Hướng Dẫn Hành Thiền

Hướng Dẫn Hành Thiền 1

1. Thiền Tha Thứ

Chúng ta hành Thiền Tha Thứ để loại bỏ mọi cảm giác hối
hận và sân hận. Thiền Tha Thứ có ba phần: xin người khác tha thứ cho mình, tự
mình tha thứ cho người khác, và chính mình tha thứ cho mình. 

Trước khi muốn viết gì lên bảng đen, bạn phải chùi sạch
bảng. Cũng vậy, trước khi tha thứ cho người khác và tha thứ cho chính mình, bạn
phải được người khác tha thứ. Ðôi khi bạn làm một điều gì sai lầm đối với người
nào, bạn cảm thấy ân hận. Ðặc biệt lúc hành thiền, bạn muốn giữ tâm trong sạch
thanh tịnh nhưng những tư tưởng ăn năn hối tiếc này cứ lãng vãng trong tâm trí
khiến cho việc hành thiền của bạn bị rối loạn. Do đó, trước tiên bạn phải xin
người khác tha thứ cho bạn. Sau đó, chính bạn phải tha thứ cho người khác về
những lỗi lầm của họ. Có thể, có người nào đó làm điều gì sai lầm đối với bạn
và làm bạn giận dữ, bực tức thì bạn cũng phải lọai bỏ những tư tưởng sân hận ấy
đi để cho tâm trí được thảnh thơi. Bạn phải tha thứ cho mọi người, nếu không
tha thứ thì bạn không thể hành thiền được. Một điều rất quan trọng nữa là bạn
phải tha thứ cho chính mình. Ðôi khi bạn cảm thấy tha thứ cho mình là một điều
khó khăn. Nếu bạn không thể tha thứ cho chính mình thì những tư tưởng sân hận,
bực tức về chính mình sẽ quấy rối việc hành thiền của bạn. 

Thiền Tha Thứ là điều kiện tiên quyết để hành Thiền Từ Bi.
Nếu bạn không thể tha thứ một người nào đó thì bạn không thể rãi tâm từ đến họ
được. Bởi thế bạn phải hành Thiền Tha Thứ trước khi hành Thiền Từ Bi.

2. Thiền Từ Bi (Niệm Tâm Từ)

Từ ái là một loại tình thương, lòng thành thật mong muốn
tất cả chúng sanh được an vui hạnh phúc. Lòng từ ái chẳng dính dấp gì đến sự
luyến ái, dính mắc vào riêng một cá nhân nào. Ðó là một tình thương thật trong
sạch, một sự ước mong thành thật cho chính mình và cho người khác.
Khi thực tập Thiền Từ Bi, trước tiên bạn mong ước cho chính mình được an vui
hạnh phúc. Khi đọc thầm câu “nguyện cho tôi có đầy đủ sức khỏe, bình an,
hạnh phúc, thân không tật bệnh, tâm không phiền não, hàng ngày an vui, không
gặp chướng ngại” không có nghĩa là bạn ích kỷ, bởi vì muốn rải tâm từ ái
đến người khác thì trước tiên bạn phải có tư tưởng từ ái với chính mình. Ðiều
này có nghĩa là khi rải tâm từ ái đến cho chính mình, bạn thành thật mong rằng
“ta muốn có đầy đủ sức khỏe, bình an, hạnh phúc, thân không tật bệnh, tâm
không phiền não, hàng ngày an vui, không gặp chướng ngại” thì bạn cũng
đồng thời cầu mong cho “người khác có đầy đủ sức khỏe, bình an, hạnh phúc,
thân không tật bệnh, tâm không phiền não, hàng ngày an vui, không gặp chướng
ngại.”

Bạn có thể rãi tâm từ bằng nhiều cách. Bạn có thể rãi tâm
từ đến tất cả chúng sanh căn cứ theo chỗ ở. Chúng sanh ở đây bao gồm cả súc
vật, côn trùng v.v… Trước hết, bạn rãi tâm từ đến tất cả chúng sanh trong nhà
bạn. Tiếp theo đó bạn rãi tâm từ đến tất cả chúng sanh trong khu vực bạn đang
cư ngụ, trong thành phố, trong quận, trong tiểu bang, trong nước, trên thế
giới, trong vũ trụ, và cuối cùng là rãi tâm từ đến tất cả chúng sanh một cách
tổng quát. Khi nói các câu trên, bạn hãy cố gắng hình dung ra những chúng sanh
mà bạn hướng đến đang mạnh khoẻ, an lạc và hạnh phúc. Tư tưởng từ ái của bạn sẽ
đến với họ và khiến họ thật sự mạnh khoẻ, an lạc và hạnh phúc. Việc hành Thiền
Từ Bi kéo dài trong mười lăm phút.

Khi hành Thiền Tha Thứ, xin bạn chắp hai tay và đọc:

Vì lầm lạc và không minh mẩn nên tôi đã có hành động, lời
nói và ý nghĩ sai lầm làm thiệt hại và gây ra đau khổ cho người khác. Xin tất
cả hãy mở rộng lòng từ bi và trí tuệ tha thứ cho tôi.

Tôi thành thật tha thứ cho tất cả những ai đã có hành
động, lời nói và ý nghĩ sai lầm làm thiệt hại và gây ra đau khổ cho tôi.

Tôi thành thật tha thứ cho chính tôi và nguyện từ nay về
sau làm lành, lánh dữ, giữ tâm trong sạch.
Bạn nên đọc các câu trên từ năm đến mười lần trước khi hành Thiền Từ Bi hay
Niệm Tâm Từ.

Ngay sau Thiền Tha Thứ, bạn có thể hành Thiền Từ Bi như
sau: 

a) Rải tâm từ đến chúng sanh theo nơi chốn:

Khi hành Thiền Từ Bi theo cách này, bạn có thể niệm thầm
trong tâm vào khoảng mười lần những câu sau đây:

Nguyện cho tôi có đầy đủ sức khỏe, bình an, hạnh phúc,
thân không tật bệnh, tâm không phiền não, hàng ngày an vui, không gặp chướng
ngại.

Nguyện cho tất cả chúng sanh trong nhà này có đầy đủ sức
khỏe, bình an, hạnh phúc, thân không tật bệnh, tâm không phiền não, hàng ngày
an vui, không gặp chướng ngại.

Nguyện cho tất cả chúng sanh trong khu vực này có đầy đủ
sức khỏe, bình an, hạnh phúc, thân không tật bệnh, tâm không phiền não, hàng
ngày an vui, không gặp chướng ngại.

Nguyện cho tất cả chúng sanh trong thành phố này có đầy đủ
sức khỏe, bình an, hạnh phúc, thân không tật bệnh, tâm không phiền não, hàng
ngày an vui, không gặp chướng ngại.

Nguyện cho tất cả chúng sanh trong tiểu bang này có đầy đủ
sức khỏe, bình an, hạnh phúc, thân không tật bệnh, tâm không phiền não, hàng
ngày an vui, không gặp chướng ngại.

Nguyện cho tất cả chúng sanh trong nước này có đầy đủ sức
khỏe, bình an, hạnh phúc, thân không tật bệnh, tâm không phiền não, hàng ngày
an vui, không gặp chướng ngại.

Nguyện cho tất cả chúng sanh trên thế giới thân có đầy đủ
sức khỏe, bình an, hạnh phúc, không tật bệnh, tâm không phiền não, hàng ngày an
vui, không gặp chướng ngại.

Nguyện cho tất cả chúng sanh trong vũ trụ có đầy đủ sức
khỏe, bình an, hạnh phúc, thân không tật bệnh, tâm không phiền não, hàng ngày
an vui, không gặp chướng ngại.

Nguyện cho tất cả chúng sanh có đầy đủ sức khỏe, bình an,
hạnh phúc, thân không tật bệnh, tâm không phiền não, hàng ngày an vui, không gặp
chướng ngại.

b) Rải tâm từ qua từng hạng người: 

Khi hành Thiền Từ Bi theo cách này, bạn có thể niệm thầm
trong tâm vào khoảng mười lần những câu sau đây:

Nguyện cho tôi có đầy đủ sức khỏe, bình an, hạnh phúc,
thân không tật bệnh, tâm không phiền não, hàng ngày an vui, không gặp chướng
ngại.

Nguyện cho thầy tôi có đầy đủ sức khỏe, bình an, hạnh
phúc, thân không tật bệnh, tâm không phiền não, hàng ngày an vui, không gặp
chướng ngại.

Nguyện cho cha mẹ tôi có đầy đủ sức khỏe, bình an, hạnh
phúc, thân không tật bệnh, tâm không phiền não, hàng ngày an vui, không gặp
chướng ngại.

Nguyện cho những người trong gia đình tôi có đầy đủ sức
khỏe, bình an, hạnh phúc, thân không tật bệnh, tâm không phiền não, hàng ngày
an vui, không gặp chướng ngại.

Nguyện cho thân bằng quyến thuộc tôi có đầy đủ sức khỏe,
bình an, hạnh phúc, thân không tật bệnh, tâm không phiền não, hàng ngày an vui,
không gặp chướng ngại.

Nguyện cho bạn bè tôi có đầy đủ sức khỏe, bình an, hạnh
phúc, thân không tật bệnh, tâm không phiền não, hàng ngày an vui, không gặp
chướng ngại.

Nguyện cho những người cùng sở làm với tôi có đầy đủ sức
khỏe, bình an, hạnh phúc, thân không tật bệnh, tâm không phiền não, hàng ngày
an vui, không gặp chướng ngại.

Nguyện cho tất cả thiền sinh có đầy đủ sức khỏe, bình an,
hạnh phúc, thân không tật bệnh, tâm không phiền não, hàng ngày an vui, không
gặp chướng ngại.

Nguyện cho những người không quen biết tôi có đầy đủ sức
khỏe, bình an, hạnh phúc, thân không tật bệnh, tâm không phiền não, hàng ngày
an vui, không gặp chướng ngại.

Nguyện cho những người không có thiện cảm với tôi có đầy
đủ sức khỏe, bình an, hạnh phúc, thân không tật bệnh, tâm không phiền não, hàng
ngày an vui, không gặp chướng ngại.

Nguyện cho tất cả chúng sanh có đầy đủ sức khỏe, bình an,
hạnh phúc, thân không tật bệnh, tâm không phiền não, hàng ngày an vui, không
gặp chướng ngại.

Nguyện cho tất cả chúng sanh đừng có oan trái lẫn nhau,
hãy cho được sự an vui, đừng có khổ, đừng làm hại lẫn nhau, đừng hẹp lượng; hãy
cho được sống lâu, đừng có bệnh hoạn, hãy cho được thành tựu đầy đủ, hãy giữ
mình cho được an vui; tất cả chúng sanh đang đau khổ, xin cho dứt khổ, đang
kinh sợ, xin cho hết kinh sợ, đang thương tiếc, xin cho hết thương tiếc.

Sau khi đã rải tâm từ ái đến toàn thế giới và tất cả chúng
sanh. Bây giờ chúng ta hãy hành Thiền Minh Sát.

3. Thiền Minh Sát

Thiền Minh Sát là thiền tỉnh thức hay chánh niệm. Thiền
Minh Sát dạy chúng ta sống và đối diện với hiện tại. Thiền sinh phải ý thức tất
cả mọi chuyện đến và đang xảy ra trong hiện tại. Ðối với thiền sinh, chỉ có
hiện tại là quan trọng. Trong khi hành thiền, thiền sinh phải ghi nhận, theo
dõi, quán sát mọi chuyện đến từ sáu cửa giác quan (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và
tâm) trong giây phút hiện tại vì đó chính là những đề mục mà ta cần phải ý thức
và chánh niệm.
Khi hành Thiền Minh Sát, thiền sinh thuần theo dõi các hiện tượng đang xảy ra
hoặc nếu muốn có thể niệm thầm theo khi ghi nhận các đề mục đó. Khi theo dõi
một cách tinh tấn, chánh niệm, dần dần bạn sẽ đạt được mức độ tỉnh thức cao nhờ
đó có thể thấy được chân tướng của sự vật. Ðó là sự kết hợp tạm thời của thân
và tâm, của các hiện tượng tâm vật lý hiện đang xảy ra. Chúng mang bản chất vô
thường, khổ hay bất toại nguyện, và vô ngã hay không có cốt lõi, không kiểm
soát được. Một khi nhìn thấy được ba bản chất thật sự này rồi, thì bạn sẽ loại
bỏ được ý tưởng sai lầm (tà kiến) về sự vật. Nhờ hiểu biết đứng đắn chân tướng
của sự vật, bạn sẽ giảm bớt tham ái, dính mắc vào thân và tâm, và do đó các
phiền não đã cản trở hay ngăn chận sự giác ngộ sẽ dần dần bị suy yếu đi.

Khi hành thiền Minh Sát, bạn phải chọn một đề mục để chú
tâm theo dõi. Ðề mục này gọi là đề mục chính. Theo truyền thống, thiền sinh
thường chú ý vào hơi thở, lấy hơi thở làm đề mục chính. Bạn đặt tâm ở cửa mũi
theo dõi hơi thở vào và hơi thở ra. Nếu muốn, bạn có thể niệm thầm trong khi
theo dõi hơi thở như vậy.

Hơi thở vào và hơi thở ra kéo dài khoảng bốn đến năm giây.
Khi chú tâm ghi nhận hơi thở vào, bạn sẽ cảm nhận được cảm giác của hơi thở ở
cửa mũi hay bên trong mũi. Bạn phải chú tâm vào cảm giác của hơi thở trong suốt
quá trình từ đầu đến cuối. Hãy chú tâm vào bản chất của hơi thở, đó là bản chất
chuyển động hay bản chất nâng đỡ, chứ không phải chú tâm vào hình dáng hay
tướng của hơi thở. Hãy cố gắng quán sát hơi thở vào và hơi thở ra riêng biệt
nhau, đừng nhập chung. Ðừng để tâm chạy theo hơi thở vào trong cơ thể hay hơi
thở ra khỏi cơ thể. Tâm bạn đóng vai trò của người gác cửa, chỉ ghi nhận kẻ ra
người vào mà thôi. Ðừng cố gắng thúc ép hay điều khiển hơi thở. Hãy bình thản,
thoải mái ghi nhận và theo dõi hơi thở. Bạn có thể niệm thầm khi chú tâm theo
dõi hơi thở vào và hơi thở ra. 

Khi thở vào bạn niệm “vào” và khi thở ra bạn
niệm “ra”. Bạn chỉ thuần chú tâm ghi nhận hơi thở mà đừng để ý gì đến
những quấy nhiễu hay đề mục phụ đang ảnh hưởng đến sự định tâm của bạn. Nếu
thấy sự niệm thầm hổ trợ cho việc định tâm của bạn thì bạn nên làm. Nếu thấy sự
niệm thầm gây trở ngại cho sự tập trung tâm ý thì đừng niệm mà chỉ chánh niệm
ghi nhận là đủ. Khi tâm bạn chỉ an trú trên đề mục hơi thở mà không bị phóng
tâm thì đó là điều rất tốt đẹp. 
Tuy nhiên, tâm có khuynh hướng phóng đi nơi khác. Khi bị phóng tâm hay vọng
tâm, bạn phải ý thức điều đó, phải ghi nhận sự phóng tâm hay vọng tâm này. Khi
phóng tâm, bạn có thể niệm thầm: “phóng tâm, phóng tâm, phóng tâm”,
rồi trở về lại với đề mục hơi thở. Khi có một vật gì hay một người nào hiện ra
trong tư tưởng bạn thì bạn hãy thuần ghi nhận sự thấy này hoặc có thể vừa ghi
nhận vừa niệm thầm: “thấy, thấy, thấy”, rồi trở về lại với đề mục hơi
thở. Khi bạn nghe người nào đang nói chuyện trong tâm bạn thì bạn cũng ghi nhận
thuần sự nghe này hoặc có thể vừa nghe vừa niệm thầm: “nghe, nghe,
nghe”, rồi trở về lại với đề mục hơi thở. Nếu bạn nói chuyện với người nào
trong tâm mình hay tự nói với mình cũng phải thuần ghi nhận sự nói này hoặc vừa
ghi nhận vừa niệm thầm: “nói, nói, nói”, rồi trở về lại với đề mục
hơi thở. Khi bạn phân tích điều gì, hãy thuần ghi nhận sự phân tích này hoặc
vừa ghi nhận vừa niệm thầm: “phân tích, phân tích, phân tích”. Khi bạn
phán đoán hãy thuần ghi nhận sự phán đoán này hoặc vừa ghi nhận vừa niệm thầm:
“phán đoán, phán đoán, phán đoán”, rồi trở về lại với đề mục hơi thở.
Khi bạn nhớ điều gì trong quá khứ, hãy thuần ghi nhận sự nhớ này hoặc vừa ghi
nhận vừa niệm thầm: “nhớ, nhớ, nhớ”, rồi trở về lại với đề mục hơi
thở. Nếu bạn suy nghĩ đến tương lai, sắp đặt hay dự trù điều gì, hãy thuần ghi
nhận hoặc vừa ghi nhận vừa niệm thầm: “dự trù, dự trù, dự trù”, rồi
trở về với hơi thở. Nếu bạn cảm thấy làm biếng, hãy thuần ghi nhận sự làm biếng
này hoặc vừa ghi nhận vừa niệm thầm: “làm biếng, làm biếng, làm
biếng”, rồi trở về lại với đề mục hơi thở. Nếu bạn cảm thấy chán nản, hãy
thuần ghi nhận sự chán nản này hoặc vừa ghi nhận vừa niệm thầm: “chán nản,
chán nản, chán nản”, rồi trở về lại với đề mục hơi thở. Nếu bạn cảm thấy
phản kháng điều gì, hãy thuần ghi nhận sự phản kháng này hoặc vừa ghi nhận vừa
niệm thầm: “phản kháng, phản kháng, phản kháng”, rồi trở về lại với
đề mục hơi thở. Khi có tư tưởng luyến ái hay tham lam hãy thuần ghi nhận sự luyến
ái này hoặc vừa ghi nhận vừa niệm thầm: “luyến ái, luyến ái, luyến
ái”, hay “tham lam, tham lam, tham lam”, rồi trở về lại với đề
mục hơi thở. Nếu bạn cảm thấy nóng giận, hãy thuần ghi nhận sự nóng giận này
hoặc vừa ghi nhận vừa niệm thầm: “nóng giận, nóng giận, nóng giận”,
rồi trở về lại với đề mục hơi thở. 

Nếu muốn nuốt nước bọt, hãy thuần ghi nhận ý muốn này hoặc
vừa ghi nhận vừa niệm thầm: “muốn, muốn, muốn”. Khi dồn nước miếng
trước khi nuốt, hãy thuần ghi nhận sự dồn này hoặc vừa ghi nhận vừa niệm thầm:
“dồn, dồn, dồn”. Khi nuốt nước bọt hãy thuần ghi nhận sự nuốt này
hoặc vừa ghi nhận vừa niệm thầm: “nuốt, nuốt, nuốt”, rồi trở về lại
với đề mục hơi thở. 
Nếu có cảm giác ngứa ngáy thì đừng gãi ngay mà hãy chú tâm vào nơi ngứa và
thuần ghi nhận sự ngứa này hoặc vừa ghi nhận vừa niệm thầm: “ngứa, ngứa,
ngứa”. Thường thì chẳng bao lâu sau sự ngứa sẽ biến mất. Khi hết ngứa hãy
trở về lại với đề mục hơi thở. Ðôi lúc sự ngứa không biến mất mà càng gia tăng
thì hãy chú tâm vào chỗ ngứa ghi nhận sự ngứa, ý thức sự ngứa, cố gắng quan sát
sự ngứa càng lâu càng tốt. Nếu bạn cảm thấy không thể nào chịu đựng được nữa
thì bạn có thể gãi. Tuy nhiên, trước khi gãi phải ghi nhận ý định hay ý muốn
gãi. Khi đưa tay đến chỗ ngứa bạn phải ghi nhận sự chuyển động này. Hãy di chuyển
tay một cách chậm rãi và theo dõi chuyển động trong chánh niệm. 

Khi những ngón tay của bạn đụng vào chỗ ngứa, hãy thuần
ghi nhận sự đụng này hoặc vừa ghi nhận vừa niệm thầm: “đụng, đụng,
đụng”. Khi gãi, hãy thuần ghi nhận sự gãi này hoặc vừa ghi nhận vừa niệm
thầm: “gãi, gãi, gãi”. Khi đưa tay về, hãy thuần ghi nhận sự đưa này
hoặc vừa ghi nhận vừa niệm thầm: “đưa tay về, đưa tay về, đưa tay
về”. Khi bàn tay đụng vào chân, vào đầu gối hay tay kia, hãy thuần ghi
nhận sự đụng này hoặc vừa ghi nhận vừa niệm thầm: “đụng, đụng, đụng”,
rồi trở về lại với đề mục hơi thở.

Nếu cảm thấy tê, đau, cứng, nóng… trên cơ thể, hãy chú
tâm vào chỗ có những cảm giác này và chánh niệm ghi nhận. Nếu cảm thấy đau ở
một nơi nào đó trên cơ thể, hãy thuần ghi nhận sự đau này hoặc vừa ghi nhận vừa
niệm thầm: “đau, đau, đau”. Cảm giác đau nhức rất khó biến mất, bởi
vậy bạn phải kiên nhẫn và tiếp tục chú tâm ghi nhận. Ðau nhức có thể biến mất
hay càng trầm trọng hơn. Hãy chịu đựng với sự đau càng lâu càng tốt. Ðau nhức là
một đề mục mạnh mẽ và thuận lợi cho việc hành thiền bởi vì tâm có khuynh hướng
bị kéo đến nơi đau nhức. Do đó, hãy nỗ lực chú tâm ghi nhận mọi sự đau nhức và
cố gắng ý thức rằng đây là đề mục mạnh mẽ nhất trong các đề mục về cảm giác.
Ðừng đồng hóa sự đau với chính mình. Ðừng nghĩ: “Ðây là cái đau của
tôi” hay “tôi cảm thấy đau”. Cũng đừng nghĩ “đây không phải
là cái đau của tôi”. Thiền sinh chỉ ghi nhận có sự đau nhức hoặc cảm giác
đau đớn mà thôi chứ không có ai đau cả. Nếu đau nhức quá mãnh liệt và bạn nghĩ
rằng mình không thể chịu đựng nỗi thì bạn có thể bỏ hẳn sự đau nhức và trở về
lại với đề mục hơi thở của mình. Bạn cũng có thể di chuyển hay thay đổi tư thế
để bớt đau, nhưng trước khi di chuyển hay thay đổi tư thế bạn phải ghi nhận ý
định thay đổi, rồi thay đổi từ từ từng động tác một, theo dõi các tác động một
cách chánh niệm. Sau khi đã thay đổi xong hãy trở về lại với đề mục hơi
thở. 

Như thế, hơi thở là đề mục chính trong việc hành thiền của
bạn. Khi không có đề mục lạ chen vào thì bạn hãy tiếp tục ghi nhận hơi thở. Khi
có đề mục phụ nổi bật xuất hiện, hãy ghi nhận, ý thức, quán sát đề mục này rồi
trở về lại với đề mục chính là hơi thở. Ðừng thúc ép, dồn nén mình, hãy quán
sát đối tượng một cách thoải mái, nhẹ nhàng. Hãy chú tâm chánh niệm ghi nhận
hơi thở. Ðừng cố gắng xua đuổi vọng tâm, đừng cố gắng loại trừ những cảm giác
hay cảm xúc; chỉ thuần theo dõi, quán sát chúng và để chúng tự ra đi. 

Một số người không thích hợp với đề mục hơi thở vì không
thể chú tâm hoặc cảm thấy khó khăn ghi nhận hơi thở ra vào thì có thể chọn
chuyển động “phồng xẹp” của bụng làm đề mục chính. Chú tâm vào bụng
và ghi nhận chuyển động phồng xẹp của bụng từ lúc khởi đầu cho đến khi chấm
dứt. Nếu không thấy được sự phồng xẹp, bạn có thể đặt tay lên bụng để cảm nhận
sự chuyển động. Sau một vài lần làm như thế, bạn có thể theo dõi được chuyển
động phồng xẹp mà không cần đặt tay lên bụng nữa. 

Tóm lại, bạn có thể chọn hơi thở hoặc chuyển động của bụng
làm đề mục chính cho việc hành thiền. Nếu là thiền sinh mới bắt đầu thực tập,
bạn có thể thử mỗi phương pháp trong một thời gian và xem phương pháp nào thích
hợp và đễ dàng giúp cho mình định tâm thì hãy chọn phương pháp đó. Một khi đã
chọn xong, hãy nỗ lực tinh tấn theo dõi đề mục đó. Ðiều đáng ghi nhớ là hãy
tham khảo với thiền sư trong việc lựa chọn đề mục chính cũng như nhờ thiền sư
hướng dẫn trong việc thực tập để cho sự hành thiền đạt được kết quả tốt đẹp.

Trong khi hành thiền, bạn đừng kỳ vọng hay mong ngóng điều
gì; đừng cầu mong mình sẽ thấy hay đạt được những gì thật kỳ diệu hoặc lạ lùng.
Mong cầu là một hình thức vi tế của tham ái, dính mắc. Ðó là một chướng ngại
của sự định tâm cần phải loại trừ. Khi có mong cầu thì chỉ cần thuần chú tâm
ghi nhận hay vừa chú tâm vừa niệm thầm: mong cầu, mong cầu, mong cầu, rồi trở
về lại với đề mục chính là hơi thở hay chuyển động phồng xẹp của bụng. Sau khi
đã hành thiền được mười phút hay nhiều hơn, bạn có thể đi kinh hành. 

Thiền hành

Khi thay đổi tư thế ngồi sang tư thế đứng để chuẩn bị đi
kinh hành, bạn phải luôn luôn cố gắng giữ tâm chánh niệm liên tục. Khi thực
hành Thiền Minh Sát, điều quan trọng là phải luôn luôn chú tâm ghi nhận với
chánh niệm. Bởi vậy, trước khi đứng dậy, bạn phải thuần chú tâm ghi nhận hay
vừa chú tâm vừa niệm thầm: “muốn, muốn, muốn”. Sau đó, chú tâm vào toàn
thể cơ thể, và từ từ đứng dậy. Trong khi đứng dậy, hãy thuần chú tâm ghi nhận
sự đứng dậy hay vừa chú tâm vừa niệm thầm: “đứng dậy, đứng dậy, đứng
dậy”. Khi đã đứng dậy rồi, hãy chú tâm vào sự đứng, trong khi chú tâm vào
sự đứng bạn có thể niệm thầm: “đứng, đứng, đứng”. Khi đi kinh hành,
tốt nhất nên chọn lối đi đã có sẵn, rồi đi tới đi lui trên đó. Hãy đi một cách
chậm rãi và chú tâm vào chân hay chuyển động của chân. Nên chú tâm ghi nhận ít
nhât bốn giai đoạn của mỗi bước đi.

Ðể đi một bước, trước tiên bạn phải dở chân. Hãy chú tâm
vào chân và thuần chú tâm ghi nhận sự dở chân hay vừa chú tâm vừa niệm thầm:
“dở, dở, dở”. Khi chân đưa ra phía trước, hãy ghi nhận chuyển động
đưa tới, trong khi ghi nhận chuyển động bạn có thể niệm thầm: “bước, bước,
bước”. Khi chân hạ xuống sàn hay xuống mặt đất hãy ghi nhận sự hạ chân
xuống này và có thể niệm thầm: “đạp, đạp, đạp”. Khi bạn chuyển sức
nặng sang chân khác để thực hiện một bước mới hãy chánh niệm ghi nhận trên toàn
thân thể và có thể niệm thầm: “chuyển, chuyển, chuyển” (Bạn cũng có
thể chú tâm vào sự ấn xuống của bàn chân sau khi đạp xuống và có thể niệm thầm:
“ấn, ấn, ấn”). 

Sau đó, tiếp tục thực hiện bước kế tiếp và lần lược ghi
nhận: “dở, bước, đạp, chuyển (hay ấn)”. Hãy đi một cách chậm rãi
trong chánh niệm và nhìn xuống phía trước vào khoảng hai thước. Ðừng nhắm mắt
vì nhắm mắt bạn sẽ bị ngã. Mắt mở vừa phải, nhìn vào lối đi.

Khi đi đến cuối đường kinh hành bạn đứng lại, hãy ghi nhận
sự đứng lại này và có thể niệm thầm: “đứng lại, đứng lại, đứng lại”.
Khi muốn quay lui, hãy ghi nhận ý muốn quay và có thể niệm thầm: “muốn,
muốn, muốn”. Sau đó quay từ từ. Trong khi quay, hãy chú tâm chánh niệm vào
chuyển động quay và có thể niệm thầm: “quay, quay, quay”. Khi bắt đầu
đi trở lại, cũng hãy ghi nhận chánh niệm từng giai đoạn một của bước đi:
“dở, bước, đạp, chuyển (ấn)”, cho đến cuối đoạn đường kinh hành. Ðứng
lại, chánh niệm vào sự đứng lại. Muốn quay, chánh niệm vào ý muốn quay. Quay,
chánh niệm vào chuyển động quay, rồi tiếp tục đi hành như trước. Khi đi, hai tay
có thể nắm lại phía trước hay phía sau. Cứ như thế, tiếp tục đi cho đến hết giờ
kinh hành.

Kinh hành cũng là dịp để vận động cơ thể. Khi tham gia một
khóa thiền suốt ngày thì cơ thể cần phải được vận động. Vì vậy, kinh hành và
ngồi thiền cần phải xen kẻ nhau, sau giờ kinh hành lại đến giờ ngồi thiền. Khi
trở vào thiền đường, bạn phải đi chậm rãi, ghi nhận từng giai đoạn một của mỗi
bước đi. Trước khi ngồi xuống, hãy ghi nhận ý muốn ngồi xuống. Sau đó ngồi
xuống một cách chậm rãi, chú tâm vào toàn thể cơ thể. Khi thân chạm vào sàn nhà
hãy thuần chú tâm ghi nhận sự xúc chạm này hay vừa chú tâm vừa niệm thầm:
“đụng, đụng, đụng”. Khi xếp chân và tay hãy thuần chú tâm ghi nhận sự
xếp chân hay tay này hay vừa chú tâm vừa niệm thầm: “xếp, xếp, xếp”.
Sau đó, hãy ngồi thẳng thắng và chú tâm vào hơi thở ra vào hay chuyển động của
bụng. Cứ thế, bạn liên tục ngồi thiền và đi kinh hành. Hãy cố gắng giữ tâm
chánh niệm liên tục đừng để thất niệm một giây phút nào trong suốt khóa
thiền. 

Chánh niệm lúc ăn

Trong khóa thiền, bạn cũng phải ăn uống trong chánh niệm.
Hãy theo dõi trong chánh niệm mọi động tác trong khi ăn. Khi nhìn thức ăn, hãy
thuần chú tâm ghi nhận sự nhìn này hay vừa chú tâm vừa niệm thầm: “nhìn,
nhìn, nhìn”. Khi gắp thức ăn, hãy thuần chú tâm ghi nhận sự gắp này hay vừa
chú tâm vừa niệm thầm: “gắp gắp, gắp”. Khi đưa thức ăn lên miệng, hãy
thuần chú tâm ghi nhận sự đưa này hay vừa chú tâm vừa niệm thầm: “đưa,
đưa, đưa”. Khi thức ăn đụng vào miệng, hãy thuần chú tâm ghi nhận sự đụng
này hay vừa chú tâm vừa niệm thầm: “đụng, đụng, đụng”. Khi ngậm thức
ăn, hãy thuần chú tâm ghi nhận sự ngậm này hay vừa chú tâm vừa niệm thầm:
“ngậm, ngậm, ngậm”. Khi bỏ tay xuống, hãy thuần chú tâm ghi nhận sự
bỏ xuống này hay vừa chú tâm vừa niệm thầm: “bỏ xuống, bỏ xuống, bỏ
xuống”. Khi tay đụng bàn hay đĩa ăn, hãy thuần chú tâm ghi nhận sự đụng
này hay vừa chú tâm vừa niệm thầm: “đụng, đụng, đụng”. 

Khi nhai thức ăn, hãy thuần chú tâm ghi nhận sự nhai này
hay vừa chú tâm vừa niệm thầm: “nhai, nhai, nhai”. Khi biết mùi vị
thức ăn, hãy thuần chú tâm ghi nhận sự biết này hay vừa chú tâm vừa niệm thầm:
“biết, biết, biết”. Khi nuốt thức ăn, hãy thuần chú tâm ghi nhận sự
nuốt này hay vừa chú tâm vừa niệm thầm: “nuốt, nuốt, nuốt”. Khi thức
ăn xuống cổ họng, hãy thuần chú tâm ghi nhận sự xuống này hay vừa chú tâm vừa
niệm thầm: “xuống, xuống, xuống”. Hãy chú tâm theo dõi với chánh niệm
từ lúc bắt đầu cho đến khi ăn xong. Tất cả mọi việc khác, ngay cả những tác
động trong nhà tắm, đều phải làm trong chánh niệm.

Sau khi làm được điều thiện nào, bạn hãy hồi hướng phước
báu đến tất cả chúng sinh. Ðó là một việc làm tốt đẹp. Cũng vậy, sau khi hành
thiền, bạn nên hồi hướng phước báu như sau

Chúng tôi xin hồi hướng tất cả những phước báu mà chúng
tôi đã tạo đến tất cả chúng sinh, nguyện cho tất cả đều được an vui hạnh
phúc. 

Chúng tôi xin hồi hướng phước báu này đến tất cả chư thiên
khắp mọi nơi, xin tất cả đều được an vui hạnh phúc để hộ trì Phật Pháp cho được
bền vững lâu dài.

Hòa thượng Silananda

Tỳ kheo Khánh Hỷ dịch Việt

Xem thêm: https://www.phaphay.com/phat-phap/

Nguồn: https://www.niemphat.vn/

Add Comment