật, đã được thần
thông du hí, đầy đủ sở nguyện Bồ tát được vô sanh nhẫn,
trụ bất thối chuyển địa. Do bổn nguyện giáo hóa chúng
sanh, có thể hiện thân tùy theo ý muốn.

TRỰC
CHỈ

1.-
Quán tức là chữ Quan. Nếu đọc là Quan thì có nghĩa là quan
sát.Quan sát là nhìn sự vật bằng cách đưa mắt mà trông
mà nhìn. Nhìn đến đâu thấy đến đấy.Lệch khỏi tầm
nhìn thì không thấy được. Khi đọc là Quán, có nghĩa là
quán chiếu. Thấy bằng quán chiếu, cái thấy này không cần
phải trông, nhìn ở nơi sự vật. Cái quán chiếu là thấy
bằng trí tuệ và biết bằng trí tuệ.

Chúng
sanh, không riêng gì loài hữu tình mới gọi là chúng sanh.
Với Phật pháp, tất cả vạn loại vô tình cũng là chúng
sanh. Các loài hữu tình gọi là hữu tình chúng sanh. Vạn loại
vô tình thì gọi là vô tình chúng sanh.

Quán
chúng sanh ở chương này là quán cả hai loại chúng sanh.

Dưới
tuệ nhãn của một đại sĩ qua sự quán chiếu của mình,
Bồ tát thấy chúng sanh:

– Như
người huyễn.

– Như
trăng trong nước.

– Như
sóng nắng trưa ngày hè.

– Như
vang của tiếng.

– Như
mây trên không trung.

– Như
bọt trên mặt nước.

– Như
bong bóng dưới cơn mưa.

– Như
sự cứng chắc của cây chuối.

– Như
sự dừng lâu của tia chớp.

– Như
đại thứ tám, ấm thứ sáu, nhập thứ mười ba, giới thứ
mười chín.

Tất
cả những thứ đó, ý muốn nói: đó là những thứ không
có. Không hề có từ trước tới nay và từ nay về sau cũng
vĩnh viễn không có.

– Sắc
trong cõi vô sắc.

– Mầm
của hạt thóc rang.

– Thân
kiến của Tu đà Hoàn.

– Đầu
thai của A na Hàm.

– Tam
độc của A la Hán.

– Tham,
sân, si của Bồ tát.

– Phiền
não của Phật.

– Sự
thấy sắc của người mù.

– Dấu
chim trong hư không.

– Con
của người thạch nữ.

– Sự
phẩn nộ của hóa nhơn.

– Chiêm
bao lúc thức.

Tất
cả những thứ đó là những thứ chỉ có danh mà không hề
có thật. Bồ tát quán chúng sanh như tất cả những thứ đó.
Thế thì qua tuệ nhãn của Bồ tát, tất cả chúng sanh có,
nhưng không thật có, vì nó không trường cữu, không bền
chắc. Nó chỉ là hiện tượng. Nó là hiện tượng trong vô
vàn hiện tượng vạn pháp mà thôi.

Do
vậy, trước nhãn quang của đại sĩ: Vạn pháp giai không.
Cho nên chúng sanh cũng không có thật.

2.-
Đáp câu hỏi của Đại trí Văn Thù, Trưởng giả Duy Ma Cật
nói:

Thực
hiện hạnh từ có thể biểu thị nhiều cách từ ý nghĩ đến
hành động cụ thể giúp cho chúng sanh có an vui hạnh phúc
trong đời sống của họ. Tuy nhiên sự hạnh phúc an vui trong
cuộc sống vật chất chưa có giá trị chơn thật, nếu nguồn
sáng trí tuệ của họ chưa được phát huy.

Bồ
tát thực thiện hạnh từ, phải quán triệt những chân lý
vô thường, khổ, không, vô ngã như thế mà khai thị, khiến
cho chúng sanh tỏ ngộ thâm sâu. Chừng đó chúng sanh có được
sự an vui hạnh phúc thật sự và lâu dài.

Đó
là cách Bồ tát thực hành hạnh từ chơn thật. Và chỉ có
cách đó mới được xem là chơn thật từ.

Triển
khai rộng về lòng từ, Bồ tát vận dụng:

Tich
diệt từ. Bất nhiệt từ. Bình đẳng từ. Vô tránh từ. Bất
hoại từ. Kiên cố từ. Thanh tịnh từ. Vô biên từ. La hán
từ. Bồ tát từ. Vô đẳng từ. Đại bi từ. Vô yếm từ.
Pháp thí từ. Trì giới từ. Nhẫn nhục từ. Tinh tấn từ.
Thiền định từ. Trí tuệ từ. Phương tiện từ. Vô ẩn từ.
Thâm tâm từ. Vô cuống từ. An lạc từ.

Qua
bao nhiêu danh tự ấy, người đệ tử Phật thấy rằng, lòng
từ trong đạo Phật có thể vận dụng trong cuộc sống ở
khắp mọi nơi chốn, mọi thời gian. Lòng từ của đạo Phật
không gói gọn trong ý niệm của một tiếng làm lành trừu
tượng ấy.

Lòng
từ bi của một Bồ tát là khi Bồ tát làm được bao nhiêu
công đức lành đều cho hết chúng sanh.

Thấy
chúng sanh được lợi lạc, Bồ tát vui mừng khen ngợi không
hề có ý tị hiềm. Đó là hỷ tâm của Bồ tát.

Bồ
tát làm tất cả việc lợi ích chúng sanh mà không thấy mình
là kẻ thi ân và người thọ lãnh không có ý mong chờ hy vọng
ở sự đền ơn. Xả tâm của Bồ tát là như thế.

3.-
Sanh tử, ưu bi, khổ não là việc đáng sợ, người trí phải
tìm cho mình một con đường an ổn.

Muốn
được an ổn phải nương nơi nghị lực và công đức Như
lai.

Phải
trụ tâm ở chỗ cứu độ chúng sanh thoát khổ.

Muốn
độ thoát chúng sanh phải từ bỏ phiền não.

Muốn
từ bỏ phiền não phải thực hành chánh niệm.

Muốn
thực hành chánh niệm phải thực hành bất sanh bất diệt.

Muốn
thực hành bất sanh bất diệt phải biết pháp bất thiện
bất sanh, pháp thiện bất diệt.

– Pháp
thiện và bất thiện thân là gốc.

– Thân
thì do dục và tham lam làm gốc.

– Dục
và tham lam do hư vọng phân biệt làm gốc.

– Hư
vọng phân biệt do mộng tưởng điên đảo làm gốc.

– Mộng
tưởng điên đảo do vô trụ làm gốc.

– Truy
cứu đến cùng: Vô trụ thì không có gốc.

Không
có gốc tức là đồng nghĩa với chẳng có gì mà an bài tất
cả pháp.

Do
vậy: Vạn pháp gốc của nó là chẳng có gì. Bản chất của
vạn pháp là giai không.

4.-
Việc Thiên nữ rải hoa cúng dường, hoa rơi đến các Bồ
tát, rồi hoa rớt xuống một cách bình thường. Hoa rơi trúng
các đệ tử Thanh văn, hoa dính lại trên người đến nổi
phủi cũng không rớt. Hàng Thanh văn thấy hoa vừa đẹp vừa
thơm. Thưởng thức cái đẹp, cái thơm e rằng mình bị phạm
giới.

Bồ
tát đối sắc đẹp hương thơm thọ dụng xuyên qua nhất thiết
chủng trí. Cho nên với Bồ tát “Kiến sắc phi can sắc, văn
hương bất nhiễm hương”. Có hoa xem như không, thì cần gì
phải phủi.

Sự
kiện này, do người bất tư nghì dàn dựng cảnh bất tư nghì
nhằm nói pháp bất tư nghì để dạy cho mạt thế chúng sanh
về trí tuệ và nghị lực của con người, nó hoàn toàn tùy
thuộc ở mọi người.

Ý
chí bất khuất không sợ ma, không bao giờ có ma đối với
chàng dũng sĩ kiên cường ấy.

5.-
Ông Xá Lỡi Phất hỏi Thiên nữ ở tại tịnh thất của ngài
Duy Ma Cật lâu mau rồi? Qua trí tuệ của Đại thừa, nghe câu
hỏi đó liền sanh tâm thương hại cho trí tuệ Tiểu thừa.

Lấy
cái gì làm tiêu chuẩn, đo đạt thời gian. Lấy sự cũ mới
của ngôi nhà! Hay sự cao thấp của vườn cây?

Nhà
cũ là cũ của nhà. Cao thấp là cao thấp của vườn cây. Thời
gian không vì cũ của nhà, không vì cao thấp của vườn cây
mà cho rằng thời gian có lâu có mau!

Phải
học Thiền và Quán đề tài: Thập thế cách pháp dị thành
môn, mới hiểu biết vấn đề thời gian không sai chân lý.

6.-
Thông thường, người ta cho rằng người có chứng đắc, mới
có được biện tài. Sự hiểu biết của trình độ Tiểu
thừa như ông Xá Lợi Phất cũng chưa vượt qua cái lẽ thông
thường đó.

Với
tri kiến Đại thừa, dù được Bồ đề Niết bàn chỉ là
sự trở về đến chỗ cũ của tự tánh mình.

7.-
Người đạt đến trình độ trí tuệ Đại thừa, thì lại
xóa bỏ hết mọi ý tưởng câu nệ về thừa. Có vậy mới
có thể làm lợi ích cho mọi tầng lớp chúng sanh. Cũng như
người lái xe giỏi, có lúc cần phải vượt trái luật lệ
giao thông, miễn là cứu được mạng người và tránh được
sự thiệt hại vật chất.

8.-
Tịnh thất của ngài Duy Ma Cật, thỉnh thoảng có Đế Thích,
Phạm Thiên, Tứ Thiên vương, Thiên long, quỷ thần đến nghe
ngài Duy Ma Cật thuyết chánh pháp. Bởi vì ngài Duy Ma Cật
lúc nào cũng nhớ chánh pháp, hành chánh pháp, nói chánh pháp
và sống trong chánh pháp. Cũng như nhà của chúng sanh bạc
địa phàm phu, ngày ngày sống trong vô minh, tam độc, trong
lục dục thất tình thì nhà này thường có súc sanh, ngạ
quỷ và người địa ngục…vào ra rộn rịp, không có lúc
nào tạm vắng.

9.-
Xử dụng nhất thiết chủng trí, qua tánh tướng Thập như
thị : Như thị tướng, như thị tánh, như thị thể, như thị
lực, như thị tác, như thị nhơn, như thị duyên, như thị
quả, như thị báo, như thị bổn mạt cứu cánh. Vạn pháp
đều như. Mỗi pháp có tánh như của nó. Nghĩa là tánh của
nó như vậy. Tướng của nó như vậy. Thể chất của nó như
vậy. Lực dụng của nó như vậy. Tạo tác của nó như vậy.
Nhơn cấu tạo ra nó như vậy. Duyên hình thành nó như vậy.
Kết quả ra nó như vậy. Và chung qui như vậy mà thành ra nó
và nó là nó như vậy.

Nhìn
vạn pháp qua trí tuệ đó, thì tướng nữ, nam không còn là
vấn đề để bình luận. Nam hay nữ chỉ là nhơn duyên biến
hiện như thị. Bản thể của cái tướng nữ, nam chung cùng
không nam không nữ.

Cũng
không có vấn đề chết đâu,sanh đâu. Sống chết ví như
sự nổi chìm của sóng bọt trên mặt đại dương. Sự nổi
chìm đó không làm cho nước biển có tăng giảm chút nào.
Còn quan tâm đến vấn đề “chết từ cõi nào, sanh đến cõi
này”, điều đó đủ nói rõ tầm hiểu biết của người Tiểu
thừa cạn cợt, chỉ biết nước qua sóng bọt mà chưa biết
được sóng bọt còn có nước biển tồn tại vĩnh cữu với
thời gian. Dù vậy, sóng và nước đời đời vẫn bất ly
mà bất tức.

Dưới
nhãn quan của người xử dụng NHẤT THIẾT CHỦNG TRÍ không
có vấn đề thành Phật hay chừng nào thành Phật. Vì tất
cả chúng sanh vốn đã thành Phật lâu rồi. Dù hiện tại
là chúng sanh nhưng Phật tánh ở trong chúng sanh đó không hề
thêm bớt. Ví như keo sơn bao bọc thỏi vàng nhưng không vì
vậy mà thỏi vàng 24 kara giảm đi chất lượng.

Chư
Phật đã được, đang được và sẽ được vô thượng Bồ
đề nhiều như số cát sông Hằng. Đó là dựa trên ngôn ngữ,
văn tự và số mục của thời gian và tùy thuận thế gian
mà nói chứ vô thượng Bồ đề không có quá khứ, hiện tại
và vị lai.

“Như
Lai giả vô sở tùng lai, diệc vô sở khứ”. Vô thượng Bồ
đề là quả vị vô thỉ vô chung.


thượng Bồ đề tức là bản thể chơn như của vạn pháp.
Sống đúng hợp với chân lý của vạn pháp tức là người
trở về nguyên quán, về đến Bảo sở chơn như mà mình lưu
lạc tự bấy lâu nay.

  

CHƯƠNG
THỨ
TÁM 

CON
ĐƯỜNG
PHẬT 

1.-
Bồ
tát Văn thù Sư Lợi nói:

Thưa
ngài Duy Ma Cật! Bồ tát phải làm gì để con đường Phật
được thông suốt?

Ông
Duy Ma Cật đáp: Thưa ngài Văn Thù Sư Lợi! Bồ tát muốn con
đường Phật được thông suốt, phải đi con đường ngược
lại. Đi con đường ngược thì con đường Phật sẽ thông
suốt.

Bồ
tát Văn Thù hỏi: Đi con đường ngược, Bồ tát phải đi
như thế nào?

Ông
Duy Ma Cật đáp: Bồ tát đi vào ngũ vô gián mà không buồn
rầu giận dữ. Vào địa ngục mà tự tâm không có tội lỗi
cấu uế. Đến với súc sanh mà không có vô minh, kiêu mạn.
Đến với ngạ quỷ mà đầy đủ công đức lành. Đi vào
con đường dục giới, sắc giới, chẳng cho đó là được
may mắn hơn.

Giả
đi vào con đường tham dục mà xa lìa các sự đắm nhiễm
dính mắc. 

Giả
đi vào con đường sân nhuế mà đối với chúng sanh không
giận dữ thù hằn. 

Giả
đi vào ngu si mà thường dùng trí tuệ điều phục tâm mình. 

Giả
đi vào con đường xan tham mà xả bỏ thân tâm, của cải cho
đến thân mạng cũng không lẫn tiếc. Giả đi vào đường
phạm giới mà tâm an trụ tịnh hạnh, dù tội lỗi nhỏ cũng
răn sợ không cho sai phạm. Giả đi vào con đường giải đải
mà hằng siêng tu công đức thiện. 

Giả
đi vào đường loạn ý mà thường nhiếp niệm định tâm. 

Giả
đi vào con đường ngu si mà thông hiểu hết việc thế gian
và xuất thế gian một cách đúng đắn. 

Giả
đi vào con đường siểm trá mà khi kết quả thì đúng với
ý nghĩa kinh, hợp lời Phật. 

Giả
đi vào con đường kiêu mạn mà thực chất là làm cầu đường
chuyên chở chúng sanh. 

Giả
đi vào con đường phiền não mà tâm thường thanh tịnh trong
sáng. 

Giả
đi vào con đường ma mà thuận theo trí tuệ Phật không nghe
theo sự cám dỗ của bọn ma. 

Giả
đi vào đường Thanh văn mà giáo hóa chúng sanh bằng pháp đại
thừa. 

Giả
đi vào đường Bích chi Phật mà đi truyền đạt cho chúng
sanh tư tưởng đại bi của Phật. 

Giả
đi vào hàng nghèo khó mà của báu công đức trong tay vô tận. 

Giả
đi vào đường trau dồi trang điểm sắc diện như người
thường mà đầy đủ các tướng hảo tự trang nghiêm thân. 

Giả
đi vào đường hạ tiện mà thực chất sanh trong dòng Phật,
bên trong có đầy đủ công đức. 

Giả
đi vào vào đường của hạng người quê mùa, yếu đuối
mà thực chất được thân tráng kiện na la diên, chúng sanh
đều rất ưa nhìn. 

Giả
đi vào đường lão bệnh mà dứt hẳn bệnh căn, vượt ra
sự sợ sệt chết chóc. 

Giả
đi vào đường kinh doanh sinh sống mà hằng quán vô thường,
không để lòng tham luyến. 

Giả
có thê thiếp mà thường viễn ly bùn lầy ngũ dục. 

Giả
hiện như người đần độn mà biện tài vô ngại, nhớ ghi
không sót. 

Giả
đứng vào phe tà mà lấy chánh lý giúp hộ chúng sanh. 

Giả
hiện đi vào luân hồi mà đoạn hết nguyên nhân sanh tử,
ưu bi khổ não. 

Giả
hiện ở Niết bàn mà không dứt hết hạt giống sanh tử.

Thưa
ngài Văn Thù Sư Lợi! Nếu Bồ tát đi vào con đường trái
ngược như thế, Bồ tát sẽ đi một cách thông suốt con đường
Phật.

2.-
Ông Duy Ma Cật hỏi Văn Thù Sư Lợi rằng:

– Thưa
ngài Văn Thù Sư Lợi! Xin ngài cho biết những gì là hạt giống
Như Lai?

– Văn
Thù Sư Lợi đáp: Thân là hạt giống Như lai. Vô minh, ái là
hạt giống Như lai. Tham, sân, si là hạt giống Như lai. Tứ
đảo, ngũ cái, lục nhập, thất tình, cửu não, thập bất
thiện nghiệp là hạt giống Như lai. Nói tóm lại, 62 thứ
kiến chấp và tất cả các phiền não đều là hạt giống
Như lai.

– Nói
thế nghĩa là gì?

– Nghĩa
là những tâm và tâm sở pháp có tánh chất phiền não, vô
minh đó là hạt giống Như lai Phật. Ngược lại, nếu người
tỏ ngộ vô vi, chứng nhập chánh vị thì không thể phát tâm
hướng đến vô thượng Bồ đề. Ví như cao nguyên và đất
gò, sen không thể mọc được thì còn mong gì trổ được
hoa. Chỉ có đất thấp, bùn lầy, hoa sen mới sanh trưởng.
Cũng như vậy, người ngộ vô vi pháp, chứng nhập chánh vị
không cần sinh hoạt ở trong Phật pháp nữa. Chỉ có chúng
sanh ở trong bùn lầy phiền não, mới phát khởi lòng mong cầu
Phật pháp mà thội. Cũng như trồng cây trong hư không, cây
không thể sanh trưởng. Phải trồng ở chỗ có đất phân,
cây mới tươi tốt sum suê. Cũng vậy người chứng nhập vô
vi chánh vị không còn điều kiện để sanh trong Phật pháp,
thà kiến chấp to như núi Tu Di mà họ còn có cơ hội phát
tâm cầu vô thượng Bồ đề, sanh trong Phật pháp. Thế cho
nên phải biết rằng: Tất cả phiền não là hạt giống Như
lai. Ví như không lặn xuống biển sâu, không thể có được
bảo châu vô giá. Không vào biển lớn phiền não, không thể
có nhất thiết trí vô giá Như lai.

3.-
Ông Ca Diếp tán thán rằng: Ôi! Tuyệt diệu thay! Tuyệt diệu
thay! Những lời nói của ngài Đại trí Văn Thù Sư Lợi! Thật
đúng vậy! Bè lũ phiền não là hạt giống Như lai. Hàng Thanh
văn chúng tôi không kham nổi việc phát tâm vô thượng Bồ
đề. Đến như người thọ tội ngũ vô gián hãy còn có thể
phát tâm sanh trong Phật pháp. Nay chúng tôi mất hẳn ý chí
cầu vô thượng đạo. Ví như người thui chột các căn, đối
với ngũ dục chẳng còn tương quan tiếp thọ được gì. Hàng
Thanh văn đoạn hết phiền não kiết sử, trong Phật pháp hết
đường nhờ cậy, vì chí nguyện đã dứt mất hẳn rồi.
Thế cho nên, thưa ngài Văn Thù Sư Lợi! Người bạc địa
phàm phu đối với Phật pháp còn có cơ may trở lại, mà hàng
Thanh văn thì đã tuyệt phần. Bởi vì, phàm phu nghe Phật pháp,
có thể phát khởi vô thượng đạo tâm, chứ hàng Thanh văn
dù có nghe Phật pháp trọn đời, vĩnh viễn không thể phát
ý hướng về vô thượng đạo.

4.-
Bấy giờ trong pháp hội có Bồ tát tên Phổ Hiện Sắc Thân,
hỏi ông Duy Ma Cật:

Thưa
cư sĩ! Cha mẹ, vợ con, thân bằng quyến thuộc, bạn lành
tri thức của ngài là những ai? Nô tì, đồng bộc, ngựa,
voi, xe, kiệu Ngài để ở chỗ nào?

Ông
Duy Ma Cật đáp lời qua bài kệ:

Trí
độ làm mẹ Bồ tát 

Phương
tiện
lấy làm cha 

Tất
cả
các đạo sư 

Đều
do
đó mà có. 

Lấy
pháp
hỷ làm vợ 

Con
gái:
từ bi tâm 

Con
trai:
chính tâm lành 

Rỗng
lặng:
nhà thường trú. 

Đệ
tử:
các trần lao 

Sai
khiến
theo ý muốn 

Đạo
phẩm:
thiện trí thức 

Do
vậy
thành chánh giác. 

Lục
độ
pháp: bạn bè  

Pháp
tứ
nhiếp:kỷ nữ  

Ca
vịnh:
tụng pháp âm. 

Hoa
viên
là tổng trì 

Pháp

lậu: rừng cây 

Giác
ý:
hoa tịnh diệu 

Trí
tuệ
giải thoát: trái. 

Ao
tắm
pháp bát giải 

Nước
định
lóng sẳn đầy 

Ngâm
ướp
bông thất tịnh 

Tắm
gội
người vô cấu. 

Voi
ngựa
cỡi: ngũ thông 

Đại
thừa
làm xe kiệu 


ích:
trụ nhất tâm 

Dạo
đi
đường Bát chánh. 

Tướng
hảo
để đẹp người 

Đức
tốt
làm trang sức 

Tàm
quí
làm xiêm áo 

Thâm
tâm
làm tràng hoa 

Thất
tài
bảo: sự nghiệp  

Giáo
hóa
làm lợi tức. 

Việc
làm
đúng lời nói  

Hồi
hướng
là lợi lớn 

Tứ
thiền
làm giường ngồi 

Sống

đời tịnh mệnh. 

Đa
văn:
tăng trí tuệ 

Trí
tuệ:
tiếng cõi lòng  

Pháp
cam
lộ: thức ăn 

Vị
giải
thoát: giải khát . 

Tịnh
tâm
là tắm gội 

Giới
phẩm
làm hương xoa 

Đánh
tan
giặc phiền não 

Mạnh
mẽ
không ai hơn. 

Hàng
phục
bốn giống ma 

Dựng
cờ
đại chiến thắng 


biết
không khởi diệt 

Dạy
dỗ:
hiện có sanh. 

Xuất
hiện
khắp cõi nước 

Như
mặt
nhựt trong không  

Cúng
dường
mười phương cõi  


lượng
ức Như lai. 

Chư
Phật
và bản thân 

Không

tướng phân biệt 


biết
cõi nước Phật 


chúng
sanh đều không 


thường
tu Tịnh độ 

Giáo
hóa
hết quần sanh. 

Bao
chủng
loại chúng sanh 

Hình
thành
và cử chỉ 

Lực

úy Bồ tát 

Một
thời
đều hiện đủ. 

Biết

các ma sự 


giả
hiện tùy thân 

Dùng
trí
phương tiện khéo 

Hiện
theo
ý bọn ma. 

Hoặc
hiện
già, bịnh, chết 

Giáo
hóa
các quần sanh 


biết
như huyễn hóa 

Việc
làm
không trở ngại. 

Hoặc
hiện
kiếp thiêu hết 

Trời
đất
đều trống không 

Mọi
người
có tưởng thường 

Khiến
được
biết vô thường. 


số
ức chúng sanh 

Đồng
đến
mời Bồ tát 

Cùng
một
lúc đến nhà 

Dạy
họ
về Phật đạo. 

Kinh
sách,
chú thuật tà 

Thủ
công,
công kỹ nghệ 

Hiện
làm
hết việc này 


lợi
ích chúng sanh. 

Các
đạo
pháp thế gian 

Xuất
gia
vào trong đó 

Để
chỉ
rõ chỗ sai 

Khiến
khỏi
rơi tà kiến. 


lúc
làm nhật nguyệt 

Làm
Thế
chủ, Phạm vương 


lúc
làm đất nước 


khi
làm gió lửa. 

Trong
đời
có dịch bệnh 

Hiện
làm
cây cỏ thuốc 

Nếu

người được uống 

Bệnh
khổ
được dứt trừ. 

Thời
kỳ
có đói kém 

Thân
hiện
các thức ăn 

Cứu
đói
khát cho người 

Sau
đem
Phật pháp dạy. 

Đời
sắp
nổ binh đao 

Đem
đạo
từ bi thuyết 

Hóa
độ
các chúng sanh 

Xóa
bỏ
lòng tranh chấp. 

Nếu
chiến
tranh bùng nổ 

Đứng
giữa
thế cân bằng 

Hiện
uy
thế Bồ tát 

Thuyết
phục
khiến hòa an. 

Trong
tất
cả quốc độ 

Chỗ
nào
có địa ngục 

Liền
đến
vào nơi đó 

Giúp
họ
khỏi khổ đau. 

Trong
tất
cả cõi nước 

Súc
sanh
ăn nuốt nhau 

Hiện
sanh
vào trong đó 

Khiến
chúng
được lợi lành. 

Giả
bằng
lòng ngũ dục 

Lại
biểu
hiện hành thiền 

Khiến
tâm
ma rối loạn 

Không
đễ
bị lung lay. 

Hoa
sen
sanh trong lửa 

Chuyện
hi
hữu trên đời 

Trong
ngũ
dục hành thiền 

Hi
hữu
cũng như vậy. 

Hoặc
hiện
làm dâm nữ 

Dụ
những
người háo sắc 

Trước
lấy
dục trói lại 

Sau
kéo
vào Phật trí. 

Hoặc
làm
người quốc trưởng 

Hoặc
làm
chủ thương thuyền 

Quốc
sư,
Đại thần tốt 

Để
giúp
ích chúng sanh. 

Với
những
người nghèo khó 

Hiện
làm
kho vô tận 

Nhơn
đó
khuyến hóa người 

Phát
khởi
Bồ đề tâm. 

Với
hạng
người kiêu mạn 

Hiện
làm
đại lực sĩ 

Triệt
tiêu
các cống cao 

Khiến
trụ
vô thượng đạo. 

Ai
lâm
cảnh sợ sệt 

Trước
họ
an ủi cho 

Xua
tan
niềm sợ hãi 

Sau
khiến
phát đạo tâm. 

Hoặc
hiện
ly dâm dục 

Làm
ngũ
thông tiên nhân 

Mở
lối
các quần sanh 

Khiến
trụ
giới nhẫn từ. 

 Thấy
ai
cần phụng sự 

Hiện
làm
người tôi tớ 

Phục
vụ
đẹp ý chủ 

Sau
khuyến
phát đạo tâm. 

Dùng
phương
tiện khéo léo 

Cung
dưỡng
mọi nhu cầu 

Con
đường
đạo vô lượng 

Sở
hành
không bến bờ. 

Trí
tuệ
không ngằn mé 

Độ

số chúng sanh 

Giả
sử
tất cả Phật 

Trong

số ức kiếp. 

Tán
thán
công đức kia 

Hãy
còn
không cùng tận 

Ai
nghe
pháp như thế 

Không
phát
tâm Bồ đề! 

Trừ
người
mất giống Phật 

Kẻ

trí quá đần. 

TRỰC
CHỈ 

1.-Để
trả
lời câu hỏi của Bồ tát Văn Thù Sư Lợi: “Bồ tát
phải làm gì để đi con đường Phật được thông suốt,
không bị trở ngại”.

Ông
Duy Ma Cật đáp: “Bồ tát hành phi đạo thị vi thông đạt
Phật đạo”. Nghĩa là muốn đi theo con đường Phật được
thông suốt thì Bồ tát phải đi ngược lại con đường chúng
sanh đi.

Đường
của chúng sanh là: “thuận lưu sanh tử”. Xuôi theo dòng chảy
của sanh tử mà đi. Thế cho nên, muốn đi con đường Phật,
Bồ tát phải đi ngược dòng sanh tử ấy.

Đi
ngược dòng sanh tử nhưng không rời bỏ, tránh né hay trốn
chạy. Ý niệm rời bỏ, tránh né, trốn chạy sanh tử hy vọng
có được Bồ đề Niết bàn. Với đạo Phật, việc đó không
bao giờ có được. Người nông gia sợ bùn, đất, phân nước
thấm ướt tay chân chỉ muốn trồng cây gieo giống trong hư
không để rồi chờ thời thâu hoạch kết quả. Ý tưởng
đó nếu có thì đó là ý tưởng hoang đường của kẻ ngu
si vô trí.

Ý
tưởng rời bỏ trốn chạy sanh tử, không tu tâm sửa tánh,
không cải tạo phiền não vô minh ngay trong cuộc sống sanh
tử, ngồi không nằm rỗng đối với thế cuộc xem mình như
kẻ ăn xổi ở thì, lơ lững thả hồn hy vọng Bồ đề Niết
bàn một ngày nào đó sẽ đến. Ý tưởng đó, ở trong Phật
pháp cũng là một ý tưởng hoang đường của chàng nông gia
vô trí kia không hơn không kém.

2.-“Những
gì là hạt giống Như Lai?”. Trả lời câu hỏi đó của ông
Duy Ma Cật, Bồ tát Văn Thù nói:

– Thân
là hạt giống Như lai.

– Vô
minh là hạt giống Như lai.

– Tham
sân si là hạt giống Như lai.

– Tứ
đảo, ngũ cái, lục nhập, thất tình, bát tà, cửu não, thập
bất thiện nghiệp là hạt giống Như lai.

– Nói
chung 62 thứ kiến chấp là hạt giống Như lai.

Trước
tuệ nhãn của Đại trí Văn Thù Sư Lợi thì tất cả phiền
não là hạt giống Như Lai. Có nghĩa là muốn thành Phật thì
dựa trên vô minh phiền não mà cải tạo chuyển hóa vô minh
phiền não. Chuyển hóa từng phần lượng cho đến khi biến
đổi hoàn toàn chất lượng vô minh. Trừ bỏ vô minh phiền
não, con người không còn lý do để thành Như Lai Phật. Không
xuống biển sâu không thể có được bảo châu vô giá, không
thể có nhất thiết chủng trí Như lai vô giá.

3.-
Nhân danh hàng định tánh Thanh Văn, ông Đại Ca Diếp thay mặt
đại chúng nói lên sự hối tiếc về trí tuệ hẹp hòi kém
cỏi của người Tiểu thừa đối với giáo lý vô thượng
thậm thâm vi diệu pháp của Đại thừa.

Thà
làm hàng bạc địa phàm phu còn có cơ hội phát tâm cầu vô
thượng Bồ đề. Còn hàng định tánh Thanh Văn đối với
quả Bồ đề vô thượng chẳng khác người tàn phế ngũ căn,
không tiếp nhận được gì trước cảnh sắc, thanh, hương,
vị xúc.

4.-
Trả lời câu hỏi của Bồ tát Phổ Hiện Sắc Thân, ngài
Duy Ma Cật nói về gia đình, sự nghiệp, quyến thuộc thân
bằng, nô tì, đồng bộc, vườn rừng, ao tắm ,kỷ nữ, ngựa
xe v.v…của chính ngài. Từ đó khiến cho người học đạo
thấy rằng ngài không phải là một cư sĩ mà gọi là cư sĩ
vậy thôi.

Sự
thực, cư sĩ Duy Ma Cật là một hình thức dàn dựng ra một
người bất tư nghì để trình diễn Phật sự bất tư nghì
nhằm giáo hóa chúng sanh về đại thừa diệu pháp bất tư
nghì.

“Chiếc
áo không làm nên thầy tu”. Có phải chăng, người triết gia
Tây phương nào đó đã đọc được kinh này?

Chiếc
áo thầy tu một khi lọt vào tay thợ săn điêu ngoa xử dụng,
chiếc áo đó trở thành một thứ cạm bẫy sát sanh đoạn
mạng. Con sư tử có bộ lông vàng hiếm quí, chết một cách
oan ức đau thương chỉ vì chiếc áo và lầm tưởng chiếc
áo tu sĩ của tên thợ săn độc ác kia là chiếc áo của vị
tu sĩ chân tu mà ngày ngày mình thường lân la thân cận.

Dựng
lên một trưởng giả Duy Ma Cật bất tư nghì để nhắc nhở
cho mọi người đệ tử Phật muốn tiến thân trên đường
Bồ đề vô thượng cần phải cảnh giác về chiếc áo…và
có thể không cần chiếc áo, lại có thể chính thực thầy
tu…

 

  

CHƯƠNG
THỨ
CHÍN 

CHỨNG
NHẬP
PHÁP MÔN KHÔNG HAI 

1.-
Bấy
giờ Ông Duy Ma Cật long trọng nói với các Bồ tát rằng:

Thưa
chư nhơn giả! Tôi xin trân trọng đề nghị chư Bồ tát trong
hội này, mỗi người tự trình bày sự chứng đắc và thể
nhập pháp môn không hai của một Bồ tát như thế nào?

Trước
hết vị Bồ tát hiệu là Pháp Tự Tại trình bày:

 Thưa
chư nhơn giả! Sanh và diệt là hai. Vạn pháp xưa không sanh,
nay không diệt. Tỏ ngộ được pháp nhẫn vô sanh đó, tôi
thể nhập pháp môn không hai. 

Bồ
tát Đức Thủ nói: Ngã và ngã sở là hai. Vì có ngã cho nên
có ngã sở. Tôi nhận thức rằng nếu không có ngã thì không
có ngã sở. Do duyên cớ đó, tôi thể nhập pháp môn không
hai. 

Bồ
tát Bất Thuần nói: Thọ và bất thọ là hai. Nếu đối với
các pháp mà không thọ thì không có cái được. Ví không có
cái được cho nên không có lấy, không có bỏ, không tạo
tác không hành vi. Do nhận thức ấy, tôi thể nhập pháp môn
không hai. 

Bồ
tát Đức Đảnh nói: Cấu và tịnh là hai. Thấy được thực
tánh của cấu thì không có tướng tịnh. Đồng thời tùy
thuận với tướng diệt của vạn pháp. Do tỏ ngộ chân lý
đó, tôi thể nhập pháp môn không hai. 

Bồ
tát Thiện Tú nói: Động tâm và niệm tưởng là hai. Nếu
không động tâm thì không có niệm tưởng. Không có niệm
tưởng thì không có phân biệt. Thông suốt được chân lý
ấy, tôi thể nhập pháp môn không hai. 

Bồ
tát Thiện Nhẫn nói: Tướng nhất và tướng vô là hai. Nếu
biết rõ tướng nhất tức là tướng vô, bấy giờ thể nhập
tánh bình đẳng. Do quá trình nhận thức như vậy, tôi thể
nhập pháp môn không hai. 

Bồ
tát Diệu Tý nói: Tâm Bồ tát và tâm Thanh văn là hai. Quán
tướng của tâm rỗng không như huyễn như hóa, cho nên tôi
không còn thấy tâm Bồ tát, tâm Thanh văn. Do triệt tiêu tánh
chấp, tôi thể nhập pháp môn không hai. 

Bồ
tát Phất Sa nói: Thiện và bất thiện là hai. Không khởi ý
niệm thiện và bất thiện, nhận thức thấu suốt ngằn mé
vô tướng của các pháp. Do vậy, tôi thể nhập pháp môn không
hai. 

Bồ
tát Sư Tử nói: Tội và phước là hai. Hiểu rõ tánh của
tội và phước không khác. Dùng trí tuệ kim cương quyết đoán
một cách dứt khoát mọi tình huống. Cho nên không thấy có
ràng buộc và cũng không thấy có giải thoát. Do vậy, tôi
thể nhập pháp môn không hai. 

Bồ
tát Sư Tử Ý nói: Hữu lậu và vô lậu là hai. Có được
tâm bình đẳng với các pháp thì không khởi tướng hữu lậu
và vô lậu. Không dính mắc ở pháp tướng cũng không trụ
chấp pháp tướng. Do vậy, tôi thể nhập pháp môn không hai. 

Bồ
tát Tịnh Giải nói: Hữu vi và vô vi là hai. Xa lìa tất cả
số thì tâm rỗng lặng như hư không. Dùng tuệ thanh tịnh
mà nhìn vạn pháp cho nên không còn có sự trở ngại nào.
Do vậy, tôi thể nhập pháp môn không hai. 

Bồ
tát Na La Diên nói: Thế gian và xuất thế gian là hai. Tánh
của thế gian rỗng không, cho nên thế gian cũng là xuất thế
gian. Trong đó không có tướng đi vào, đi ra, không có tràn
đầy, không có vơi cạn. Do nhận thức đó, tôi thể nhập
pháp môn không hai. 

Bồ
tát Thiện Ý nói: Sanh tử và Niết bàn là hai. Thấy được
tánh của sanh tử thì không có sanh tử gì cả, cũng không
có cột, không có mở, không có sanh không có diệt. Nhận thức
rõ như thế, tôi thể nhập pháp môn không hai. 

Bồ
tát Thiện Kiến nói: Tận và bất tận là hai. Vạn pháp hoặc
rốt ráo tận hoặc rốt ráo bất tận đều là tướng vô
tận. Tướng vô tận tức là không. Không thì không có tướng
tận hay vô tận. Tỏ ngộ chân lý ấy, tôi thể nhập pháp
môn klhông hai. 

Bồ
tát Phổ Thủ nói: Ngã và vô ngã là hai. Ngã hãy còn không
có, vô ngã càng không thể có. Thấy được thật tướng của
ngã thì không còn khởi quan niệm hai. Do vậy, tôi thể nhập
pháp môn không hai. 

Bồ
tát Điển Thiên nói: Minh và vô minh là hai. Thật tánh của
vô minh là minh. Minh cũng không chấp thủ. Ly tất cả số.
Trụ tâm trong bình đẳng không có ý niệm hai. Do vậy, tôi
thể nhập pháp môn không hai. 

Bồ
tát Hỉ Kiến nói: Sắc và không là hai. Sắc tức là không.
Không phải sắc diệt mới không. Tánh của sắc tự không.
Thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy. Thức là tức không.
Không phải thức diệt mới không. Tánh của thức tự không.
Do quán triệt chân lý đó, tôi thể nhập pháp môn không hai. 

Bồ
tát Minh Tướng nói: Sự sai khác của tứ đại và sự sai
khác của Không đại là hai. Tánh của tứ đại tức là tánh
của không đại. Bởi vì thời gian trước và thời gian sau
đều không, cho nên thời gian khoảng giữa cũng không. Hiểu
biết được như thế, cũng tức là nhận thức rõ tánh của
các đại. Do vậy, tôi thể nhập pháp môn không hai. 

Bồ
tát Diệu Ý nói: Nhãn căn và sắc trần là hai. Biết rõ tánh
của nhãn căn và tánh của sắc trần ở giữa cắt đứt sự
ái nhiễm. Thế là không còn tham, không còn sân, không còn
si. Đó là trạng thái tịch diệt. Nhĩ đối thanh, Tỷ đối
hương. Thiệt đối vị. Thân đối xúc. Ý đối với pháp
cũng như vậy. Biết rõ tánh cũa ý căn và tánh của pháp trần,
đoạn trừ sự ái nhiễm tham, sân, si. Đạt đến trạng thái
tịch diệt. An trụ trong tỉnh giác như vậy, tôi thể nhập
pháp môn không hai. 

Bồ
tát Vô Tận Ý nói: Bố thí và hồi hướng nhất thiết trí
là hai. Tánh của bố thí tức là tánh của hồi hướng nhất
thiết trí. Trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và
trí tuệ cũng như vậy.Tánh cũa trí tuệ tức là tánh hồi
hướng nhất thiết trí. Ở trong đó hội nhập tướng nhất.
Do vậy, tôi thể nhập pháp môn không hai. 

Bồ
tát Thâm Tuệ nói: Không, vô tướng, vô tác là hai. Không tức
vô tướng, vô tướng tức vô tác. Hiểu rõ không tức vô
tướng. Vô tướng là vô tác thì tâm, ý và thức bấy giờ
công dụng trở thành một. Bấy giờ một giải thoát môn tức
ba giải thoát môn. Quán triệt chân lý đó, tôi thể nhập
pháp môn không hai. 

Bồ
tát Tịnh Căn nói: Phật, pháp và tăng là hai. Phật tức pháp,
Pháp tức Tăng. Tam bảo đều là tướng vô vi, đồng như hư
không. Tất cả pháp cũng vậy. Tùy thuận theo chân lý đó,
thi vi hành sự. Do vậy, tôi thể nhập pháp môn không hai. 

Bồ
tát Tâm Vô Ngại nói: Thân và thân diệt là hai. Thân tức
là thân diệt. Thấy được thật tướng của thân thì không
còn khởi chấp thân và sự hoại diệt của thân. Thân và
sự hoại diệt của thân không khởi ý phân biệt là hai. Vì
vậy, thân sinh tồn hay hoại diệt, không kinh hãi, không lo
lắng sợ sệt. Tỏ ngộ chân lý đó, tôi thể nhập pháp môn
không hai. 

Bồ
tát Thượng Thiện nói: Thân, khẩu, ý là hai. Ba nghiệp đều
là tướng vô tác. Tướng vô tác của thân tức là tướng
vô tác của khẩu. Tướng vô tác của khẩu tức là tướng
vô tác của ý. Tam nghiệp là tướng vô tác. Tất cả pháp
cũng là tướng vô tác. Dùng tuệ vô tác nhận thức chân lý
và tùy thuận chân lý ấy, tôi thể nhập pháp môn không hai. 

Bồ
tát Phước Điền nói: Làm phước làm tội, làm không phước
không tội là hai. Thật tánh của ba việc là vắng lặng rỗng
không. Không thì không thấy có làm phước, không thấy có
làm tội, không thấy có làm không phước không tội. Không
khởi ý niệm chấp mắc ở ba việc làm. Do vậy, tôi thể
nhập pháp môn không hai. 

Bồ
tát Hoa Nghiêm nói: Từ bản ngã khởi chấp hai là hai. Biết
được thật tướng của bản ngã không khởi chấp hai. Không
khởi chấp hai thì không có cái biết và đối tượng bị
biết. Quán triệt chân lý đó, tôi thể nhập pháp môn không
hai. 

Bồ
tát Đức Tạng nói:  Có tướng sở đắc là hai. Không
sở đắc thì không có tham lấy, không chê bỏ. Do trụ trong
tướng bình đẳng không lấy bỏ, tôi thể nhập pháp môn
không hai. 

Bồ
tát Nguyệt Thượng nói:  Tối và sáng là hai. Không tối
không sáng thì không hai. Ví như nhập định diệt thọ tưởng,
không còn nhận thức tối sáng. Đối với tất cả pháp tướng
cũng như vậy. Hội nhập với tâm bình đẳng ấy, tôi thể
nhập pháp môn không hai. 

Bồ
tát Bảo Ấn thủ nói:  Ham mộ Niết bàn, nhàm chán thế
gian là hai. Không ham mộ Niết bàn, không nhàm chán thế gian
thì không hai. Vì sao? Vì rằng ai có bị trói buộc mới mong
cầu mở. Người không bị buộc trói còn hy vọng mở cái
gì? Không bị buộc, không cần mở, cũng không nhàm chán, không
có ham mộ. Thâm ngộ chân lý đó, tôi thể nhập pháp môn
không hai. 

Bồ
tát Châu Đảnh nói: Chánh đạo và tà đạo là hai. Trụ ở
chánh đạo thì không phân biệt tà hay chánh. Do ly cái tướng
hai, tôi thể nhập pháp môn không hai. 

Bồ
tát Nhạo Thật nói: Thật và không thật là hai. Thật thấy
hãy còn không thấy thật huống hồ không phải thật. Vì sao?
Vì cái thấy của nhục nhãn không thể thấy đúng chân lý.
Chỉ có tuệ nhãn mới thấy đúng chân lý. Tuệ nhãn không
thấy gì hết nhưng không có gì không thấy. Do tỏ ngộ chân
lý đó, tôi thể nhập pháp môn không hai. 

Các
Bồ tát mỗi mỗi đều trình bày pháp môn sở ngộ của mình
và kết quả cùng đến một mục đích: thể nhập pháp môn
không hai.

2.-
Các Bồ tát trong hội này đã nói hết rồi. Vậy xin Bồ tát
Văn Thù Sư Lợi phát biểu phương pháp thể nhập pháp môn
không hai của một Bồ tát.

Bồ
tát Văn Thù nói: Theo ý tôi, tất cả pháp không nói được
hết, không bàn tột được, không chỉ đúng được, không
giải thích trọn vẹn được. Vì vượt ngoài những câu vấn
đáp của ngữ ngôn văn tự. Khế hội chân lý đó thì đó
là yếu tố thể nhập pháp môn không hai.

3.-
Bồ tát Văn Thù hỏi ông Duy Ma Cật: Thưa cư sĩ! Chư Bồ tát
đã trình bày xong. Giờ đây, xin nhơn giả cho biết cao kiến
của ngài về phương pháp thể nhập pháp môn không hai của
một Bồ tát?

Ông
Duy Ma Cật lúc bấy giờ điềm nhiên an tọa. Đại chúng cả
hội trường như nín thở trông chờ…

Ông
Duy Ma Cật vẫn im lặng và im lặng…

Trong
dáng vẻ hân hoan, cảm thông được diệu ý, Bồ tát Đại
trí Văn Thù Sư Lợi nói: Siêu tuyệt thay! Siêu tuyệt! Pháp
môn không hai siêu tuyệt! Bặt cả văn tự ngữ ngôn!

Đấy
mới là cách thể nhập pháp môn không hai chí chân, chí thiện!

Sau
khi trình bày những nguyên do và tâm đắc của mình trong quá
trình thể nhập pháp môn không hai của ba mươi mốt Bồ tát.
Trong số hội chúng có năm ngàn Bồ tát tỏ ngộ vô sanh pháp
nhẫn đồng thể nhập pháp môn không hai. 

TRỰC
CHỈ 

1.-
Chứng
nhập pháp môn không hai, kinh Duy Ma Cật không nhằm dạy
cho người đệ tử tu hành phải tìm về con số một, hay cái
một nào đó. Bởi vì chữ hai ở đây không phải là chữ
“2” ở số lượng như 1,2…cũng không phải chữ hai ở số
thứ tự như: thứ hai, thứ ba…

Tránh
số 2 trong lượng số, hy vọng trở lùi nắm giữ số 1 đã
là vô ích, tránh thứ hai ở thứ tự số mục để mong cầu
được số thứ ba, thứ tư thì cũng hoài công, không có tác
dụng gì trên đường tiến tu đối với sự nghiệp giác ngộ.

Người
đệ tử Phật, tu theo con đường Phật phải thận trọng lưu
tâm.

Bồ
tát Duy Ma Cật, đề nghị chư Bồ tát trình bày về phương
cách, lý do, về yếu tố, dữ kiện, về hoàn cảnh, trường
hợp chứng nhập pháp môn không hai của mình, nhằm dạy cho
người đệ tử Phật tu hành phương thức: Hồi đầu thị
ngạn, phương cách trở về Căn bản trí, tức là trí vô phân
biệt vốn có của mọi người. Giáo lý của đạo Phật dạy
rằng con người ai ai cũng có cái trí vô phân biệt đó. Vì
vậy, tự tánh của mọi người vốn trong sáng thanh tịnh.
Cái tự tánh trong sáng thanh tịnh đó chính là Phật tánh của
mỗi người.

Con
người bắt đầu có đau khổ từ khi con người sống trái
Căn bản trí. Con người tự hủy hoại cái tánh trong sáng,
thanh tịnh, hồn nhiên, thanh thoát của con người. Con người
bắt đầu xử dụng cái trí hậu đắc, tức là cái trí phân
biệt, cái trí rất kém cõi thường bị bao phủ bởi những
lớp tạp tưởng vô minh phiền não. Với phân biệt trí khó
mà nhận thức chân lý đúng đắn, nếu không có những giây
phút thiền quán để tư duy phản tỉnh hồi đầu.

Muốn
hồi đầu phản tỉnh cần có duyên cớ hoặc hoàn cảnh, hoặc
sự nhận thức v.v…

Ba
mươi mốt Bồ tát thể nhập pháp môn không hai đều dựa
vào sự tư duy nhận thức hoặc duyên cớ nào đó do thấy,
sự kiện nào đó do tư duy hoặc trường hợp nào đó do tiếp
xúc…

Ba
mươi mốt Bồ tát thể nhập pháp môn không hai, dựa trên
những duyên cớ, những sự kiện nhận thức không đồng mà
kết quả cũng đến mục đích: Vô trí phân biệt.

– Sanh
và diệt.

– Ngã
và ngã sở.

– Thọ
và bất thọ.

– Cấu
và tịnh.

– Động
tâm và niệm tưởng.

– Tướng
nhất và tướng vô.

– Tâm
Bồ tát và tâm Thanh văn.

– Thiện
và bất thiện.

– Tội
và phước.

– Hữu
lậu và vô lậu.

– Hữu
vi và vô vi.

– Thế
gian và xuất thế gian.

– Sanh
tử và Niết bàn.

– 
Tận và bất tận.

– 
Ngã và vô ngã.

– Minh
và vô minh.

– Sắc
và không sắc.

– Tứ
đại và không đại.

– Nhãn
căn và sắc trần.

– Bố
thí và hồi hướng nhất thiết trí.

– Không,
vô tướng, vô tác.

– Phật,
Pháp và Tăng.

– Thân
và thân diệt.

– Thân,
khẩu, ý.

– Làm
phước, làm tội, làm không phước không tội.

– Từ
bản ngã, khởi chấp.

– Có
tướng sở đắc.

– Tối
và sáng.

– Ham
mộ Niết bàn, nhàm chán thế gian.

– Chánh
đạo, tà đạo.

– Thật
và không thật.

Ba
mươi mốt đề mục được xem là Hai và dựa trên tướng
hai đó mà tư duy quán sát rồi phản tỉnh hồi đầu, ba mươi
mốt vị Bồ tát đều chứng nhập pháp môn không hai.

Ba
mươi mốt cặp phạm trù đối đải ấy, nhận xét kỹ, ta
thấy có đề mục chỉ có một. Như đề mục Có tướng sở
đắc, lại có những đề mục không phải hai mà có đến
ba. Như đề mục Phật, Pháp, Tăng. Đề mục Thân, khẩu, ý.
Đề mục Không, vô tướng, vô tác. Đề mục Làm phước,
làm tội, làm không phước không tội.

Ấy
thế mà tất cả đều được xem là hai.

Do
vậy, ta cũng thấy rõ kinh dạy qua vấn đề chứng nhập pháp
môn không hai, như trước đã nói. Chứng nhập pháp môn không
hai mục đích không phải chối bỏ số hai để lùi về số
một. Cũng nhằm tránh né số hai để có được số ba, bốn,
năm.

2.-
Đến lượt Bồ tát Đại Trí Văn Thù Sư Lợi, ngài cho rằng:
Đã là pháp môn không hai thì ngôn từ không bàn luận đến
được. Văn tự không mô tả được. Nghĩ ngợi đến ba đã
là sai rồi. Đến chỗ tuyệt đường đối đải thì có diễn
đạt hoa mỹ, khéo léo cách nào cũng không phải cái đó. Vì
cái đó, chỗ đó, nó ở vào lãnh vực Bất khả tư nghì.
Chỉ ai chứng mới biết mà thôi. Chữ chứng ở đây không
có gì quá sức tưởng tượng đâu các bạn ạ! Nó đồng
nghĩa với cái từ chứng nước ở các tòng lâm miền Bắc
nước Việt Nam ấy.

“Như
nhơn ẩm thủy, lãnh noãn tự tri”. Chỉ có người chứng nước
mới biết được nước ấm lạnh ở độ nào…người không
chứng nước thì nghe để mà nghe, sự diễn tả của người
chứng nước không làm cho người không chứng hiểu chính xác
độ nóng lạnh, vị ngọt ngon của tách trà thơm ngát ấy.

3.-
Đến lượt ngài Duy Ma Cật trình bày phương cách chứng nhập
pháp môn không hai của mình. Ngài biểu thị bằng thái độ
im lặng thản nhiên. Đại chúng như hồi hộp và có ý trông
chờ những gì sẽ diễn biến ra sau giây phút thản nhiên im
lặng đó. Nhưng rồi không có gì nữa hết! Bồ tát Đại
trí Văn Thù thông cảm sâu sắc, tận cùng ý niệm của nhau,
như hai tấm gương đối diện cùng lồng bóng phản chiếu
trước một cành hoa rực rở sắc màu.

Bồ
tát Đại Trí Văn Thù chỉ tán thán trước sự biểu hiện
lặng im mà không bình luận gì thêm nữa. Bồ tát Đại Trí
Văn Thù tâm đắc và cảm thông hành động biểu hiện đó
của ngài Duy Ma Cật. Ngài Văn Thù cho rằng hành động đó,
tự nói lên phương cách chứng nhập pháp môn không hai của
ngài Duy Ma Cật đầy đủ lắm rồi. Còn dùng ngôn ngữ văn
tự để phủ nhận văn tự ngữ ngôn, ngài Đại Trí Văn Thù
đã bỏ lỡ cơ may không về đến đích. Người hiểu được
Duy Ma Cật phải là bậc Đại trí, chẳng những cần có Căn
bản trí mà phải xử dụng Sai biệt trí để thấy biết tường
tận mọi vật lý, sanh lý và tâm lý giữa cuộc đời.


đời, người hay dạy dỗ, quở phạt, đánh mắng con cái là
người cha mẹ quá thương con cái của mình. Không ai bỏ công
dạy dỗ, quở phạt, đánh mắng những đứa trẻ nước lã
người dưng. Vì sao? Vì người dưng nước lã không tương
quan gắn bó, chẳng dính líu nghĩa tình. Đối với chúng, người
làm cha mẹ kia chẳng có gì để nói.

Cũng
vậy, các pháp thế gian và xuất thế gian đối với chúng,
Bồ tát Duy Ma Cật không có gì để nói. Đó là thâm ý của
sự lặng thinh, lặng thinh chỉ vì không có gì để nói. Chỉ
vì đã biết rõ vạn pháp giai không từ hồi vô thỉ dĩ chí
vô chung, cho nên nói ít thì sai chân lý ít, nói nhiều chỉ
tăng thêm nhiều hý luận!

 

CHƯƠNG
THỨ MƯỜI 

PHẬT
HƯƠNG
TÍCH 

1.-
Ông
Xá Lợi Phất nghĩ rằng: giờ ngọ trai sắp đến, rồi
đây chư Bồ tát sẽ thọ thực bằng gì?

Trưởng
giả Duy Ma Cật biết được thâm ý của ông Xá Lợi Phất,
bèn bảo rằng:

Thưa
ngài Xá Lợi Phất! Đức Phật dạy tám môn giải thoát ngài
lãnh thọ tu hành. Há để xen tạp ý nghĩ về ăn trong lúc
nghe pháp vậy sao? Nếu muốn ăn thì hãy đợi giây lát. Ngài
sẽ được thức ăn chưa từng có.

Ông
Duy Ma Cật liền nhập định, vận dụng sức thần thông khiến
cho đại chúng thấy rõ, ở thượng phương thế giới trải
qua bốn mươi hai hằng hà sa cõi Phật có quốc độ tên gọi
là Chúng Hương. Hiện tại đức Phật Hương tích là giáo
chủ. Nước Chúng Hương có thứ hương thơm kỳ diệu, so với
mùi thơm của các thế giới nhơn thiên. Các cõi nước chư
Phật trong mười phương cũng không có thứ hương nào sánh
được. Cõi nước đó, không có Thanh văn và Bích Chi Phật,
chỉ có chúng đại Bồ tát thanh tịnh. Đức Phật Hương Tích
thường truyền pháp giáo hóa cho hàng đại Bồ tát này. Thế
giới Chúng Hương thường xử dụng toàn hương. Lầu các kiến
tạo bằng hương. Đi kinh hành trên đất hương, vườn tược
hoa cảnh cũng hương. Hơi hương là thức ăn của Phật, Bồ
tát ở quốc độ này. Hương này lan tỏa ngát thơm khắp vô
lượng thế giới mười phương.

Lúc
ấy đức Phật và chư Bồ tát cùng ngồi thọ thực. Chư Thiên
tử cùng có hiệu Hương Nghiêm, những Thiên tử này đều
đã phát tâm vô thượng Bồ đề. Họ dâng thức ăn Hương
để cúng dường Phật và Bồ tát.

Tất
cả đại chúng trong hải hội đều trông thấy sự kiện này.

2.-
Bấy giờTrưởng giả Duy Ma Cật hỏi các chúng Bồ tát trong
hải hội rằng: Thưa chư nhơn giả! Trong này ai có thể qua
đến cõi Phật Hương Tích để có thể thỉnh một  ít
cơm thơm?

Do
thần lực của Bồ tát Đại Trí Văn Thù Sư Lợi, cả hải
hội chư Bồ tát đều lặng im.

Ông
Duy Ma Cật nói: Cả đại chúng trong hải hội đều im lặng
cả! Không đáng xấu hổ lắm sao?

Văn
Thù Sư Lợi nói: Theo lời Phật dạy “Không nên xem thường
người chưa học”.

 Ông
Duy Ma Cật, ngồi tại bản tòa ở trước đại chúng, hóa
hiện một Bồ Tát tướng hảo quang minh, uy đức hơn hẳn
mọi người và sai bảo: 

Ông
qua thượng phương vượt đây khoảng bốn mươi hai hằng hà
sa cõi Phật, có một quốc độ tên gọi là Chúng Hương. Đức
Phật cõi đó hiệu là Huơng Tích. Phật và Bồ tát đang cùng
ngồi thọ thực. Ông hãy đến đó nói đúng như lời tôi
rằng:

“Duy
Ma Cật đê đầu đảnh lễ dưới chân đức Thế Tôn trọng
kính vô vàn, gởi đến lời thăm hỏi đức Thế Tôn ít bệnh,
ít não chăng? Sức khỏe bình an chăng? Mong Thế Tôn cho một
ít cơm thừa đem về cõi Ta bà làm Phật sự khiến cho những
người ham ưa pháp Tiểu thừa được mở mang trí tuệ phát
chí Đại thừa, đi theo đại đạo và cũng khiến cho thanh
danh của Như Lai được nhiều người nghe biết khắp cùng”.

Lãnh
hội lời dặn dò, ở trước đại chúng, vị hóa thân Bồ
tát liền bay lên thượng phương, trước sự chứng kiến của
đại chúng. Đến thế giới Chúng Hương, hóa thân Bồ tát
lễ dưới chân Phật. Vào lúc này tất cả đại chúng ở
cõi Ta bà đều nghe rõ lời tác bạch:

“Duy
Ma Cật đê đầu đảnh lễ dưới chân đức Thế Tôn, trọng
kính vô vàn, gởi đến lời thăm hỏi, đức Thế Tôn ít bệnh,
ít não chăng? Sức khỏe bình an chăng? Mong Thế Tôn cho một
ít cơm thừa đem về cõi Ta bà làm Phật sự, khiến cho những
người ham ưa pháp Tiểu thừa được mở mang trí tuệ phát
chí Đại thừa , đi theo đại đạo và cũng khiến cho thanh
danh của Như Lai được nhiều người nghe biết khắp cùng”.

Các
đại sĩ ở nước Chúng Hương trông thấy đức hóa thân Bồ
tát đều rất kính mộ và tán thán đây là việc chưa từng
có. Bậc thượng nhân này từ đâu đến. Ta Bà thế giới
cách đây bao xa. Sao gọi là những người ham ưa tiểu pháp.
Bao nhiêu nghi vấn đặt ra và đem những việc đó thưa hỏi
đức Phật.

Đức
Hương Tích Phật nói với chư Bồ tát rằng ở hạ phương
cách bốn mươi hai hằng hà sa cõi Phật, có thế giới tên
Ta bà. Hiện nay đức Phật Thích Ca Mâu Ni là giáo chủ. Ta
bà là cõi đời nhơ xấu năm trược hoành hành. Đức Phật
Thích Ca vì những chúng sanh ham ưa pháp Tiểu thừa, mở mang
chuyển hóa khiến cho họ phát chí Đại thừa. Đức Phật
có một vị Bồ tát tên Duy Ma Cật hằng trụ trong cảnh giới
giải thoát bất khả tư nghì, vì các Bồ tát nói pháp. Vì
thế, sai vị hóa thân Bồ tát đến cõi này, nhằm xưng dương
danh hiệu của ta và khen ngợi quốc độ Chúng Hương này,
khiến cho Bồ tát ở cõi Ta bà được tăng phần công đức.

3.-
Các Bồ tát Chúng Hương hỏi Phật: Duy Ma Cật người thế
nào, mà có thể hóa ra một Bồ tát oai đức tròn đầy, thần
thông quảng đại thế kia?

Phật
nói: Rất lớn! Chẳng những hóa một Bồ tát mà còn có thể
hóa vô số Bồ tát đi đến vô số cõi nước trong mười
phương để thi tác Phật sự lợi ích chúng sanh.

4.-
Đức Hương Tích Như Lai lấy bình bát Chúng Hương đựng đầy
một bát cơm hương và ban cho hóa thân Bồ tát.

Lúc
bấy giờcó chín trăm vạn Bồ tát, đồng thanh nói: Chúng
tôi muốn đến thế giới Ta bà để cúng dường đức Phật
Thích Ca Mâu Ni và muốn hội kiến với ông Duy Ma Cật và chúng
Bồ tát ở cõi Ta Bà.

Đức
Phật nói : Các Bồ tát có thể đi, nhưng phải thu nhiếp hương
thơm từ thân các ông. Đừng để cho các chúng sanh cõi kia
sanh tâm đam mê nhiễm ái. Lại còn phải đổi thân hình vốn
có của các Bồ tát cõi này, đừng để cho chư Bồ Tát cõi
Ta bà có mặc cảm tự ti. Lại nữa, khi diện kiến các ông
không nên có trong lòng ý tưởng khinh thường mà dấy lên
tư tưởng trở ngại không nên. Bởi vì sao? Vì mười phương
quốc độ đều như hư không. Chẳng qua, chư  Phật vì
giáo hóa những chúng sanh ham ưa tiểu pháp mà không hiện trọn
vẹn cõi nước thanh tịnh đấy thôi.

Bấy
giờ hóa thân Bồ tát cung kính tiếp nhận bát cơm cùng chín
trăm vạn Bồ tát, nương sức oai thần Phật, chư Bồ tát
hốt nhiên không còn hiện diện ở thế giới Chúng Hương…
trong khoảnh khắc sau, tất cả cùng có mặt ở tịnh thất
của ngài Duy Ma Cật.

Ông
Duy Ma Cật hóa ra chín trăm vạn chiếc tòa sư tử cao rộng
đẹp đẽ. Chư Bồ tát trong hải hội đều ngồi lên bảo
tòa…

5.-
Hóa thân Bồ tát đem bát cơm đầy ngào ngạt hương thơm dâng
lên Bồ tát Duy Ma Cật. Hơi thơm của cơm xông ngát thành Tỳ
Da Ly, lan tỏa khắp cả ba ngàn đại thiên thế giới.

Các
Bà la môn, cư sĩ v.v.. nghe mùi hương thân tâm thanh thoát nhẹ
nhàng và đồng khen ngợi là sự kiện nhiệm mầu, xưa nay
chưa từng có.

 Có
vị trưởng giả tên Nguyệt Cái cùng với đoàn tùy tùng 84.000
người đi đến tịnh thất Bồ tát Duy Ma Cật. Khi đến tịnh
thất mọi người trông thấy số chúng đại Bồ tát rất
đông. Các tòa sư tử cao rộng trang nghiêm lộng lẫy. Tất
cả mọi người hoan hỉ lễ bái chư Bồ tát chúng và các
hàng đệ tử Thanh Văn. Lễ xong, lui ra cùng đứng sang một
phía. Các địa thần, hư không thần, chư Thiên cõi Dục, cõi
Sắc nghe mùi hương cũng đến tịnh thất và xin được vào
nghe pháp.

Bồ
tát Duy Ma Cật nói với ông Xá Lợi Phất và các hàng đại
Thanh văn rằng: 

Chư
nhơn giả! Các vị sẽ được ăn cơm vị cam lồ của Như
lai. Cơm này do huân tập vô lượng đại bi mà có. Khi ăn không
nên dùng tâm ý hạn hẹp suy lường mà làm cơm không 
tiêu hóa.

 Khi
ấy, có vị Thanh văn móng ý nghĩ rằng: Cơm ít mà đại chúng
quá đông. Rồi đây mọi người sẽ ăn, rồi ai ăn ai nhịn?

Nhằm
giải tỏa mối nghi trong lòng đại chúng, hóa thân Bồ tát
tuyên bố: Thưa chư  nhơn giả! Các ngài không nên dùng
tiểu đức tiểu trí của Thanh văn mà cân lường phước đức
trí tuệ của Như lai. Nước bốn biển còn có thể hết chứ
cơm này không thể hết. Giả sử mỗi người ăn một khối
to bằng núi Tu Di, ăn trọn kiếp cũng không hết được. Vì
đây là thức ăn thừa của đấng đầy đủ công đức giới,
định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến vô tận, làm
sao hết được. Một bát cơm này no lòng cho bao nhiêu đại
chúng trong hội này hãy còn quá dư thừa! Vả lại Bồ tát,
Thanh văn, nhơn thiên ăn cơm này rồi thân tâm thư thái, vui
vẻ an nhiên giống như Bồ tát ở cõi nước Nhất Thiết Lạc
Trang Nghiêm. Lại nữa sau khi ăn cơm này, từng lỗ chân lông
sẽ tiết ra hương thơm kỳ diệu giống như mùi hương của
các rừng cây thơm ở quốc độ Chúng Hương.

6.-
Bồ Tát Duy Ma Cật hỏi các Bồ tát Chúng Hương rằng: Thưa
chư đại sĩ! Đức Hương Tích Như Lai ở nước Chúng Hương
giáo hóa chúng Bồ tát bằng cách nào?

– Hương
Tích Như lai cõi nước chúng tôi không dùng ngôn ngữ văn tự
thuyết mà chỉ lấy Hương, khiến cho nhơn thiên được đi
vào luật hạnh. Các Bồ tát thì ngồi dưới cội cây Hương
nghe mùi hương vi diệu mà được Tam muội Nhất thiết Đức
Tàng. Bồ tát được tam muội ấy rồi tự có đầy đủ công
đức.

Các
Bồ Tát Chúng Hương hỏi lại:

Thưa!
Đức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn, thuyết pháp bằng cách nào?

Bồ
tát Duy Ma Cật đáp: Cõi Ta bà chúng sanh cang cường khó giáo
hóa, cho nên đức Phật của chúng tôi phải thuyết những
ngôn ngữ cang cường để mà điều phục. Phải nói địa
ngục, súc sanh và ngạ quỷ. Phải nói đấy là chỗ khổn
nạn, đấy là chỗ những người ngu si thọ sanh. Phải nói
đó là việc làm sai quấy của thân. Đó là quả báo của
việc làm sai quấy của thân. Đó là lời sai trái của khẩu,
đó là quả báo của lời sai trái của khẩu. Đó là ý nghĩ
tội lỗi của ý, đó là quả báo của ý nghĩ tội lỗi của
ý. Đấy là sát sanh, đấy là quả báo của sát sanh. Đấy
là không cho mà lấy, đấy là quả báo của việc không cho
mà lấy. Đó là tà dâm, đó là quả báo của tà dâm. Đó
là vọng ngữ, đó là quả báo của vọng ngữ. Đó là lưỡi
hai chiều, đó là quả báo của lưỡi hai chiều. Đó là ác
khẩu, đó là quả báo của ác khẩu. Đó là lời vô nghĩa,
đó là quả báo của lời vô nghĩa. Đó là tham lam, đó là
quả báo của tham lam. Đó là sầu não, đó là quả báo của
sầu não. Đó là tà kiến, đó là quả báo của tà kiến.
Đó là xan lẩn, đó là quả báo của xan lẩn. Đó là hủy
phạm giới, đó là quả báo của hủy phạm giới. Đó là
giải đải, đó là quả báo của giải đải. Đó là loạn
ý, đó là quả báo của loạn ý. Đó là ngu si, đó là quả
báo của ngu si. Đó là trì giới. Đó là phạm giới. Đó là
việc nên làm. Đó là việc không nên làm. Đó là chướng
ngại. Đó là không chướng ngại. Đó là đắc tội. Đó là
tiêu tội. Đó là tịnh. Đó là cấu. Đó là hữu lậu. Đó
là vô lậu. Đó là tà đạo. Đó là chánh đạo. Đó là hữu
vi. Đó là vô vi. Đó là thế gian. Đó là Niết bàn.


những người khó giáo hóa, tâm như vượn, ý như ngựa cho
nên đức Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn phải dùng nhiều ngôn từ
phương tiện thuyết pháp để chế ngự tâm họ. Sau đó mới
điều phục được. Ví như ngựa bất kham, voi cuồng bạo
khó huấn luyện, phải xử dụng roi, dùi, đánh, chích thì
mới điều phục được. Cũng như thế, chúng sanh cang cường
nan hóa, phải dùng những lời khổ thiết như thế mới có
thể đưa khép họ vào luật hạnh.

7.-
Các Bồ tát Chúng Hương đồng tán thán rằng: Đức Thích
Ca Mâu Ni Thế Tôn, làm việc khó làm, dấu đi sức tự tại
vô lượng của mình mà vui lấy pháp khó khăn độ thoát chúng
sanh. Các Bồ tát cõi Ta bà đây cũng hết sức nhọc nhằn
khiêm tốn, do lòng đại bi vô lượng mới nguyện sanh ở cõi
Phật này.

Bồ
tát Duy Ma Cật nói: Đúng như chư đại sĩ nói, Bồ tát cõi
Ta bà, đối với chúng sanh lòng đại bi rất kiên cố. Nhưng
được cái ưu việt là làm lợi ích chúng sanh trong một đời
công đức nhiều hơn trăm ngàn đời làm lợi ích chúng sanh
ở cõi nước của các ngài. Vì sao? Vì thế giới Ta bà có
mười việc thiện pháp, mà các cõi Tịnh độ khác không có:

Một,
lấy bố thí đem giúp đở kẻ nghèo.

Hai,
lấy trì giới đem gương mẫu cho người phạm giới.

Ba,
lấy nhẫn nhục đem dạy khuyên người hung bạo.

Bốn,
lấy tinh tấn đem gương mẫu cho kẻ biếng lười.

Năm,
lấy thiền định đem dạy người loạn ý.

Sáu,
lấy trí tuệ đem giáo hóa người ngu si.

Bảy,
nói pháp trừ nạn hóa độ người bát nạn.

Tám,
lấy pháp đại thừa đem hóa độ người yêu thích tiểu thừa.

Chín,
lấy pháp thiện căn khuyến hoá người vô đức.

Mười,
thường lấy pháp tứ nhiếp dẫn dụ giáo hóa chúng sanh.

8.-
Các Bồ tát Chúng Hương hỏi: Bồ tát ở thế giới Ta bà
thực hành những pháp gì không bị thương tổn, không mắc
mứu để có thể sanh sang ở tịnh độ.

Bồ
tát Duy Ma Cật đáp: Bồ tát ở cõi này thành tựu được
tám pháp thì không bị thương tổn, không bị mắc mứu có
thể sanh vào tịnh độ:

Một,
làm lợi ích chúng sanh mà không cầu đền ơn đáp nghĩa.

Hai,
thay tất cả chúng sanh, gánh chịu những thiệt thòi khổ não.

Ba,
làm tất cả công đức lành, nguyện cho chúng sanh hưởng hết.

Bốn,
bình dị đơn giản đối với tất cả mọi người, nhún nhường
tột thấp mà không mặc cảm tự ti.

Năm,
đối với chư Bồ tát xem trọng như Phật.

Sáu,
những kinh chưa được nghe, thì nghe không nghi ngờ.

Bảy,
không khinh chê pháp tu của người Thanh văn, không ganh tị
sự thọ hưởng cúng dường của họ, không có ý thu lợi
về phần mình. Thường tâm niệm việc đó để điều phục
tâm ý.

Tám,
thường xét lỗi mình, không phê cái xấu của người khác,
hằng giữ nhất tâm, ham cầu công đức. Đó là tám pháp làm
cho Bồ tát thế giới Ta bà không mắc mứu để có thể sanh
sang tịnh độ.

Bồ
tát Duy Ma Cật và Bồ tát Đại Trí Văn Thù Sư Lợi ở giữa
đại chúng nói thời pháp ấy rồi, trăm ngàn trời, người
phát tâm vô thượng Bồ đề. Mười ngàn Bồ tát được vô
sanh pháp nhẫn. 

TRỰC
CHỈ 

1.-
Kinh
Duy Ma Cật ba lần hiện bày Tịnh độ trong Pháp giới
nhất chân. Nói “nhất chân” người học Phật phải hiểu là
pháp giới chỉ có một. Toàn thể chỉ có một. Một là tất
cả. Không còn pháp nào khác ngoài ở ngoài pháp giới nhất
chân đó. Pháp giới nhất chân là pháp giới “Thụ cùng tam
tế, hoành biến thập phương”. Về không gian, tột mé nghĩ
bàn. Về thời gian hết nguồn khái niệm.

Trong
pháp giới nhất chân không có vấn đề tịnh uế. Thấy tịnh
thấy uế là do người. Vì vậy trong pháp giới không tịnh
uế lại có ra tịnh uế.

Lần
thứ nhất, ở chương một, trong cõi Ta bà uế độ này, đức
Phật Thích Ca cho hàng đệ tử thấy và biết rằng: Cõi Ta
bà cấu uế đó chính là do tội chướng của các ông, khiến
cho cái thấy của các ông đối với cõi Ta bà không thanh tịnh.
Ví như trước ánh nắng hòa dịu ấm áp của bầu trời xuân.
với muôn vàn màu sắc của hoa lá thắm tươi rực rỡ. Vậy
mà những người mù thì chẳng thưởng thức được gì. Không
thấy đẹp, không phải vì không có cảnh đẹp. Không thấy
tịnh, không phải quốc độ của Phật Thích Ca không tịnh.

Đó
là lần Phật cho đại chúng trong hải hội biết: ngay nơi
uế độ vốn đã có tịnh độ. Tịnh độ không cần phải
xuất cảnh rời bỏ uế độ ra đi mới có.


chương này, giới thiệu quốc độ Chúng Hương của Phật
Hương Tích.

Phật
Hương Tích giáo chủ của thế giới Chúng Hương ở thượng
phương cách cõi Ta bà 42 hằng ha sa cõi nước. Ở đó có thế
giới Tịnh độ. Tịnh độ Chúng Hương, Phật và Bồ Tát
xử dụng toàn hương. Đất đai, lầu các, vườn rừng, hoa
cảnh, cho đến thức ăn đều là hương tất cả. Đức Hương
Tích giáo hóa cũng xử dụng hương.

Qua
ý nghĩa của sự kiện trên, ta thấy:

a.-
Nhằm giới thiệu cho đại chúng trong hải hội biết rằng:
ngoài thế giới uế độ còn có thế giới thuần tịnh độ
trong pháp giới nhất chân. Tuy nhiên, vẫn không ngoài chân
lý tịnh uế do người. Thế giới Chúng Hương thuần tịnh,
vì thế giới không có xen tạp cái nhìn của nhục nhãn vốn
nhiều tội cấu của phàm phu. Thế giới đó được nhìn qua
tuệ nhãn của thuần là Bồ tát.

b.-
Nhằm giáo dục cho người đệ tử Phật biết: Lục trần,
trần nào cũng có thể làm Phật sự. Lục căn, căn nào cũng
cũng có thể khiến cho con người học đạo, hành đạo và
chứng đạo được hết.

Đức
Phật Thích Ca giáo chủ cõi Ta bà xử dụng thanh trần giáo
hóa chúng sanh làm nên Phật sư.

Đức
Phật Hương Tích giáo chủ thế giới Chúng Hương xử dụng
Hương trần giáo hóa Bồ tát làm nên Phật sự.

Chúng
sanh cõi Ta bà xử dụng nhĩ căn nghe đạo, học đạo, hành
đạo và chứng thành đạo quả.

Chúng
Bồ tát thế giới Chúng Hương xử dụng tỷ căn ngửi mùi
đạo, học đạo, hành đạo và chứng thành đạo quả.

Kinh
Thủ Lăng Nghiêm, 25 Thánh đệ tử dựa trên lục căn, lục
trần, lục thức, thất đại làm dữ kiện chứng đắc viên
thông.

Kinh
Duy Ma Cật, 31 Bồ tát dựa trên 31 sự kiện khác nhau nhưng
kết cuộc cùng đến một đích: chứng nhập pháp môn bất
nhị và với Hương trần, đức Phật Hương Tích lại giáo
hóa chúng sanh khiến cho hàng Bồ tát đạo hạnh ngày càng
tăng tiến.

Quán
triệt kinh đìển Đại thừa, người đệ tử Phật càng thấy
nền giáo lý Phật thậm thâm vi diệu.

Với
chân lý: Chư pháp tương tức, nhất đa tương dung. Thế giới
này cũng là thế giới kia. Thế giới kia cùng thế giới này
tuy hai mà một. Đó là ý nghĩa chư pháp tương tức. Bởi vì,
dù thế giới có hai nhưng hai thế giới vẫn chung cùng trong
pháp giới nhất chân.

Hoa
Nghiêm tông lấy con sư tử vàng làm ví dụ để khái niệm
nhận thức về ý nghĩa chư pháp tương tức và nhất đa tương
dung. Mảy lông bờm và mảy lông đuôi của con sư tử tên
gọi khác nhau, nhưng lông bờm là lông đuôi, lông đuôi là
lông bờm của con sư tử ấy. Vì hai mảy lông cùng một chất
vàng. Chất vàng của lông bờm dung chứa toàn bộ chất vàng
của lông đuôi. Chẳng những thế, nó còn dung chứ toàn bộ
chất vàng của toàn bộ lông móng từ đầu chí đuôi của
toàn thân con sư tử.

Qua
ví dụ đó, thiền giả nhận thức về ý nghĩa nhất đa tương
dung.

2.-Hành
xử quán trí thâm ngộ sâu sắc ý nghĩa chư pháp tương tức,
nhất đa tương dung, thiền giả sẽ lý giải không hoang đường.
Về sự di chuyển qua lại của đức hóa thân Bồ tát, trên
một khoảng không gian cách 42 hằng hà sa thế giới. Vừa đi,
đến, vừa làm lễ tác bạch, xin cơm Hương, vừa trở về
tịnh thất của ngài Duy Ma Cật mà chỉ mất trong vài khoảnh
khắc!

Nhìn
vạn pháp bằng tuệ nhãn, Huyền Giác thiền sư nói; 

“Giác
hậu không không vô đại thiên”. Nghĩa là tâm thấy biết của
những bậc Đại giác thì 42 hằng hà sa thế giới chẳng có
ranh giới, cho nên xa gần không còn là vấn đề đặt ra để
bình luận nữa. Mà: “Nhất tức nhất thiết. Nhất thiết tức
nhất”.

3.-
Đức Phật Hương Tích dạy: là Bồ tát thì uy đức tôn nghiêm,
thần thông quảng đại là lẽ thường. Các đặc trưng và
thực nghĩa của Bồ tát là phải làm những việc khó mà tất
cả chúng sanh không làm được. Chẳng những thế, vì sự
nghiệp hóa độ chúng sanh, Bồ tát phục vụ chúng sanh từ
quốc độ này sang vô lượng thế giới khác trong mười phương
không kể thời gian, năm, tháng…

4.-
Phật Hương Tích đồng ý cho chín trăm vạn Bồ tát ở quốc
độ Chúng Hương đi tham quan cõi Ta bà ra mắt đức Phật Thích
Ca với ba điều kiện:

Một,
phải thu nhiếp thân hương. Không nên để chúng sanh cõi Ta
bà sanh tâm ái nhiễm khiến cho họ khó tu hành.

Hai,
thu thân tướng vĩ đại trang nghiêm. Không được để Bồ
tát cõi Ta bà mặc cảm tự ti không tốt.

Ba,
thấy Phật, thấy Bồ tát, thấy quốc độ Ta bà không thanh
tịnh trang nghiêm, nhưng không được khởi tướng xem thường.
Đức Phật dạy tiếp:

Bồ
tát các ông phải biết: “Mười phương quốc độ đều như
hư không. Chư Phật vì giáo hóa chúng sanh ham ưa pháp nhỏ
mà không hiện trọn vẹn cõi nước thanh tịnh đấy thôi”.

Qua
lời dạy của đức Phật Hương Tích, một lần nữa, ta có
thể xác định rằng: quốc độ tịnh uế là do chúng sanh,
chứ không phải quốc độ của chư Như Lai trong mười phương
có tịnh có uế.

5.-
Cơm Hương, tượng trưng “phước đức trí tuệ hương”. Của
cải vật chất hữu vi, dù nhiều đến bao nhiêu, đem phân
phát cho ra có ngày phải hết. Phước đức trí tuệ của bậc
đầy đủ tột cùng, đem truyền đạt bao thời gian, năm, tháng,
số người tiếp thu không cần hạn chế, phước đức trí
tuệ vẫn không hao mòn giảm thiểu. Tu học theo con đường
phước đức trí tuệ của Hương Tích Như lai tức là tu học
pháp môn vô tận đăng của thế giới Chúng Hương truyền
đạt cho Bồ tát cõi Ta bà.

6.-
Như ta đã biết căn, trần, thức, thất đại đều có thể
làm Phật sự được hết. Vì tất cả đều là dữ kiện
chứng đắc Viên thông (Xin đọc thêm kinh Thủ Lăng Nghiêm
Trực chỉ đề cương cùng một biên dịch giả).

Đức
Phật Hương Tích thế giới Chúng Hương xử dụng Hương trần
giáo hóa Bồ tát.

Đức
Phật Thích Ca Mâu Ni cõi Ta bà xử dụng Thanh trần giáo hóa
chúng sanh.

Cõi
tịnh độ, Phật Hương Tích giáo hóa chư Bồ tát chỉ dùng
Hương mà luật hạnh của các ngài bất thối chuyển trên
đường vô thượng Bồ đề.

Cõi
uế độ, Phật Thích Ca giáo hóa chúng sanh phải tận dụng
ngôn từ khổ thiết nặng nề, vì chúng sanh thâm nhiễm vô
minh, ý chí cang cường nan điều nan phục.

Đối
với bậc lợi căn thượng trí, đức Phật chỉ nói với họ
về phước đức, trí tuệ, khinh an, giải thoát, Bồ đề Niết
bàn là người trí đã phát tâm hâm mộ…

Với
bậc hạ trí độn căn, Phật không muốn dùng lời khổ thiết
nặng nề: ngạ quỷ, súc sanh, địa ngục…nhưng vì muốn
tránh cảnh khổ đó cho chúng sanh, đức Phật bất đắc dĩ
phải đem ra xử dụng.

Thật
ra, đó chỉ là một phương tiện được xem như những công
cụ bạo lực để răn đe những ai không biết sợ tội lỗi
là gì. Như giăng giúp cho họ một sợi thép gai làm hàng rào,
hy vọng họ không sa ngã vào chỗ hầm hố, gai chông.

Vấn
đề địa ngục trong giáo lý nhà Phật, địa ngục có cũng
do con người. Không do đấng thiêng liêng nào kiến tạo sẵn
để trừng trị một ai. (Đọc thêm Thủ Lăng Nghiêm Trực
chỉ đề cương, tập 3 sẽ được hiểu rõ hơn).

7.-
Phật và Bồ tát ở cõi Ta bà, lòng đại bi vô lượng, đức
kiên cố vô cùng, ẩn dấu đi sức tự tại giải thoát của
mình làm những việc khó làm nhằm độ thoát chúng sanh cang
cường nan điều nan phục.

Đó
là lời tán thán và kính phục tận đáy lòng của chư Bồ
tát quốc độ Chúng Hương.

Bồ
tát Duy Ma Cật cho biết dù vậy, nhưng Bồ tát ở cõi Ta bà
trên phương diện vun bồi công đức phát huy trí huệ, rèn
luyện ý chí lại có nhiều thuận lợi mà các Bồ tát ở
các cõi Tịnh độ khác không có. Chẳng hạn:

Muốn
giúp đở ban cho , có người tiếp nhận.

Hoàn
cảnh nhiều cám dỗ để tự tôi luyện ý chí được kiên
trì.

Nhiều
kẻ thù bất như ý, để thí nghiệm tánh nhẫn nhục,

Nhiều
nghịch cảnh đau thương, như cảnh tỉnh phải tinh tấn tu
hành, không nên giải đải.

Nhiều
chúng sanh tạp ý, ta dạy cho họ phương pháp định tâm.

Nhiều
kẻ ngu si, Bồ tát dạy cho họ sống theo trí tuệ.

Nhờ
vậy, Bồ tát hành đạo ở cõi Ta bà một đời bằng trăm
ngàn đời hành đạo ở các cõi Tịnh độ khác.

8.-
Tuy nhiên, nếu Bồ tát không muốn hành Phật sự, giáo hóa
chúng sanh ở cõi Ta bà thì cũng vẫn có những điều kiện
để Bồ Tát tiến thân sanh sang các Tịnh độ:

Một,
thi ân không cần đền trả.

Hai,
nếu có điều kiện, gánh vác thay cực khổ cho chúng sanh.

Ba,
làm điều lợi lành ban tặng cho chúng sanh hết.

Bốn,
bình dân giản dị trong cuộc sống. Nhún nhường tột thấp
mà không tự ti.

Năm,
trọng kính Bồ tát như kính Phật.

Sáu,
kinh điển Đại thừa nghe không khiếp sợ.

Bảy,
không khinh chê pháp Thanh văn, không tỵ hiềm quyền lợi đối
với họ.

Tám,
thường quán xét lỗi mình không nói thị phi của người.

Độ
sanh, hành đạo Bồ tát, tùy ở thệ nguyện và phát tâm. Không
ai có quyền ép uổng ai trong nhiệm vụ cao cả thiêng liêng
đó. Thấy đủ khả năng, giàu nghị lực thi hành đạo ở
cõi Ta bà. Muốn được nhẹ vơi gánh nặng thì cũng tùy nguyện
mà sanh sang thế giới khác.

Tuy
nhiên ở cõi này hay nguyện sang thế giới khác, muốn lập
công bồi đức thành tựu vô thượng Bồ đề đều phải
có điều kiện. Thành tựu tám điều kiện đó, thì ngay thân
này, quốc độ này mà tâm hồn đã giải thoát rỗng rang,
chính lúc đó là đã sanh sang cõi Tịnh độ khác rồi.

 

CHƯƠNG
THỨ MƯỜI MỘT 

VIỆC
LÀM
CỦA BỒ TÁT 

1.-
Đức
Phật đang thuyết pháp ở trong một vườn xoài cây to
hàng rợp bóng. Lúc bấy giờ đất vườn bỗng nhiên trở
nên rộng rãi bao la khác thường, cành lá vườn cây đổi
màu mơn mởn xanh tươi, trăm hoa đua nở rực rở sắc màu,
lã lướt đong đưa trong làn gió nhẹ. Cảnh vật tựa như
hân hoan chào đón…Tất cả đại chúng trong hải hội tự
nhiên đều trở thành màu hoàng kim rạng rỡ hào quang.

Thấy
hiện tượng lạ, ông A Nan thưa với Phật: Bạch Thế Tôn!
Do nhân duyên gì mà cảnh vật trong vườn hiện ra điềm lạ
thế kia. Đất của vườn xoài bỗng nhiên rộng rãi bao la,
cây cối xanh tươi, trăm hoa rực rõ sắc màu, mọi vật có
vẻ như hân hoan khác lạ. Đại chúng trong hải hội đều
trở thành một màu hoàng kim rực rỡ.

Đức
Phật bảo A Nan! Hiện giờ ông Duy Ma Cật và Văn Thù Sư Lợi
cùng đại chúng đang phát khởi ý muốn đến ra mắt Ta. Họ
đang cung kính đi nhiểu quanh, trước khi đến đây cho nên
ứng ra điềm ấy.

2.-
Ông Duy Ma Cật nói với Đại Trí Văn Thù Sư Lợi rằng: Thưa
ngài Văn Thù Sư Lợi! Chúng ta nên đến ra mắt đức Thế
Tôn! Nhơn cơ hội này để chư Bồ tát tham kiến và lễ bái
cúng dường đức Phật.

Đại
Trí Văn Thù Sư Lợi nói: Ý kiến rất hay. Thật là đúng lúc.
Vậy chúng ta nên cùng đi.

Bồ
Tát Duy Ma Cật bèn vận dụng thần lực, dời tất cả đại
chúng trong lúc mọi người vẫn ngồi trên tòa sư tử, để
lên bàn tay phải của mình sang đến chỗ Phật. Đến nơi
để xuống dưới đất. Bồ tát Duy Ma Cật đê đầu, lễ
dưới chân Phật. Đi hữu nhiểu bảy vòng, chấp tay cung kính
đứng qua một phía. Các Bồ tát, hàng đệ tử Thanh văn, trời
Đế Thích, Phạm Thiên, tất cả rời khỏi tòa ngồi, dập
đầu lễ dưới chân đức Phật cùng đi hữu nhiểu bảy vòng
và đứng sang một phía.

Đức
Thế Tôn tỏ lời thăm hỏi trong đạo tình thân thiết đối
với toàn thể đại chúng và mọi người hãy an tọa trở
lại bản tòa. 

Đức
Phật bảo ông Xá Lợi Phất rằng:

– Xá
Lợi Phất! Ông đã thấy sức thần thông tự tại của bậc
đại sĩ Bồ tát làm rồi chứ?

– Dạ!
Bạch Thế Tôn, con đã thấy. Ông Xá Lợi Phất thưa.

– Ý
ông thế nào? Phật hỏi.

– Bạch
Thế Tôn! Ông Xá Lợi Phất thưa. Con thấy việc làm của Bồ
tát khó có thể nghĩ bàn. Vượt ngoài sự suy lường của
tâm, sự nghĩ ngợi của ý.

3.-
Ông A Nan đứng lên hỏi Phật:

Bạch
Thế Tôn! Hôm nay trong bầu không khí của hải hội có mùi
hương kỳ diệu mà từ trước chưa từng có, chúng con không
biết đó là thứ hương chi!

Phật
bảo: Đó là mùi hương phát ra từ lỗ chân lông của các
Bồ tát vừa mới đến.

Ông
Xá Lợi Phất nói với ông A Nan: Từng lỗ chân lông của tôi
cũng phát ra mùi hương ấy.

– A
Nan hỏi: Do đâu ngài có được mùi hương ấy?

– Do
Bồ tát Duy Ma Cật xin được cơm dư của Phật Hương Tích
ở nước Chúng Hương đem về tịnh thất của ông. Những
ai được ăn cơm ấy, từng lỗ chân lông đều phát ra mùi
hương như thế.

– Mùi
hương ấy có thể giữ lại trong người bao lâu mới hết?

– Cho
đến khi nào cơm tiêu thì mùi hương mới hết.

– Cơm
ấy bao lâu mới tiêu?

– Thế
lực của cơm này sau bảy ngày mới tiêu. Thưa ngài A Nan! Nếu
người Thanh văn chưa chứng nhập chánh vị, ăn cơm này đến
khi được nhập chánh vị, cơm mới tiêu. Nếu đã nhập chánh
vị, ăn cơm này đến khi tâm được giải thoát, cơm mới
tiêu. Nếu chưa phát ý đại thừa, ăn cơm này đến khi phát
ý, cơm mới tiêu. Đã phát ý đại thừa, ăn cơm này đến
khi được vô sanh pháp nhẫn, cơm mới tiêu. Đã được vô
sanh pháp nhẫn, ăn cơm này đến khi được nhất sanh bổ xứ,
cơm mới tiêu. Ví như có thứ thuốc tên là thượng vị, người
uống thuốc này, các chất độc trong thân hết, vị của thuốc
mới tiêu. Cơm này cũng thế. Chừng nào dứt trừ hết các
độc phiền não, nhiên hậu cơm mới tiêu.

Ông
A Nan thưa: Bạch Thế Tôn! Thật chưa từng có. Cơm này có
thể làm nên Phật sự.

4.-
Phật nói: Đúng vậy! Đúng vậy! A Nan: có cõi Phật lấy ánh
hào quang Phật làm Phật sự hoặc có cõi lấy Bồ tát làm
Phật sự. Cõi lấy hóa nhơn Phật làm Phật sự. Cõi lấy
cây Bồ đề làm Phật sự. Cõi lấy y phục ngọa cụ của
Phật làm Phật sự. Cõi lấy cơm ăn làm Phật sự. Cõi lấy
vườn rừng, đài quán làm Phật sự. Cõi lấy 32 tướng tốt,
80 vẻ đẹp của thân Phật làm Phật sự. Cõi lấy thân Phật
làm Phật sự. Cõi lấy hư không làm Phật sự. Cõi lấy chiêm
bao, huyễn ảo, âm vang, hình trong gương, trăng trong nước,
bóng giả mả, các thí dụ như thế làm Phật sự. Cõi lấy
âm thanh, ngữ ngôn văn tự làm Phật sự. Cõi lấy quốc độ
thanh tịnh bằng bặc vô ngôn, vô thuyết, vô thị, vô thức,
vô tác, vô vi mà làm Phật sự.

Như
thế đấy A Nan! Nhất nhất oai nghi, đi đứng tới lui, động
tịnh của chư Phật không một cử chỉ nào không làm nên
Phật sự.

Đức
Phật dạy tiếp: Này A Nan! Có cõi Phật dùng cả tứ ma, dùng
cả 84.000 phiền não trần lao. Đối với những thứ đó, chúng
sanh cho là những thứ phiền lụy, khổ đau, mỏi mệt. Thế
mà chư Phật lại lấy đó mà làm nên Phật sự. Làm được
những việc như thế, gọi đó là thể nhập Nhất thiết chư
Phật pháp môn. Bồ tát thể nhập pháp môn đó, giả sử thấy
tất cả cõi Phật thanh tịnh đẹp đẽ cũng không lấy làm
mừng, không khởi ý tham cầu, không móng tâm cao ngạo. Giả
sử thấy cõi Phật không thanh tịnh, cũng không bị ám ảnh
ưu tư, không ngại ngùng khởi tâm trốn tránh. Lúc nào cũng
vững tâm thanh tịnh đối với chư Phật, hoan hỉ cung kính
như được cái chưa từng có. Vì biết rằng chư Phật Như
Lai công đức bình đẳng, chỉ vì giáo hóa chúng sanh mà hiện
cõi Phật không giống nhau.

5.-
A Nan! Đất đai cõi nước của chư Phật có giới hạn mà
hư không thì không có giới hạn. Cũng vậy, nhìn thấy sắc
thân của chư Phật có giới hạn mà trí tuệ vô ngại của
chư Phật thì không có giới hạn.

A Nan!
Sắc thân của chư Phật oai nghi, tướng hảo, chủng tánh giới,
định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến, thập lực,
tứ vô úy, thập bát bất cộng pháp, đại từ, đại bi, oai
nghi sở hành, thọ mạng, thuyết pháp giáo hóa, thành tựu
chúng sanh, tịnh Phật quốc độ v.v…Các phương tiện để
thành tựu Phật pháp trọn vẹn thì đều bình đẳng giống
nhau. Vì thế cho nên gọi là Chánh giác, gọi là Chánh biến
tri giác, gọi là Vô thượng Chánh biến tri giác.

A Nan!
Nếu Như Lai nói rộng về ba cú nghĩa đó, ông dù đem tuổi
thọ của một kiếp cũng không thể nào tiếp thu hết được.
Giả sử chúng sanh đầy cả ba ngàn đại thiên thế giới,
có khiếu đa văn đệ nhất như A Nan được chánh niệm có
sức tổng trì, những người đó dùng trọn kiếp thọ mạng
cũng không lãnh hội được hết. Như thế đó A Nan! Vô thượng
chánh biến tri giác của chư Phật không có hạn lượng. Trí
tuệ biện tài không thể nghĩ bàn.

6.-
A Nan thưa: Bạch Thế Tôn! Từ nay về sau, con không còn dám
nghĩ mình đa văn nữa.

Phật
bảo: A Nan! Ông đừng suy thoái ý chí như thế. Từ trước
Như Lai vẫn nói ông là đa văn đệ nhất đó chứ. Nhưng đệ
nhất trong hàng Thanh văn chứ không phải đệ nhất với hàng
Bồ tát. Ông hãy an tâm đi! Là người có trí, không ai so lường
trí tuệ của các hàng Bồ tát! Tất cả vực sâu, biển cả
còn có thể đo lường chứ thiền định, trí tuệ biện tài,
sức tổng trì và công đức của chư Bồ tát thì không thể
lường hết.

A Nan!
Ông hãy gác qua những việc làm của Bồ tát, đừng nghĩ ngợi
so bì nữa! Sức thần thông biến hiện của ông Duy Ma Cật
chừng một giờ thôi, tất cả Thanh văn, Bích chi Phật dùng
hết sức biến hóa trải trăm ngàn kiếp cũng không làm sao
bằng 

được.

7.-
Các Bồ tát từ thế giới Chúng Hương đến dự, lúc bấy
giờ chấp tay bạch với đức Phật:

Bạch
Thế Tôn! Chúng con khi mới đến cõi này, thoạt đầu chúng
con có ý tưởng hơi xem thường. Giờ đây, chúng con rất ăn
năn tự trách và ý nghĩ đó không còn. Vì chúng con được
hiểu rằng phương tiện của chư Phật không thể nghĩ bàn.
Vì độ chúng sanh tùy phước đức và căn cơ của họ mà
ứng hiện cõi nước Phật có khác.

Dạ!
Kính bạch Thế Tôn! Chúng con mong mỏi Thế Tôn cho chúng con
xin một lời dạy để khi trở về bổn độ, chúng con được
nhớ Như Lai mãi mãi.

8.-
Phật dạy: này các Bồ tát! Như Lai có pháp môn Hữu tận
vô tận giải thoát, các ông nên học.

Hữu
tận tức là hữu vi pháp. Vô tận tức là vô vi pháp.

Phàm
là Bồ tát, phải tu học Bất tận hữu vi, Bất trụ vô vi.

 Bất
tận hữu vi, nghĩa là Bồ tát không rời tâm đại từ, không
gián đoạn lòng đại bi. Phát tâm cầu nhất thiết trí sâu
sắc không tâm xao lãng. Giáo hóa chúng sanh không nài mỏi mệt.
Đối với pháp Tứ nhiếp thường nhớ nghĩ làm theo. Hộ trì
chánh pháp không tiếc thân mạng, trồng các căn lành không
biết mỏi mệt. Tâm thường an trú trong các phương tiện,
ý chí hồi hướng vô thượng Bồ đề. Cầu pháp không giải
đải. Thuyết pháp không lẫn tiếc. Siêng cúng dường chư
Phật, cho nên vào sanh tử mà không sợ. Được vinh quang không
vui mừng kiêu hãnh. Bị khổ nhục không buồn bả nãn lòng.
Không khinh người chưa học. Kính người học như kính Phật.
Ai sa vào phiền não khiến cho họ phát khởi chánh niệm. Viễn
ly được dục lạc không lấy đó làm tự hào. Mình được
vui không luyến ái đam mê. Người được vui khởi tâm vui
mừng tùy hỷ. Tâm trụ thiền định mà khởi tưởng như ở
địa ngục. Ở trong sanh tử khởi tưởng như đang dạo chốn
hoa viên. Có người đến cầu xin khởi tưởng như vị thầy
tốt. Xả bỏ hết sở hữu khởi tưởng thành tựu nhất thiết
trí. Thấy người hủy phạm điều răn khởi tưởng cứu hộ.
Các ba la mật khởi tưởng như cha mẹ. Những pháp trợ đạo
phẩm khởi tưởng như quyến thuộc. Trồng các căn lành không
hạn chế. Dùng những việc trang nghiêm tịnh Phật quốc độ
xây dựng Phật độ cho mình. Thực hành bố thí ba la mật
để được đầy đủ tướng hảo. Trừ bỏ tất cả hành
vi ác để thân, khẩu, ý được thanh tịnh. Dù sanh tử vô
số ức kiếp ý chí vẫn tích cực lạc quan. Nghe Phật có
vô lượng công đức, không có ý mỏi mệt thoái thoát tự
khinh. Dùng gươm trí tuệ đánh dẹp giặc phiền não. Ra khỏi
ấm giới nhập gánh vác chúng sanh. Hằng ở trong giải thoát,
dùng sức đại tinh tấn hàng phục ma quân. Thường trụ trong
vọng niệm mong được trí tuệ thực tướng. Thực hành thiểu
dục tri túc mà không rời bỏ pháp thế gian. Không sai trái
oai nghi mà có thể tùy thuận việc làm thế tục. Vận dụng
thần thông, kích khởi trí tuệ dẫn dắt chúng sanh. Trụ trong
chánh niệm được sức tổng trì, nghe học chân lý, thường
không quên sót. Khéo phân biệt căn tánh, cắt đứt mọi nghi
ngờ của chúng sanh trong những điều nghi vấn. Lạc thuyết
biện tài, nói pháp không mâu thuẩn trước sau. Hành thập
thiện trong sáng, hưởng thụ phước báu nhơn thiên. Tu tứ
vô lượng tâm mở đường giác ngộ cho Đế thích, Phạm thiên.
Khuyến khích thuyết pháp, tùy hỷ mọi việc lành. Được
âm thinh thánh thiện, thân khẩu ý đều lành. Được oai nghi
Phật tu sâu thiện pháp. Việc lành tập trung, chuyển hướng
phục vụ giáo hóa đại thừa. Thành tựu Bồ tát tăng tâm
không phóng dật, không rơi sót tất cả hạnh lành.

Thực
hành tốt những điều như thế, gọi là Bồ tát bất tận
hữu vi.

9.-
Bồ tát bất trụ vô vi là:

 Bồ
tát tu học vạn pháp giai không mà không lấy cái không làm
mục tiêu đối tượng chứng đắc. 

Tu
học
vạn pháp vô tướng vô tác mà không lấy vô tướng vô
tác làm đối tượng sở chứng sở đắc. 

Tu
học
vạn pháp vô khởi mà không lấy vô khởi làm đối tượng
chứng đắc. 

Bồ
tát
quán vô thường mà làm tất cả việc lành không hề có
chán ngán. 

Quán
thế
gian khổ mà không oán ghét sanh tử. 

Quán

ngã mà hết sức tinh tấn trong việc giáo hóa con người. 

Quán
bản
thể của vạn pháp tịch diệt mà không mong cầu vĩnh
viễn diệt như hư không. 

Quán
viễn
ly mà thân tâm luôn luôn trụ trong thiện pháp. 

Quán
vạn
pháp không có chỗ về mà quy về thiện pháp. 

Quán
vạn
pháp vô sanh mà lấy pháp sanh để gánh vác tất cả. 

Quán
cảnh
giới vô lậu mà không dứt hẳn các lậu. 

Quán
vạn
pháp vô hành mà lấy pháp hành giáo hóa chúng sanh. 

Quán
rỗng
không không có gì mà không rời bỏ đại bi. 

Quán
chánh
pháp vị mà không theo đường lối của Tiểu thừa. 

Quán
vạn
pháp hư vọng không bền chắc, không người, không chủ,
không tướng nhưng bổn nguyện chưa tròn thì đối với phước
đức, thiền định, trí tuệ lại là việc bất hư.

Tu
học những pháp như thế gọi là Bồ tát bất trụ vô vi.


sự nghiệp phước đức đầy đủ, Bồ tát không trụ vô
vi.


sự nghiệp trí tuệ đầy đủ, Bồ tát không rời bỏ hữu
vi. Vì đại từ bi không trụ vô vi. Vì trao truyền thuốc pháp
không rời bỏ hữu vi. Vì biết bịnh chúng sanh không trụ
vô vi. Vì trừ diệt bịnh chúng sanh không rời bỏ hữu vi.

Này
các chánh sĩ! Đức Phật dạy tiếp: Bồ tát thực hiện những
pháp bất tận hữu vi, bất trụ vô vi rồi, thì chính đó
cũng gọi là Tận vô tận giải thoát pháp môn. Các vị hãy
theo đó mà tu học.

Các
Bồ tát đại sĩ nước Chúng Hương nghe đức Phật dạy pháp
môn ấy rồi đều rất hoan hỉ, lấy các thứ hoa sắc màu
rực rỡ, bao nhiêu thứ hương thơm thượng diệu tung rải
khắp cả ba ngàn đại thiên thế giới để cúng dường Phật,
cúng dường Pháp và cúng dường chư Bồ tát Tăng.

Cúng
dường xong, tất cả cùng dập đầu lễ dưới chân Phật
tán thán rằng: chỉ có đức Phật Thích Ca Mâu Ni vận dụng
phương tiện hành những việc nan hành, trong cõi thế gian chưa
từng có.

Nói
xong, bỗng nhiên không còn hiện diện. Các đại sĩ đã trở
lại quốc độ Chúng Hương. 

TRỰC
CHỈ 

1.-
Trong
các kinh điển Đại thừa, Đất thường được đem ví
dụ cho Tâm chúng sanh. Vì vậy, kinh điển khi nói đến tâm
hay dùng qua cái từ Tâm địa.

…”Chúng
sanh chi tâm du như đại địa. Ngũ cốc ngũ quả tùng đại
địa sanh. Như thị, tâm pháp sanh Thế xuất thế, ngũ thú
thiện ác. Hữu học, vô học. Độc giác, Bồ tát cập ư Như
Lai. Dỉ thị nhân duyên, tam giới duy tâm. Tâm danh vi địa”.
Có nghĩa là tâm chúng sanh được ví như đất, vì tâm có
thể sanh ra pháp thiện, pháp ác. Có thể tạo ra trời, người,
A tu la, quỷ, súc sanh, địa ngục. Có thể tạo ra hữu học,
vô học, Độc giác, Bồ tát thậm chí làm nên địa vị Như
Lai. Do vậy, ví tâm qua cái từ tâm địa.

Đất
đai, vườn rừng biểu hiện một sắc thái hoàng kim rực rỡ.
Cỏ cây, hoa cảnh đua nhau khoe sắc thi màu. Khí hậu trong lành,
hòa điệu, rộn rã tiếng chim hót oanh ca.

Trong
bối cảnh đất chùa tươi đẹp đó, đức Phật dạy cho ông
A Nan và đại chúng biết:”Đây là hiện tượng ông Duy Ma Cật
và các Bồ tát định ý và đang chuẩn bị đến ra mắt vấn
an ta”.

Sự
thật là thế đó. Vùng đất nào mà Bồ tát đã đến, đang
đến hay sẽ đến đều có hiện tượng đẹp như vậy. Còn
hơn thế nữa, kinh Pháp Hoa đức Phật cho biết: từ thế giới
Nhất Thiết Tịnh Quang Trang Nghiêm, cách thế giới Ta bà 42
hằng hà sa thế giới. Vậy mà trên khoảng đường dài ấy,
thế giới nào Bồ tát Diệu Âm đi ngang qua – chỉ đi ngang
qua thôi, tất cả đều trở thành rực rỡ trang nghiêm như
vậy. (Đọc thêm kinh Pháp Hoa thâm nghĩa đề cương cùng một
biên soạn giả).

Ý
Phật muốn dạy cho chúng sanh rằng: Tâm địa của ai vừa
nghĩ lành, làm lành, nói lành như hạnh lành của Bồ tát.
Hoặc đã làm, đang làm hay sẽ làm. Tự khắc tâm địa của
người đó, chuyển thành hiện tượng đẹp vui, thanh thoát
như bối cảnh hoàng kim của vườn rừng tươi đẹp ấy.

2.-
Bồ tát Duy Ma Cật di chuyển mấy muôn ngàn Bồ tát vẫn ngồi
yên trên tòa sư tử, từ vị trí tịnh thất của ông sang
địa điểm chỗ Phật, trên một bàn tay…

Sao
lại có chuyện hoang đường như thế?

Tại
trong người vốn có chất hoang đường khi nghe hiểu theo kiểu
hoang đường, cho nên biến ra tưởng tượng.

Thâm
nghĩa của bài kinh, giáo lý Phật đại thừa nhằm dạy cho
Thiền giả vận dụng quán trí, tư duy về vạn pháp qua mấy
khía cạnh sau đây:

a.-
Phải hiểu rõ chân lý: Chư pháp tương tức tự tại môn.

b.-
Phải tư duy sâu sắc chân lý: Nhất đa tương dung bất đồng
môn.

c.
Phải nhận thức vạn pháp với dạng: Nhân đà la võng cảnh
giới môn.

d.-
Nắm vững chân lý: Đồng thời cụ túc tương ứng môn.

Đoạn
kinh trên nhằm dạy cho hành giả phương pháp nhận thức, tư
duy và quán chiếu vạn pháp.

Phải
đứng trên lập trường quan điểm đó, người đệ tử Phật
có ngày tỏ ngộ chân lý. Sự tu hành sẽ có kết quả thiết
thực đem lại sự khinh an giải thoát từng phần trong cuộc
sống hiện đời.

Bằng
ngược lại, “Y văn giải nghĩa tam thế Phật oan”. Dù có khéo
nói vạn ngữ thiên ngôn, thực chất chỉ là người giàu óc
hoang đường, nghe chuyện hoang đường và sống để nói chuyện
hoang đường.

3.-
Ở cõi Ta bà đức Phật Thích Ca Mâu Ni xử dụng Thanh trần
làm Phật sự trong việc giáo hóa chúng sanh. Những chúng sanh
hữu duyên được nghe chánh pháp, hành chánh pháp và truyền
bá chánh pháp thì quyết định sự giải thoát giác ngộ từng
bước mà tiến theo tiến trình tu học của mình. Và Phật
chủng đó tồn tại mãi mãi trên tiến trình ấy và cứ nhân
lên mãi cho đến ngày thành tựu quả vô thượng Bồ đề.

Khác
đức Phật Thích Ca, đức Phật Hương tích xử dụng Hương
trần làm Phật sư trong việc hóa độ chúng Bồ tát. Thì những
chúng sanh nào hữu duyên được thọ dụng Hương trần và
kết quả đem lại cũng giống nhau. Nghĩa là sự giải thoát
giác ngộ cũng từng bước mà tiến theo tiến trình tu học
của mình và Phật chủng đó tồn tại mãi cho đến ngày thành
tựu quả vô thượng Bồ đề.

Thanh
trần hay hương trần chỉ là phương tiện của chư Phật mà
thôi.

4.-
Hơn thế nữa, căn, trần, thức, giới, đại đều là dữ
kiện thành tựu vô thượng Bồ đề. Thậm chí có cõi Phật
dùng tứ ma làm Phật sự. Có cõi dùng 84.000 phiền não trần
lao cũng làm Phật sự. Làm được những việc như thế gọi
là người thể nhập Nhất thiết chư Phật pháp môn.

5.-
Phật quả có thể gọi qua ba danh hiệu: Chánh giác, chánh biến
tri giác, vô thượng chánh biến tri giác. Ba cú nghĩa đó, không
thể dùng ngôn từ diễn đạt hết công đức, trí tuệ và
biện tài của một đấng Như Lai Thế Tôn vô thượng.

Sự
mãn ý của con người tròn đầy hạnh phúc thế gian còn không
tả nổi, huống hồ sự giải thoát giác ngộ vô thượng của
một đấng Như Lai.

Người
nói vận dụng ngôn từ ngày này sang ngày khác, tháng này qua
năm nọ cũng không diễn tả hết, thì người nghe dù có đa
văn đến cở nào, cũng không sao nghe được trọn nghĩa của
vấn đề.

“Như
nhơn ẩm thủy, lãnh noản tự tri” là vậy.

6.-
Ông A Nan đã có cơ hội đánh giá nhận xét và so sánh trí
tuệ của Thanh văn và Bồ tát điều đó rất quí. Binh thư
của Tôn Tẩn có câu: “Tri kỷ tri bỉ bách chiến bách thắng”.
Trong lãnh vực trí tuệ cũng như vậy. Phải tri kỷ tri bỉ,
khư khư ôm cái tánh tự cao, tự mãn, tự đắc, tự hào sẽ
mất đi cái lợi lớn. Giống như cục đá xanh, hòn sắt sét
dơ dù có bỏ vào chảo đường nấu trăm năm cũng không thể
thành chè được, vì nó chẳng thấm được tí đường nào.

Tuy
nhiên, ông A Nan thoái chuyển tự ti thì lại bị Phật quở
trách. Phật nói: Từ lâu Như Lai vẫn khen ông là đa văn đấy
chứ! Có phải do ông tự mãn tự thị gì đâu. Nhưng trí đa
văn của ông chỉ sánh với các hàng A la hán. Với trí tuệ
và đa văn của Bồ tát thì không nên so sánh để rồi buồn
nản thoái thoát đạo tâm là việc không nên.

7.-
Các Bồ tát khi mới đặt chân đến cõi Ta bà, thoạt đầu
có ý niệm xem thường, điều đó Như Lai không hề trách.
Vì các ông ấy là Bồ tát, trình độ nhận thức của họ
chỉ thông qua cái nhìn của tuệ nhãn thì làm sao bảo họ
thấy biết được cõi nước thanh tịnh của chư Phật trong
mười phương.

Chẳng
những không trách mà còn khen. Vì sau đó, chư Bồ tát Chúng
Hương ăn năn về sự thấy biết thiển cận của mình. Còn
biết ra rằng: cõi Ta bà của Thích Ca Như Lai không thật sự
nhơ xấu như chúng sanh lầm tưởng. Cõi Ta bà nhơ xấu là
do chúng sanh. Đức Thích Ca Như Lai bằng lòng làm giáo chủ
cõi nhơ xấu và ở ngay nơi cõi nhơ xấu cũng chỉ vì chúng
sanh. Phát hiện ra nhận thức đó, lòng kính trọng của chư
Bồ tát Chúng Hương đối với đức Phật Thích Ca tăng thêm
vạn bội.

8.-
Trước khi chúng con “về” xin Như Lai dạy cho chúng con “một
thiểu pháp” (tức là một ít pháp nho nhỏ của Như Lai. Chứ
bọn chúng con làm sao nhớ nhiều nổi, nếu Như Lai dạy nhiều
và dạy pháp quá cao siêu sâu sắc), để về bên ấy chúng
con được nhớ mãi hình bóng và âm thanh vô vàn trí tuệ của
Như Lai.

Chấp
thuận lời thỉnh cầu, đức Phật dạy chư Bồ tát Chúng
Hương pháp môn Hữu tận Vô tận giải thoát.

Ý
Phật dạy rằng: Là một Bồ tát thì phải thực hiện pháp
môn đó suốt tiến trình tu tập của mình.

Hữu
tận, có nghĩa là Bồ tát không được từ bỏ pháp hữu vi.
Dù biết các pháp hữu vi như mộng, như huyển, như bào, như
ảnh…


tận, có nghĩa là Bồ tát không được bám trụ pháp vô vi.
Dù pháp vô vi đó là phước đức, là trí tuệ, là Niết bàn,
là Bồ đề.

Pháp
hữu vi dù như mộng, huyễn, bào, ảnh nhưng Bồ tát không
được tránh né, trốn chạy, từ bỏ mà phải tích cực hoạt
động vì lý tưởng độ thoát chúng sanh. Bồ tát phát huy
công dụng của tâm đại từ, đại bi, đại hỉ, đại xả
để lợi ích chúng sanh.

– Giáo
hóa chúng sanh không mỏi mệt.

– Thực
hiện pháp tứ nhiếp vào cuộc đòi.

– Hộ
trì chánh pháp, truyền bá chánh pháp không tiếc thân.

– Trồng
các căn lành không mỏi mệt.

– Phát
huy phương tiện hồi hướng vô thượng Bồ đề.

– Cầu
pháp không giải đải.

– Thuyết
pháp không dấu diếm lẫn tiếc.

– Siêng
cúng dường Phật.

– Được
vinh quang không hảnh diện.

– Bị
trù dập không nản lòng.

– Không
khinh người chưa học.

– Kính
người học như kính Phật.

– Ai
bị phiền não dạy cho họ vượt qua, khiến họ quay về chánh
tín.

– Xa
lìa dục lạc, không lấy đó mà tự hào.

– Được
thuận lòng vừa ý, không luyến ái đam mê.

– Người
khác được vui khởi tâm tùy hỷ.

– Tâm
thường ở trong thiền định mà tưởng như mình đang ở địa
ngục, nghĩa là chưa được thỏa mãn với thiền định đã
có.

– Ở
trong cõi đời sanh tử mà tưởng như đang du ngoạn thượng
uyển, hoa viên.

– Người
đến cầu xin cứu hộ, tưởng họ như là vị ân sư.

– Lục
ba la mật khởi tưởng như cha mẹ.

– Những
pháp trợ đạo khởi tưởng như quyến thuộc.

– Trừ
bỏ các ý niệm, hành vi ác để thân, khẩu, ý được thanh
tịnh.

– Dù
sanh tử vô số ức kiếp, ý chí vẫn lạc quan.

– Nghe
Phật có vô lượng công đức, không thối chí tự khinh mình.

– Xử
dụng trí tuệ để hóa giải phiền não vô minh.

– Dùng
sức đại tinh tấn, hàng phục phiền não ma quân.

– Thường
trú trong vô niệm để đi vào thật tướng.

– Sống
thiểu dục tri túc mà không rời bỏ pháp thế gian.

– Lạc
thuyết vô ngại biện tài, thuyết pháp không mâu thuẩn trước
sau…

Thực
hành những điều như thế, gọi là Bồ tát Bất tận hữu
vi.

9.-
Pháp vô vi được xem là đích đến của người tu hành Phật
đạo. Tuy nhiên, dù đến mà không được dùng tâm bám trụ,
khởi ý đam mê. Nếu bám trụ đam mê thì pháp vô vi lại trở
thành điều kiện buộc ràng. Người giải thoát bấy giờ
tự đánh mất tánh chất giải thoát của mình. Bởi vì cố
bám trụ, cố giữ lấy là do sợ mất. Cái người ta sợ mất
vì cái đó có thể mất. Có thể mất thì có ngày sẽ mất.
Cho nên bám trụ đam mê cái của nợ như thế thì tự nó trở
thành nguyên nhân đau khổ, tự nó không còn vô vi pháp nữa.
Vì vậy, là một Bồ tát trong quá trình cũng như trên tiến
trình tu tập phải học pháp Bất trụ vô vi.

– Biết
rõ vạn pháp giai không mà không lấy cái không ấy làm đối
tượng sở chứng của mình.

– Biết
rõ vạn pháp vô tướng, vô tác mà không buông xuôi rời bỏ
mọi pháp thế gian.

– Biết
rõ vạn pháp vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh mà không
từ bỏ việc lành nào, dù là lành nhỏ.

– Biết
rõ thế gian khổ, mà không oán ghét sanh tử.

– Biết
rõ tất cả đều vô ngã mà hết lòng hết sức giáo hóa chúng
sanh.

– Biết
rõ thể tánh của các pháp là tịch diệt mà không mong cầu
vĩnh viễn diệt.

– Quán
biết rõ vạn pháp vô sanh mà lấy pháp sanh gánh vác tất cả.

– Thường
quán cảnh giới vô lậu mà không dứt hết các lậu.

– Hướng
tâm về chánh pháp vị mà không làm theo hạnh nguyện Tiểu
thừa.

– Quán
biết vạn pháp hư vọng, vô chủ nhưng bổn nguyện chưa thành
thì việc tu phước, tu huệ…không phút giây xao lãng.


Bồ tát muốn phước đức viên mãn không nên trụ chấp.

Muốn
trí tuệ viên mãn, Bồ tát không rời bỏ hữu vi

Để
dễ nhớ nội dung tu tập của Tận vô tận giải thoát pháp
môn, chúng ta học lấy câu này:

“Thật
tế lý địa bất thọ nhất trần

Sanh
diệt môn trung bất xả nhất pháp”.

  

CHƯƠNG
THỨ
MƯỜI HAI 

THẤY

ĐỘNG NHƯ LAI VÀ THẾ GIỚI DIỆU HỈ 

1.-
Đức
Thế Tôn hỏi ông Duy Ma Cật rằng: muốn thấy một Như
Lai ông phải quán sát như thế nào để được thấy?

Ông
Duy Ma Cật đáp: Bạch Thế Tôn! 

Muốn
thấy Như Lai con vận dụng pháp quán chiếu y như quán thật
tướng của chính mình. 

Con
quán Như Lai thời gian trước không có đến. Thời gian sau
không có đi. Thời hiện tại không trụ. Quán Như Lai con không
dựa trên sắc cũng không dựa trên thể chơn như của sắc,
không dựa trên tánh của sắc, thọ, tưởng, hành cũng vậy.
Cho đến không dựa trên thức mà quán cũng không dựa trên
thể chơn như của thức, không dựa trên tánh của thức. Vì
Như Lai không do tứ đại khởi sanh. Như Lai giống như hư không,
nhưng không phải hư không. Như Lai không tương quan với lục
nhập và vượt ngoài nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý. Như lai
không ở trong tam giới, xa lìa ba cấu, thuận theo tam giải
thoát môn. Như Lai đầy đủ tam minh, bình đẳng với vô minh.
Như Lai không phải tướng một, không phải tướng khác, không
phải tướng tự. Không phải tướng tha. Không phải tướng
hữu. Như Lai không phải bờ bên này, không phải bờ bên kia
cũng không phải giữa dòng mà vẫn thành tựu nhiệm vụ giáo
hóa chúng sanh. Quán Như Lai tịch diệt mà không vĩnh viễn
vắng lặng. Như Lai không kia, không đây, không lấy kia, không
lấy đây. Như Lai không thể dùng trí mà nhận biết, không
thể dùng thức mà phân biệt. Như Lai không phải là tối mà
cũng không phải là sáng. Như Lai không tên, không tướng, không
mạnh, không yếu, không tịnh, không uế. Như Lai không ở trong
phương hướng, mà cũng không rời phương hướng; không phải
hữu vi cũng không phải vô vi; không thể chỉ bày, không thể
diễn nói. Như Lai không phải bố thí cũng không phải xan lẫn;
không phải trì giới, không phải phạm giới; không phải nhẫn
nhục, không phải sân nộ; không phải tinh tấn, không phải
giải đải; không phải định tâm, không phải loạn ý; không
phải trí tuệ mà không phải ngu si. Như Lai không thật mà
không dối, không đến cũng không đi; không ra cũng không vào.
Tất cả ngữ ngôn không thể diễn đạt thấu đáo cú nghĩa
Như Lai.

Như
Lai, không phải phước điền, không phải không phước điền.
Không phải bậc nên cúng dường, không phải không cúng dường;
không phải lấy, không phải bỏ; không phải tướng có cũng
không phải tướng không.

Quán
Như Lai hòa đồng chơn lý, bình đẳng như pháp tánh, không
thể cân, không thể lường, vượt quá cân lường. Như Lai
không lớn mà cũng không phải nhỏ. Như Lai không thể dùng
cái thấy để thấy; không thể dùng cái nghe để nghe; không
thể dùng tri giác để khái niệm, không thể dùng tri thức
để nhận biết. Như Lai rời ngoài các ràng buộc, đồng với
các trí, bình đẳng như chúng sanh. Đối với các pháp không
có sự phân biệt. Như Lai đối với tất cả không lỗi, không
trược cấu, không não phiền. Như Lai không có tác giả, không
có mới khởi đầu, không sanh không diệt, không có sợ không
có lo, không mừng không nản, không phải đã có, không phải
sẽ có, không phải đang có. Không thể dùng lời lẽ diễn
đạt hay chỉ bày.

Bạch
Thế Tôn! Ông Duy Ma Cật thưa: Thân Như Lai là thế đấy. Quán
Như Lai phải quán như thế đấy. Do quán như thế mà con thực
thấy Như Lai. Và người nào quán Như Lai như thế, gọi là
quán đúng, nếu quán khác là quán sai, không thể thấy Như
Lai đích thực.

2.-
Ông Xá Lợi Phất hỏi ông Duy Ma Cật: Thưa ngài Duy Ma Cật!
ngài mất ở cõi nào mà lại sanh đến thế giới Ta bà này?

Ông
Duy Ma Cật hỏi lại:

– Thưa
ngài Xá Lợi Phất! Pháp thân ngài chứng đắc có mất và
có lai sanh chăng?

– Pháp
mà tôi chứng đắc không có lúc nào mất và cũng chẳng có
lúc nào lai sanh. Ông Xá Lợi Phất đáp.

– Nếu
các pháp không có tướng mất và tướng lai sanh. Vậy cớ
sao Ngài hỏi tôi rằng: “Ngài mất từ cõi nào, lai sanh đến
thế giới này?” Xá Lợi Phất, ngài nghĩ thế nào? Ví như
huyễn thuật sư làm ra người nam hay nữ, vậy những con người
đó có mất có lai sanh không?

– Không
có mất và không có sanh.

– Xá
Lợi Phất! Ngài há chẳng nghe Phật dạy: các pháp, tướng
của nó như huyễn chăng?

– Đúng
vậy. Tôi có nghe.

– Nếu
tất cả pháp, tướng như huyễn, thì tại sao ngài hỏi tôi
mất ở thế giới nào, lai sanh đến cõi này?

Này
Xá Lợi Phất! mất là cái tướng tan rã của pháp hư dối,
sanh là cái tướng tương tục của các pháp hư dối. Bồ tát
dù mất mà không dứt hết gốc lành, dù sanh mà không cho sanh
trưởng giống ác.

3.-
Đức Phật bảo ông Xá Lợi Phất rằng: Có cõi nước tên
Diệu Hỉ, đức Phật hiệu Vô Động là giáo chủ. Ông Duy
Ma Cật từ cõi nước đó mất mà lai sanh đến cõi này.

Ông
Xá Lợi Phất nói: Thật là việc chưa từng có.Bạch Thế
Tôn! Ông Duy Ma Cật lại có thể bỏ quốc độ thanh tịnh,
đến cõi Ta bà để vui nhận ở nơi cảnh giới có nhiều
sân nộ và ác hại này!

Ông
Duy Ma Cật bảo: Xá Lợi Phất! Ngài nghĩ thế nào? Lúc mặt
trời soi sáng, có cùng bóng tối hợp nhau chăng?

– Không.
Khi mặt trời soi sáng thì không còn tối được nữa.

– Đúng
vậy, thưa ngài Xá Lợi Phất! hể ánh sáng soi thì bóng tối
diệt. Bồ tát dù sanh ở cõi Phật không thanh tịnh là vì
mục đích giáo hóa chúng sanh nhưng không thể hợp chung với
những gì tối tăm ngu độn. Ngược lại, Bồ tát dạy cho
chúng sanh diệt hết phiền não của họ mà thôi.

4.-
Đại chúng khát ngưởng muốn thấy thế giới Diệu Hỉ và
đức Vô Động Như Lai cùng chư Bồ tát, Thanh văn cõi ấy.

Đức
Phật biết ý niệm của đại chúng bèn gọi ông Duy Ma Cật
bảo:

– Thiện
nam tử! Đại chúng trong hải hội này muốn thấy đức Vô
Động Như Lai và cõi nước Diệu Hỉ cùng chư Bồ tát, Thanh
văn ở thế giới kia. Ông hãy giúp cho hải hội hiện tiền
đều được thấy.

Ông
Duy Ma Cật nghĩ bụng rằng: Ta sẽ không rời khỏi chỗ này,
tiếp nhập thế giới Diệu Hỉ đem về đây. Ta sẽ dời tất
cả Thiết vi sơn, Tu di sơn và tất cả núi lớn, núi nhỏ,
biển cả, sông ngòi, nguồn lạch, suối khe, mặt trời, mặt
trăng, các tinh tú. Tiếp nhập thiên cung, long cung, quỷ thần,
Phạm thiên cung v.v… Tiếp nhập các chúng Bồ tát, Thanh văn
cả thành ấp, tụ lạc, nam nữ lớn nhỏ. Tiếp thỉnh đức
Vô Động Như Lai, cây Bồ đề và các diệu liên hoa và những
người có thể làm Phật sự trong mười phương. Tiếp nhập
ba đường hành lang báu thông đồng từ cõi Diêm phù đề
thẳng lên cõi trời Đao Lợi. Trên hành lang báu này chư Thiên
tấp nập lên xuống kính lễ đức Vô Động Như Lai, nghe học
lãnh thọ kinh pháp. Người cõi Diêm phù đề cũng rộn rịp
trên hành lang tiến bước hướng về cõi trời Đao Lợi và
mọi người đều thấy rõ ràng chư Thiên ở thế giới Diệu
Hỉ, họ hoàn thành những việc công đức lớn lao vô lượng
như thế. Ta sẽ tiếp thụ trên từ cõi sắc cứu cánh dưới
tột mé thủy luân, để lên tay mặt của ta y như người thợ
gốm ngắt bớt một mẫu đất thừa. Dời tất cả những
cảnh giới gần xa, đem về xáp nhập thế giới này như cầm
một tràng hoa đẹp trên tay, giới thiệu chỉ bày cho toàn
thể đại chúng trong hải hội.

Ông
Duy Ma Cật nghĩ như thế rồi liền nhập tam muội, hiện sức
thần thông. Dùng tay mặt cắt lấy thế giới Diệu Hỉ đem
về xáp nhập vào cõi Ta bà. Những hàng Bồ tát, Thanh văn,
chư Thiên có chứng đắc thần thông, đồng thanh kêu lên lời
cầu cứu: “Thế Tôn! Ai lấy chúng con đem đi. Mong Phật cứu
hộ”.

Đức
Vô Động Như Lai nói: Việc đó không phải ta làm. Do thần
lực của ông Duy Ma Cật, ông ấy đang làm chuyện đó, để
phục vụ khai ngộ và giáo hóa chúng sanh.

Những
người chưa được thần thông thì không hề hay biết về
sự việc như thế đã xảy ra.

Thế
giới Diệu Hỉ dù được đem xáp nhập cõi Ta bà, mà thế
giới Ta bà không bị giãn rộng ra, thế giới Diệu Hỉ không
vì vậy mà tóp hẹp. Vị trí của mọi vật vẫn y nhiên, không
thay đổi một mảy may nào.

Đức
Phật Thích Ca Mâu Ni bảo toàn thể đại chúng trong hải hội:

Toàn
thể đại chúng trong hải hội đã được thấy thế giới
Diệu Hỉ và thấy đức Vô Động Như Lai rồi chứ? Các vị
đã thấy sự trang nghiêm đẹp đẽ huy hoàng tráng lệ của
thế giới Diệu Hỉ chứ? Các vị thấy Bồ tát và Thanh văn
chúng cõi kia tịnh hạnh và thanh bạch chứ?

Toàn
thể đại chúng đồng thanh bạch Phật:

Dạ!
chúng con đều đã thấy.

Đức
Phật dạy: Nếu Bồ tát muốn được cõi Phật thanh tịnh
như vậy, cần phải học theo con đường hành đạo của đức
Vô Động Như Lai.

Trong
lúc thế giới Diệu Hỉ hiện hữu, cõi Ta bà có mười bốn
ức người phát tâm vô thượng Bồ đề, muốn sanh sang thế
giới Diệu Hỉ của đức Vô Động Như Lai.

5.-
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cộng đồng thọ ký: “Tất cả các
vị muốn sanh sang cõi nước kia đều sẽ được như nguyện”.

Trong
những giờ phút thế giới Diệu Hỉ hiện hữu ở cõi Ta bà,
tác động vào tâm lý, kích khởi thiện căn của chúng sanh
hữu duyên đem lại nhiều lợi lạc. Sự kiện ấy trôi qua.
Tất cả đại chúng đều thấy cảnh giới Ta bà bỗng nhiên
trở về trạng thái cũ.

6.-
Đức Phật bảo: Xá Lợi Phất! Ông đã thấy thế giới Diệu
Hỉ và đức Vô Động Như Lai rồi chứ?

Ông
Xá Lợi Phất thưa: Dạ! Con đã thấy. Bạch Thế Tôn! Con mong
muốn cho tất cả chúng sanh được cõi nước thanh tịnh trang
nghiêm như cõi nước của đức Vô Động Như Lai và có sức
thần thông như ông Duy Ma Cật vậy. Con cũng mong cho mọi người
có đủ duyên lành thân cận cúng dường để được nhiều
lợi lạc. Con nghĩ rằng: những chúng sanh hiện tại hoặc
sau Phật diệt độ được nghe kinh nầy sẽ được lợi ích
khó nghĩ bàn. Nghe rồi tin hiểu, giảng thuyết đúng như pháp
tu hành, người đó được xem như trong tay đã cầm giữ được
kho tàng pháp bảo của Như Lai. Người như thế là cúng dường
pháp. Mà cúng dường pháp tức là cúng dường Phật. Người
biên chép diễn giải kinh này, phải biết chỗ thất của họ
ở có Phật. Ai nghe kinh nầy mà khởi tâm tùy hỷ, không lâu
sẽ thành tựu nhất thiết trí. Nghe kinh nầy tin hiểu chừng
một bài kệ bốn câu, vì người khác truyền đạt ý kinh,
phải biết đó là người đã được Như Lai thọ ký thành
tựu quả vô thượng Chánh biến tri giác rồi! 

TRỰC
CHỈ 

1.-
Đáp
câu hỏi của đức Phật, ông Duy Ma Cật nói: Muốn thấy
Như Lai phải Quán.

Quán
tức là quán chiếu. Nghĩa là phải dùng trí mà soi rọi vào
nội tâm. Biến tánh thấy trở thành cái thấy bằng trí, không
xử dụng cái thấy của mắt. Phải xử dụng quán trí mới
có cơ hội thấy Như Lai thật. Thấy Như Lai thật nghĩa là
phải hiểu rõ về Như Lai pháp thân mới là người thật thấy
Như Lai.


vậy, muốn thấy Như Lai phải Quán. Quán giống như quán thật
tướng của tự thân.

Nên
biết, mọi người ai cũng có thật tướng cũng như Phật,
Phật nào cũng có pháp thân. Con người là hiện tượng tùy
duyên của thật tướng. Thật tướng là bản thể bất biến
của con người. Phật cũng vậy.

Phật
là một ứng thân. Ứng thân Phật là Phật tùy duyên độ
sanh của pháp thân Phật. Pháp thân Phật là bản thể bất
biến của Phật ứng thân.

Cái
tự tánh thanh tịnh bản nhiên ở giai đoạn con người chưa
giác ngộ giải thoát gọi là thật tướng của tự thân. Cái
tự tánh thanh tịnh bản nhiên sau khi con người giác ngộ giải
thoát, gọi là Pháp thân.


vậy, thấy được thật tướng của tự thân đồng nghĩa
thấy Như Lai pháp thân Phật. Vì vậy:

– Như
Lai không phải sắc, không phải thọ, tưởng, hành, thức,
không phải tứ đại, không phải hư không, không phải lục
nhập vượt ngoài nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân, ý.

– Như
Lai đầy đủ tam minh bình đẳng với vô minh.

– Như
Lai hòa đồng chân lý, bình đẳng với pháp tánh.

– Như
Lai, vô sở tùng lai diệc vô sở khứ, Như lai thọ lượng
vô thỉ vô chung…

Quán
Như Lai như vậy là người thật thấy Như Lai.

2.-
Chết sống, mất còn, sanh diệt là cái tướng đối tượng
thấy của nhục nhãn, dựa trên hiện tượng vạn pháp hữu
vi.

Xử
dụng tuệ nhãn, Bồ tát thấy tột bản thể thì sự sanh diệt,
sống chết, mất còn không còn là vấn đề đáng nêu ra để
vấn đáp. Càng hỏi kỹ, chứng tỏ trình độ tu học, trình
độ nhận thức chân lý càng non nớt nhiều.

Trả
lời càng chi tiết, biểu hiệu lòng từ thương hại của Bồ
tát bao la vô hạn.

Với
tuệ nhãn của Bồ tát, Chết chỉ là cái tướng tan rã của
các pháp hữu vi hư huyễn. Sanh chỉ là cái tướng tương tục
của các pháp hư huyễn hữu vi.

Chẳng
có gì quan trọng đối với người trí trong việc sống chết,
sanh diệt, mất còn.

…”Cự
hải hà phòng nhất điểm âu”.

Cũng
như sự chứng đắc. Thực ra có chứng đắc gì đâu!

Sông
Hương, núi Ngự cảnh nên thơ

Chưa
đến lòng ai vẫn ước mơ

Một
đến lại về như chẳng đến

Sông
Hương, núi Ngự cảnh nên thơ…

3.-
Ông Xá Lợi Phất đề cập đến vấn đề sanh diệt, lập
tức bị ngài Duy Ma Cật nạn vấn nhằm vô hiệu quá vấn
đề. Vì câu hỏi đó không xứng đáng là câu hỏi của người
trí học đạo nên hỏi.

Vấn
đề được khai thị xong thì đức Phật ôn tồn cho biết:
Ông Duy Ma Cật từ thế giới Diệu Hỉ mất và sanh qua thế
giới Ta bà này.

Tại
sao thế? Tại vì:

Thật
tướng lý địa, người học phải đạt đến chỗ Bất thọ
nhất trần.

Khi
đứng bên lề tương đối thì cần nhớ: Sanh diệt môn trung
bất xả nhất pháp.

Bởi
vì, không có lý do gì một đại sĩ trí tuệ biện tài dường
ấy lại là người vô gia cư bất trụ xứ hay sao! Mà đó
lại cũng là sự thật. Bồ tát tùy nguyện trợ hóa cho đức
Phật Thích Ca nhằm tạo điều kiện triển khai Đại thừa
chánh pháp.

4.-
Không rời khỏi tòa ngồi, Bồ tát Duy Ma Cật tiếp nhận toàn
vẹn thế giới Diệu Hỉ, gom hết thảy biển cả, sông ngòi,
núi non, thành ấp, tụ lạc…Tiếp thỉnh đức Vô Động Như
Lai và tất cả Bồ tát, Thanh văn để lên bàn tay như cầm
một tràng hoa đem về xáp nhập cõi Ta bà.

Đây
cũng là cơ hội, người bất tư nghì trình diễn cảnh bất
tư nghì thêm một lần nữa.

Như
lời tựa đã giới thiệu, kinh Duy Ma Cật có ba lần hiện
Tịnh độ trong ba dạng khác nhau.

Lần
một, ở chương thứ nhất đức Phật Thích Ca hiện tịnh
độ ngay nơi cõi Ta bà nhằm dạy cho mọi người biết rằng
tịnh độ không ngoài uế độ. Tịnh, uế do con ngưòi: Tùy
kỳ tâm tịnh tắc Phật độ tịnh. Tâm con người có tịnh
mới có cõi Phật tịnh. Tâm không tịnh, không tìm có cõi
tịnh được.

Lần
hai, chương thứ mười, Bồ tát Duy Ma Cật xử dụng khả năng
bất tư nghì, biểu thị việc làm bất tư nghì, trình diễn
cảnh giới bất tư nghì nhằm giới thiệu cõi tịnh độ ở
từ cách xa cõi Ta bà những 42 ức hằng hà sa thế giới.

Điều
đó nhằm dạy cho mọi người biết rằng tịnh độ không
phải chỉ có ở cõi Ta bà. Mà ở xa mút nguồn tưởng tượng
ấy, còn có nhiều tịnh độ khác nửa…

Tuy
nhiên, xa mà không có gì trở ngại bởi sự cách núi ngăn
sông. Cho nên con người có thể dời tịnh độ xa xôi ấy
đem về thành gần và con đường qua lại chỉ trong thời gian
khoảnh khắc.

Bồ
tát Duy Ma Cật làm việc đó nhằm dạy cho đại chúng trong
hải hội cái chân lý:

– Chư
pháp tương tức tự tại môn.

– Nhất
đa tương dung bất đồng môn.

– Chư
tàng thuần tạp cụ đức môn.

– Nhân
đà la võng cảnh giới môn.

– Bí
mật ẩn hiển câu thành môn.

– Duy
tâm hồi chuyển thiện thành môn.


tu sĩ phải học như thế, phải hiểu như thế và xử dụng
Quán trí để nhận thức chân lý.

Lần
thứ ba, hiện tịnh độ ở chương này cũng nhằm nhắc nhở
sâu đậm về chân lý:

Vạn
pháp trong pháp giới nhất chân không có ngoại lệ. Vạn pháp
tương ưng, tương tức, tương nhập. tương dung. lý vô ngại,
sự vô ngại, lý sự vô ngại và sự sự vô ngại.

Thiền
giả xử dụng quán trí, nhận thức rõ được chân lý sự
sự vô ngại thì việc Bồ tát Duy Ma Cật tiếp nhận toàn
bộ thế giới Diệu Hỉ đem xáp nhập cõi Ta bà không trở
ngại gì nhau. Vấn đề đó không còn là vấn đề thần thoại
khó hiểu nữa. Bấy giờ người trí bừng tỉnh ngộ: thì
ra kinh Duy Ma Cật lưu lại hậu thế không nhằm mục đích
ghi lại chuyện hoang đường để sau này các nhà sư thay Phật
kể chuyện hoang đường cho các cháu trẻ con nghe!

Sau
khi thấy rõ toàn vẹn thế giới Diệu Hỉ và chiêm ngưỡng
tôn nhan đức Vô Động Như Lai, đại đa số trong hải hội
phát nguyện muốn sanh sang thế giới tịnh độ Diệu Hỉ của
Vô Động Như Lai. Đức Thích Ca cộng đồng thọ ký tất cả
các vị đều sẽ được như nguyện.


sao đức Phật lại thọ ký quá dễ dàng? Ngài cảm tình, ngài
thương xót mà nỗ lực phù hộ cho ư?

Không!
Phật không phù hộ, gia trì, cứu rỗi cho ai được hết. Sở
dĩ Như Lai thọ ký dễ dàng là vì Như Lai biết rõ mọi người
ai cũng sẵn có chơn tâm thưòng trú. Ai cũng có thể tánh tịnh
minh. Ai cũng vốn có Như Lai viên giác diệu tâm. Ai cũng sẵn
có Tri kiến Phật. Ai cũng sẵn có Phật tánh rồi. Cho nên
nếu mọi người muốn sang Diệu Hỉ tịnh độ kia, thì các
vị chỉ cần thực hiện lời Như Lai đã dạy: Tùy kỳ tâm
tịnh tắc Phật độ tịnh. Dục tịnh Phật độ tiên tịnh
kỳ tâm. Khi nào tâm của các vị thanh tịnh thì các vị có
cõi Phật thanh tịnh. Muốn được cõi Phật thanh tịnh trước
hết các vị tự sửa đổi tịnh cái tâm của mình.

Thế
thì, công của ai làm thì người đó hưởng. Cũng giống như
ai muốn hưởng vật chất dồi dào ở một nước kinh tế
phồn vinh thì phải tự lo đăng ký, tự tích lũy tiền bạc,
tự chạy giấy tờ xuất cảnh để mà đi. Hể có đi thì
có đến. Giống như tâm các vị có tịnh thì có cõi tịnh
vậy. Như Lai có mất gì mà chẳng thọ ký để cho tròn nghĩa
là đấng Đại Từ Bi vô thượng.

6.-
Ông Xá Lợi Phất sau khi nghe thấy những sự kiện bất tư
nghì, thâm ngộ chân lý…Ông tán thán kinh nghĩa thậm thâm.
Ông cho rằng người nào được nghe, được học, được hiểu
và áp dụng phương pháp quán chiếu mà tu hành thì sẽ được
công đức vô lượng. Người đó là người cúng dường pháp.
Mà cúng dường pháp cũng tức là cúng dường Phật một cách
tròn đầy nhất, người đó đã được Như lai thọ ký thành
tựu vô thượng Chánh biến tri giác rồi.

Lời
ông Xá Lợi Phất trần tình trước Phật là một chân lý
tất nhiên. Không phải xuất phát từ đầu môi khách sáo.

 

CHƯƠNG
THỨ MƯỜI BA 

CÚNG
DƯỜNG
PHÁP 

1.-
Thiên
Đế Thích Đề Hoàn Nhơn, trước đại chúng đứng lên
bạch Phật:

Bạch
Thế Tôn! Con dù theo Phật và Văn Thù Sư Lợi từ lâu, đã
nghe trăm ngàn kinh điển, nhưng chưa từng nghe kinh điển “Quyết
định thực tướng, bất khả tư nghì tự tại thần thông”
như vậy.

Theo
sự hiểu biết của con, qua ý nghĩa và mục đích của Phật
dạy: Nếu chúng con nghe theo kinh pháp này tin hiểu, thọ trì
đọc tụng, tu hành đúng như kinh dạy, thì người đó đã
đóng bít cửa ác thú, khai thông đại lộ Niết bàn. Người
này thường được chư Phật hộ niệm, hàng phục được
ngoại đạo, đánh đuổi được ma quân, tăng trưởng quả
Bồ đề, vững ngồi nơi đạo tràng, bước theo dấu chân
Phật mà đi.

Bạch
Thế Tôn! Nếu có người thọ trì đọc tụng đúng theo lời
kinh mà tu hành, con cùng các quyến thuộc, sẽ cúng dường
mọi sự và ở xóm làng thành thị, núi rừng chỗ nào có
kinh này, quyến thuộc chư Thiên chúng con đến đó nghe pháp
và tu học, chúng con bằng mọi phương tiện khiến cho những
ai chưa tin, phát khởi lòng tin. Người đã tin sẽ giữ gìn
hộ pháp.

Phật
dạy: Tốt lắm! Thiên Đế! Như Lai rất bằng lòng thiện ý
của ông. Kinh này nói rõ về những sự kiện bất khả tư
nghì vô thượng Chánh biến tri giác của chư Phật quá khứ,
hiện tại và vị lai. Thế cho nên, nếu thiện nam tử, thiện
nữ nhơn thọ trì đọc tụng giảng thuyết cúng dường kinh,
tức là cúng dường chư Phật quá khứ, hiện tại và vị
lai.

Thiên
đế! Giả sử ba ngàn đại thiên thế giới chư Phật ở trong
đó nhiều như số tre nứa, lau sậy, lúa bắp, cây cỏ lùm
rừng. Nếu có người thiện nam, thiện nữ đem trọn đời
mình tôn trọng cung kính tán thán, cúng dường đầy đủ mọi
thứ cần dùng. Cúng dường cho đến khi chư Phật diệt độ.
Rồi lấy xá lợi của toàn thân Phật xây tháp thất bảo
rộng bốn lần quả địa cầu, cao tột cõi Phạm Thiên, dùng
tất cả hương hoa, anh lạc, tràng phan, kỷ nhạc hay đẹp
nhất đời, hiến trọn kiếp sống để cúng dường phục
vụ chư Phật đông nhiều như thế.

Thiên
đế! Ông nghĩ thế nào? Người vun trồng cội phúc như thế
phúc đức có nhiều chăng?

Bạch
Thế Tôn! Rất nhiều. Phước đức đó dù đem trọn kiếp,
nói cũng không sao hết được. Thiên Đế Thích đáp.

Phật
bảo: Thiên đế! Nếu có thiện nam tử, thiện nữ nhơn nghe
kinh điển bất khả tư nghì giải thoát này, tin hiểu, thọ
trì đọc tụng, tu hành thì phước đức còn nhiều hơn người
cúng dường vật chất cho chư Phật kia. Bởi vì Bồ đề của
chư Phật đều từ kinh này sanh ra mà tướng Bồ đề thì
vô hạn lượng. Thế cho nên phước đức cũng vô hạn lượng.

2.-
Phật dạy tiếp: Thiên đế! Thuở quá khứ cách nay vô lượng
vô biên A tăng kỳ kiếp, có đức Phật hiệu Dược Vương
Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, Minh hạnh túc. Thiện thệ,
Thế gian giải, Vô thượng sĩ, Điều ngự Trượng phu, Thiên
nhơn sư, Phật, Thế Tôn. Thế giới của đức Phật đó tên
Đại Trang Nghiêm, kiếp tên Trang Nghiêm. Phật thọ mạng hai
mươi tiểu kiếp. Chúng đệ tử Thanh văn ba mươi sáu ức
na do tha. Bồ tát tăng có mười hai ức.

Này
Thiên đế! Lúc ấy có vị Chuyển Luân Thánh Vương hiệu là
Bảo Cái có đầy đủ thất bảo, làm chủ tứ thiên hạ.
Vua có một ngàn người con đoan chính dũng kiện, có khả năng
chinh phục mọi kẻ địch thù. Thuở ấy, đức vua cùng quyến
thuộc hết lòng cung kính cúng dường đức Dược Vương Như
Lai mọi thứ cần dùng trải thời gian dài năm kiếp. Qua năm
kiếp rồi, nhà vua dạy các con: Các con hãy kế tục theo hạnh
của cha đã làm. Phải đem hết thâm tâm mà cúng dường đức
Phật. Một ngàn người con đều hoan hỉ vâng lãnh lời dạy
của vua cha thành tâm cúng dường đức Dược Vương Như Lai
trải năm trăm kiếp nữa. Trong đó có một vương tử tên
Nguyệt Cái, thiền tọa tư duy: “Đáng tiếc thay! Ta chưa hiểu
được, chẳng biết còn cách cúng dường nào khác, tôn quý
hơn cách cúng dường này chăng?”

Do
sức thần Phật, trong không gian có tiếng vọng: “Thiện nam
tử! Cúng dường pháp ưu việt hơn tất cả mọi cúng dường”.

Vương
tử bèn hỏi: Cúng dường pháp là thế nào?

Tiếng
vọng: “Ngươi nên hỏi đức Dược Vương Như Lai, ngươi sẽ
được biết thế nào là cúng dường pháp”.

Vương
tử Nguyệt Cái đến chỗ Dược Vương Như Lai, cúi đầu làm
lễ dưới chân Phật, đứng nép một bên thưa:

Bạch
Thế Tôn! Trong tất cả sự cúng dường, cúng dường pháp
ưu việt hơn hết, con chưa hiểu ý nghĩa cúng dường pháp
là thế nào? Kính mong Thế Tôn vì con dạy bảo.

Đức
Phật dạy: Này thiện nam tử! Ngươi hãy lắng nghe Như Lai
sẽ vì ngươi nói rộng về ý nghĩa, người cúng dường pháp
phải làm gì.

Người
cúng dường pháp là người có khả năng nghe những kinh điển
giáo lý sâu xa của chư Phật nói ra mà những người thế
gian khó tin, khó hiểu, khó tiếp thọ, vì quá ư vi diệu, thanh
tịnh tuyệt trần, vô nhiễm, vô vi, vượt ngoài tư duy phân
biệt của người thường. Những kinh nhiếp thuộc về pháp
tạng của Bồ tát là dấu ấn của Đà la ni. Những thứ kinh
đưa con người đến địa vị bất thối chuyển, hoàn thành
lục độ, thuận với pháp Bồ đề, trên hết trong các kinh.
Những kinh nghĩa dạy cho người tu hành thể nhập đại từ
bi, xa lìa các ma sự và các tà kiến. Nghe kinh nghĩa như thế
không nghi ngờ sợ hãi, như thuyết tu hành gọi là cúng dường
pháp. Lại nữa, người cúng dường pháp là người có khả
năng nhận thức chân lý, tùy thuận pháp nhơn duyên sanh, tỏ
ngộ chân lý vô ngã, vô nhân, vô chúng sanh, vô thọ mạng.
Thấu triệt nghĩa không, vô tướng, vô tác, vô khởi của
vạn pháp, có thể khiến cho chúng sanh ngồi đạo tràng mà
chuyển pháp luân. Chư Thiên, Long thần…tán thán. Có thể
khiến cho chúng sanh thể nhập kho tàng pháp bảo của Phật,
nắm trọn hết trí tuệ của hiền thánh, nói rõ những đạo
lý của Bồ tát làm, y cứ vào nghĩa thực tướng của các
pháp. Tuyên rõ nghĩa vô thường, khổ, không, vô ngã và tịch
diệt, để cứu hộ những chúng sanh sai phạm giới cấm và
những ngoại đạo ma quân, những người nặng nghiệp tham,
sân, si sợ sệt răn chừa. Những kinh điển chư Phật ngợi
khen, trái đường sanh tử, chỉ nẻo Niết bàn, mười phương
chư Phật hộ niệm và nói ra. Nghe kinh điển như thế mà tin
sâu, hiểu kỹ, thọ trì, đọc tụng vì các chúng sanh phân
biệt giải nói rõ ràng và giữ gìn kinh pháp đó. Làm được
những điều như thế, gọi đó là cúng dường pháp.

Lại
nữa, người cúng dường pháp là người đối với các pháp
đúng như lời dạy của kinh mà tu hành, tùy thuận pháp nhân
duyên, xa lìa tà kiến, chứng nhập pháp nhẫn vô sanh, thể
nhập sâu sắc diệu lý vô ngã, vô chúng sanh. Đối với chân
lý nhân duyên, nhân quả không nghi ngờ chống trái, xa lìa
tất cả ngã sở hữu. Trên đường học đạo tiến tu y nghĩa
bất y ngữ, y trí bất y thức, y liễu nghĩa kinh bất y bất
liễu nghĩa kinh, y pháp bất y nhân. Người cúng dường pháp
còn là người tùy thuận pháp tướng. Đối với các pháp
không có tướng sở nhập cũng không có chỗ sở qui. Vì hiểu
rằng: vô minh rốt ráo tịch diệt. Khởi quán như thế nhận
thấy rõ rằng mười hai nhân duyên không có tướng tận chung
cũng không có tướng khởi thủy. Học pháp như thế, hành
những pháp như thế gọi đó là người cúng dường pháp tối
thượng.

Đức
Phật bảo: Thiên đế! Vương tử Nguyệt Cái theo đức Phật
Dược Vương, nghe học pháp như thế được nhu thuận nhẫn,
bèn cởi bảo y đang mặc trên mình, dâng lên cúng dường Phật
và bạch rằng:

Bạch
Thế Tôn! Sau Như Lai diệt độ, con sẽ thực hành cúng dường
pháp để thủ hộ chánh pháp. Kính mong Thế Tôn thương xót,
dùng oai thần vững mạnh khiến cho con đủ nghị lực hàng
phục ma quân, tu Bồ tát hạnh.

Đức
Dược Vương Như Lai biết ý nghĩ từ thâm tâm của vương
tử Nguyệt Cái, bèn thọ ký:

Nguyệt
Cái! Đời sau ông sẽ truyền trì chánh pháp làm tường thành
hộ pháp khiến cho chư Phật cửu trụ thế gian.

Đức
Thích Ca dạy tiếp: Thiên đế! Vương tử Nguyệt Cái liền
sau đó, con mắt chánh pháp tỏ sáng và thanh tịnh. Nghe Dược
Vương Như Lai thọ ký cho, bèn đem hết tín tâm xuất gia, tinh
tấn tu tập thiện pháp, không bao lâu được năm thứ thần
thông, đầy đủ đạo Bồ tát, có sức tổng trì biện tài
vô đoạn. Sau Phật diệt độ đem sức tổng trì, thần thông
và biện tài đã được truyền bá chánh pháp của Dược Vương
Như Lai, tùy cơ phân bổ, tinh tấn giữ gìn trọn hai mươi
tiểu kiếp. Nguyệt Cái tỳ kheo giáo hóa trăm muôn ức người
vững bước tiến trên đường vô thượng Bồ đề. Mười
bốn na do tha người phát tâm sâu sắc đối với quả Thanh
văn, Bích chi Phật, vô lượng chúng sanh được phước quả
cõi Trời.

3.-
Này Thiên đế! Vua Bảo Cái xưa kia, không phải là ai xa lạ,
chính là người được thành Phật hiệu Bảo Diệm Như Lai
hiện nay. Một ngàn vương tử xưa kia là một ngàn Phật trong
hiền kiếp. Vị Phật trước hết hiệu Ca La Cưu Tôn Đà Như
lai. Vị Phật sau rốt hiệu là Lâu Chí Như Lai. Còn Tỳ kheo
Nguyệt Cái chính là ta đây vậy.

Như
thế đó Thiên đế! Đấy là điều trọng yếu. Phải biết!
Hãy nên đem pháp mà cúng dường. Cúng dường pháp tối ưu
việt hơn tất cả mọi cách cúng dường nào khác.

Thế
cho nên Thiên đế! Hãy đem pháp cúng dường mà cúng dường
chư Phật. 

TRỰC
CHỈ 

1.-
Từ
lâu theo Phật và Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ tát, từng
nghe trăm ngàn kinh điển, nhưng chưa hề được nghe kinh Bất
tư nhì giải thoát như vầy, lời của Thiên Đế Thích nói.

Thật
vậy, người tu học kinh này quyết định sẽ được sự giải
thoát bất tư nghì. Sự giải thoát ngay ở cõi đời này, sự
giải thoát ở trước mọi người mà mọi người không ai
hay biết. Vì kinh này do con người bất tư nghì, nói kinh bất
tư nghì, trình diễn cảnh bất tư nghì, tu pháp bất tư nghì,
thành tựu trí tuệ bất tư nghì cho nên đem lại kết quả
giải thoát bất tư nghì vô thượng Chánh biến tri giác, ngang
bằng quả vị chư Phật quá khứ, hiện tại và vị lai.

Thế
cho nên người thọ trì, đọc tụng, biên chép, giảng thuyết
tu hành theo kinh này, phước đức lớn không có ngôn từ tán
thán cho cân. Không có số nhiều để so sánh, đong lường.

Đức
Phật dạy cho Thiên đế: “Bồ đề cũa chư Phật ba đời,
đều từ kinh này mà có ra”. Vì vậy, người tu theo kinh này
quyết định sẽ thành Phật.

2.-
Chư cúng dường trung, pháp cúng dường tối. Đó là tiếng
vọng từ không trung, Nguyệt Cái vương tử được nghe trong
lúc tĩnh tọa thiền tư tìm một phương cách cúng dường ưu
việt nhất. Ý nghĩa của lời dạy đó, báo cho Vương tử
Nguyệt Cái rằng: Trong tất cả phương cách cúng dường, cúng
dường pháp là ưu việt hơn hết.   

Cầu
học phương cách cúng dường pháp, đức Dược Vương Như
Lai dạy:

Người
cúng dường pháp là người có khả năng nghe những kinh điển
giáo lý sâu xa mà người đời khó nghe, khó tin, khó hiểu,
khó hành, vì quá thâm diệu vượt tầm hiểu biết của người
thường mà người này nghe được, tin được, hiểu được,
hành được. Nghe những kinh điển sâu xa vi diệu sanh lòng
ham mộ, không có ý sợ hãi, nghi ngờ, phát chí dũng mãnh theo
lời kinh dạy mà tu hành. Làm được những việc như thế,
gọi là người cúng dường pháp.

Người
cúng dường pháp còn là người ham nghe đại thừa chánh pháp,
học đại thừa chánh pháp, hành đại thừa chánh pháp, truyền
bá đại thừa chánh pháp và thể hiện cuộc sống qua đại
thừa chánh pháp, không mệt mỏi trong sự nghiệp giáo hóa
làm lợi ích chúng sanh.

3.
Vương tử Nguyệt Cái, sau khi nghe Dược Vương Như Lai dạy
về phương cách cúng dường pháp bèn ham mộ mà xuất gia.
Hai mươi tiểu kiếp thực hành đại thừa chánh pháp, giáo
hóa chúng sanh truyền bá đại thừa chánh pháp. Do vậy, Tỳ
kheo Nguyệt Cái được thành Phật sớm, ở vào tiểu kiếp
thứ chín, vị trí thứ tư trong số một ngàn vị Phật đã
thành, đang thành và sẽ thành trong hiền kiếp.

Để
kết thúc bài pháp cúng dường pháp, đức Thích Ca nói: Tỳ
kheo Nguyệt Cái xưa kia đâu phải người nào lạ, hiện tại
chính là ta. Vị sẽ thành Phật thứ 1.000 hiệu là Lâu Chí
Phật ở vào tiểu kiếp thứ 20 sau này.

 

CHƯƠNG
THỨ MƯỜI BỐN 

CHÚC
LŨY 

1.-
Đức
Phật gọi Bồ tát Di Lặc bảo:

Này
Di Lặc! Nay ta đem pháp vô thượng Chánh biến tri giác mà ta
từng tụ tập chứa nhóm trải qua vô lượng A tăng kỳ kiếp
phó chúc cho ông. Những kinh điển như thế, sau Phật diệt
độ, ở hậu thế các ông hãy nổ lực truyền bá rộng rãi
ở chốn nhơn gian đừng để cho giáo lý tối thượng thừa
mai một. Vì sao? Bởi trong đời vị lai vẫn có kẻ thiện
nam, thiện nữ và thiên long, quỷ thần, Càn thát bà, La sát
v.v… có khả năng ham mộ pháp đại thừa phát tâm vô thượng
Chánh biến tri giác. Giả sử mà họ không được nghe những
kinh điển thượng thừa liễu nghĩa như thế thì thiệt thòi
quá lớn lao. Ngược lại họ được nghe kinh liễu nghĩa thậm
thâm này, phát khởi tín tâm sâu sắc lãnh thọ, hành trì,
đối với chúng sanh hữu duyên có khả năng tiếp thụ họ
quảng bá tuyên truyền làm cho nhiều người cùng được có
lợi ích.

2.-
Di Lặc! Ông nên biết, Bồ tát có hai hạng: Một, ham thích
văn từ bóng bẩy, ngôn ngữ khách sáo chuốt trau. Hai, không
khiếp sợ những kinh nghĩa sâu xa, đúng như thật tướng mà
thể nhập. Hạng ham văn từ bóng bẩy, ngôn ngữ khách sáo…Phải
biết, đó là hạng tân học Bồ tát. Hạng người ngôn từ
khách sáo gác bỏ ngoài tai, văn tự chuốt trau, nghi lễ rườm
rà khử bỏ. Đối với kinh điển đại thừa liễu nghĩa thậm
thâm, không có lòng sợ sệt, có khả năng thể nhập như thuyết
tu hành, thọ trì đọc tụng, nghe rồi tâm thanh tịnh an vui.
Phải biết, đó là hạng người Bồ tát trau dồi đạo hạnh
đã lâu đời rồi.

Di
Lặc này! Lại còn có hai hạng người cũng thuộc làng tân
học. Một, từ trước họ chưa được nghe kinh điển thậm
thâm liễu nghĩa, nay nghe họ sanh tâm sợ sệt nghi ngờ, không
tùy thuận nổi, lại còn hủy báng không tin, thốt lên những
lời bảo thủ rằng: Hồi nào giờ tôi chưa từng nghe những
giáo lý như thế. Sao nay lai nói như vậy, kinh đó từ đâu
mà có, đó là thứ kinh gì? Hai, có hạng người vẫn thọ
trì, giải quyết thâm nghĩa của kinh, nhưng không chịu thân
cận cúng dường, cung kính tôn trọng. Có lúc lại còn phê
phán chỉ trích ý kinh. Hai hạng người như thế, phải biết
đó là những hàng Bồ tát tân học. Họ là những người
tự hủy hoại phước đức trí tuệ của mình. Họ không thể
hấp thụ được những kinh nghĩa thậm thâm để điều phục
lấy tâm mình.

Lại
nữa Di Lặc! Còn có hai hạng Bồ tát dù tin hiểu sâu đối
với kinh pháp này, nhưng vẫn còn tự làm tổn thương phước
đức trí tuệ, không chứng được vô sanh pháp nhẫn. Một,
khinh thường các hàng Bồ tát tân học không dạy dỗ cho họ
tiến lên. Hai, dù tự mình hiểu sâu nghĩa thú của kinh, nhưng
còn chấp mắc, phân biệt.

3.-
Di Lặc Bồ tát, nghe nói thế liền bạch Phật:

Bạch
Thế Tôn! Thật chưa từng có, theo lời Phật dạy, con sẽ
tránh xa những khuyết điểm mà Thế Tôn đã chỉ vẽ ra. Con
sẽ phụng trì pháp vô thượng Chánh biến tri giác mà Như
Lai đã thực hiện và tích lũy trong vô lượng A tăng kỳ kiếp.
Đời vị lai, nếu có người thiện nam, thiện nữ cầu đại
thừa, con sẽ khiến cho trong tay họ cầm được những kinh
điển liễu nghĩa thậm thâm như vậy và khiến cho họ thọ
trì, đọc tụng truyền bá rộng cho nhiều người cùng nghe
hiểu tu hành. Phải biết đó là thần lực của Di Lặc gia
hộ kiến lập mà nên

Phật
khen: Lành thay! Di Lặc! Như ông đã phát nguyện, Như Lai rất
vui lòng và sẽ hỗ trợ thiện ý của ông.

Bấy
giờ tất cả chư Bồ tát đều chấp tay bạch Phật:

Bạch
Thế Tôn! Sau Như lai diệt độ, chúng con cũng đem hết sức
mình truyền bá rộng sâu trong các cõi nước mười phương
pháp vô thượng Chánh biến tri giác của Như Lai đã dạy.
Lại vận dụng mọi phương tiện và khả năng hỗ trợ cho
những người thuyết pháp, truyền bá kinh này được thuận
lợi thập phần viên mãn. 

Tứ
Thiên vương bạch Phật:

Bạch
Thế Tôn! Nơi nơi chốn chốn, thành ấp tụ lạc, núi rừng,
đồng nội, chỗ nào có người thọ trì đọc tụng, biên
chép giảng giải kinh này, con sẽ sai các quyến thuộc đến
đó nghe pháp và để bảo hộ phạm vi một trăm do tuần, khiến
cho các thứ thiên ma tà quái, cuồng tín, si mê đều không
có cơ hội để khuyấy phá người truyền bá giảng thuyết
kinh này.

Đức
Phật bảo: An Nan! Ông hãy thọ trì kinh này và truyền bá sâu
rộng ở đời sau.

Dạ,
bạch Thế Tôn! Con xin vâng lời Phật. Con đã nắm vững những
phần cốt lõi thâm sâu rồi.

Bạch
Thế Tôn! Kinh này tên gọi là chi? Ông A Nan hỏi.

Phật
bảo: Kinh này tên là Duy Ma Cật Sở Thuyết. Cũng gọi là kinh
Bất khả tư nghi giải thoát pháp môn. Ông hãy như vậy thọ
trì.

Phật
nói kinh này xong, Trưởng giả Duy Ma Cật, Đại trí Văn Thù
Sư Lợi, Xá Lợi Phất và hàng chư Thiên, người, A tu la cùng
tất cả đại chúng nghe rồi đều hoan hỉ tín thọ phụng
hành.

TRỰC
CHỈ

1.-
Chúc lũy có nghĩa là dặn dò một cách thân thiết, vì tánh
cách quan trọng của một vấn đề.

Di
Lặc Bồ tát được Phật chúc lũy phải kế thừa truyền
bá, giữ gìn, tôn trọng kinh này. Đây là giáo lý tối thượng
thừa, lợi ích chúng sanh hậu thế rất lớn lao, không nên
hời hợt lơ là khiến cho nền giáo lý thậm thâm bị mai một.

Di
Lặc là vị Bồ tát sẽ thành Phật vào tiểu kiếp thứ 10
trong 20 tiểu kiếp ở vào giai đoạn trụ.

2.-
Bồ tát ham thích văn từ bóng bẩy, ngôn ngữ khách sáo. Đó
là Bồ tát tân học, trí tuệ căn lành chưa được bao nhiêu…

Bồ
tát nghe kinh điển tậm thâm vi diệu ham mộ tư duy phấn chí
tu hành không nghi ngờ, không sợ sệt. Đó là Bồ tát đã
trồng sâu căn lành nhiều đời nhiều kiếp…

3.-
Bồ tát Di Lặc phát biểu tiếp thu nguyện đem hết sức mình
động viên, cổ vũ khiến cho mọi người cùng hưởng ứng
tu tập theo giáo lý đại thừa liễu nghĩa thậm thâm này để
cùng thu hoạch tột cao, trên con đường Bồ đề vô thượng.

Nhằm
xác lập vấn đề cho thật rõ ràng, nghiêm túc trước khi
chấm dứt thời pháp liễu nghĩa tối thượng thừa, ông A
Nan hỏi Phật về tên gọi của kinh này.

Đức
Phật dạy: Kinh này tên gọi là Duy Ma Cật Sở Thuyết cũng
gọi là Bất khả tư nghì giải thoát pháp môn kinh.

Hết

Xem thêm: https://www.phaphay.com/phat-phap/

Nguồn: https://www.niemphat.vn/

Add Comment