Khái niệm về Vô Minh trong Phật giáo

Khái niệm về Vô Minh trong Phật giáo 1

Cứu
cánh của Phật giáo là sự Giác Ngộ, phương tiện giúp đạt được Giác Ngộ
là Trí Tuệ, và đối nghịch với Trí Tuệ là Vô Minh. Vậy muốn đạt được
Giác Ngộ thì phải loại trừ Vô Minh. Vô Minh mang lại khổ đau và Giác
ngộ thì mang lại sự Giải Thoát. Trí Tuệ là liều thuốc để hóa giải Vô
Minh tức để loại bỏ khổ đau. Chính vì thế mà vô minh là một khái niệm
vô cùng quan trọng trong giáo lý nhà Phật  bởi lẽ nếu không hiểu được
vô minh là gì thì quả thật là khó mà loại bỏ được nó. Vô minh được kinh
sách đề cập trong ba trường hợp khác nhau:

– Vô minh là nọc độc thứ nhất trong số ba nọc độc gọi là Tam Độc: đấy là sự đần độn hay u mê (moha – si mê); sự thèm khát và bám víu (raga – tham lam) và hận thù (krodha – sân hận).
U mê (moha – ignorance – si mê) sẽ đưa đến những hành động ngu đần và
sai lầm, mang lại những xúc cảm bấn loạn trong tâm thức.

– Vô minh (avidya/avijja) là “nút thắt” hay cái “khoen” đầu tiên
trong số mười hai “nút thắt” của chuỗi dài lôi kéo và tương tác gọi là
“Thập nhị nhân duyên”, trói buộc chúng sinh trong thế giới luân hồi.
Cái nút thắt đầu tiên ấy còn được gọi là vô minh nguyên thủy
(sahajavidya), tức sự kiện không hiểu biết về Tứ Diệu Đế, về quy luật
nguyên nhân hậu quả (nghiệp) và không ý thức được sự hiện hữu trói buộc
của chính mình.

– Vô minh mang ý nghĩa của sự lầm lẫn, thiếu sáng suốt (ditthi, wrong views – tà kiến) nghĩa là không nhìn thấy bản chất của mọi vật thể, tức phương thức hiện hữu đích thật của con người và mọi hiện tượng.

Kinh sách, bài giảng, bài viết… về khái niệm vô minh nhiều vô kể,
do đó bài viết ngắn này chỉ nhằm nhắc lại một vài định nghĩa chủ yếu và
chỉ khai triển thể dạng thứ ba của vô minh tức là sự lầm lẫn và u mê
về bản chất của mọi vật thể, đồng thời nêu lên một vài thí dụ cụ thể để
chúng ta cùng suy ngẫm. Từ “vô minh” nói chung thì tiếng Phạn gọi là
Avidya và tiếng Pa-li là Avijja, nghĩa từ chương của chữ này là sự
“thiếu hiểu biết”, thế nhưng cũng có thể hiểu đấy là một sự “nhầm lẫn”.
“Thiếu hiểu biết” không có nghĩa là thiếu sự hiểu biết mang lại từ sự
học hỏi từ chương trong sách vở, hay sự thiếu hiểu biết mang tính cách
thông thái của một nhà bác học. Nói một cách đơn giản thì ta có thể
hiểu vô minh như là một cách “nhìn sai” hay “hiểu sai”. Đối với Phật
Giáo thì một học giả uyên bác, một triết gia thông thái, một khoa học
gia lỗi lạc hay một chính trị gia khôn ngoan v.v… vẫn có thể là những
người “vô minh” và “u mê”, vì tuy rằng họ hiểu rành rọt về chuyện này
thế nhưng cũng có thể nhìn sai và hiểu sai về một chuyện khác. Không
những thế, cái chuyện khác ấy đôi khi lại có một tầm vóc quan trọng hơn
nhiều so với những chuyện mà họ biết thật rành rẽ, bởi vì nó có thể
liên hệ đến hạnh phúc và tương lai lâu dài của họ và của cả những người
khác nữa.

Tóm lại dù đấy là một vị giáo sư hay chỉ là một người không có cái
may mắn được học hành thì cả hai cũng đều có thể rơi vào sự lầm lẫn như
nhau. Nếu sự lầm lẫn ấy chỉ liên hệ đến những biến cố và sự kiện
thường tình trong đời sống thì hậu quả mang lại đôi khi cũng không đến
đỗi quá tệ hại. Thế nhưng nếu đấy là một cái nhìn lầm lẫn, một sự quán
thấy lệch lạc, không nhận biết được bản chất đích thật của chính mình
và của mọi sự vật, không quán thấy được ảo giác của mọi hiện tượng đang
biến động chung quanh mình và những xung năng trong tâm thức mình, thì
hậu quả mang lại sẽ trầm trọng hơn nhiều.

Sự phức tạp của vô minh và sự đa dạng của việc tu tập

Như vậy nếu muốn phá bỏ hay “khắc phục vô minh” để mở rộng sự hiểu
biết và tìm thấy trí tuệ  thì phải làm thế nào? Việc tu tập quả thật là
rắc rối. Con người có quá nhiều xu hướng khác nhau, từ bản chất cơ thể
cho đến giáo dục, từ truyền thống cho đến kinh nghiệm cá nhân, từ hoàn
cảnh cho đến những định hướng tư lợi, mà tất cả những thứ ấy đều là
hậu quả của nghiệp tích lũy từ trước. Quả thật hết sức khó để có thể
tìm ra một phương thức chung có tính cách phổ cập, thích ứng cho tất cả
mọi người. Vì thế cũng không nên lấy làm lạ là chung quanh ta “mỗi
người tu một cách”, các tông phái, chi phái thì “nhiều vô kể”, và sách
giảng thì cũng đủ loại. Thật ra thì đấy là các phương cách khác nhau mà
Đạo Pháp dùng để thích ứng với sự đa dạng của chúng sinh, hay nói một
cách giản dị là để thích ứng với cái vô minh và cái ngã của từng người
mà thôi.

Giáo lý nhà Phật cũng không phải là không ý thức được việc đó, vì thế
mà Đạo Pháp xem đấy đều là những “phương tiện thiện xảo” (upaya) “chấp
nhận” cho mỗi người tự tìm lấy một “con đường” thích hợp cho mình, và
tất nhiên là cũng phải tôn trọng một số nguyên tắc căn bản nào đó trong
Đạo Pháp. Kinh sách cho biết là có tất cả 84.000 “phương tiện thiện
xảo”, và theo truyền thống văn hóa Ấn độ thì con số này chỉ mang tính
cách tượng trưng, có nghĩa là các phương tiện thiện xảo nhiều lắm, đếm
không xuể. Vô minh cũng thế, cũng nhiều lắm và đếm không xuể. Mỗi người
có một cái vô minh riêng của mình, cũng có thể xem như một thứ “gia
tài” riêng, “bị” thừa hưởng từ nghiệp của mình mà ai cũng muốn bảo vệ
cái “gia tài” ấy, “bám chặt” vào nó, “hãnh diện” vì nó, “ôm khư khư”
lấy nó. Vì thế việc tu tập tất nhiên cũng phải phù hợp với cái vô minh
của từng người là như vậy.

Chúng ta hãy thử nhìn vào một thí dụ thực tiễn và cụ thể như sau. Một
vị thầy thuyết giảng giáo lý cho một đám đông Phật tử đến chùa. Phật
tử ngồi lắng nghe thật yên lặng và thành tâm, vị thầy thì thuyết giảng
rất hăng say và cũng rất thành tâm, có lúc hùng hồn, có lúc khôi hài,
có khi lại rất trịnh trọng và nghiêm trang, nhằm thu hút sự chú tâm của
người nghe. Thế nhưng biết đâu vị thầy cũng chỉ lập đi lập lại những
gì mình đã thuộc lòng (!). Trong số Phật tử thì chắc hẳn cũng có người
nghe và nghĩ thầm là “lanh quanh cũng thế, chẳng có gì mới lạ”, hoặc
nghĩ rằng vị thầy này giảng không “hấp dẫn” bằng vị hôm trước. Trong
khi đó thì cũng lại có kẻ đang nghĩ đến việc sắp phải rước con vì sắp
đến giờ tan học, mà vị thầy này lại giảng hăng quá mà chẳng biết đến
khi nào mới chấm dứt, người khác thì hơi sốt ruột vì còn phải lo việc
chợ búa và trăm chuyện phải làm, v.v. và v.v… Rồi thì buổi giảng cũng
chấm dứt, thầy trò đều mừng rỡ, cùng nhau chắp tay hồi hướng công đức
để cầu xin cho thế giới này được an bình hơn, hạnh phúc hơn… Các Phật
tử ra đến cổng thì vừa chen lấn vừa áp tay vào túi quần vì sợ bị…
móc túi, người ăn xin thì quá đông nên chẳng biết phải bố thí cho người
nào, xe chạy như mắc cửi, phải nhìn trước trông sau để tránh xe…
Trong chùa thì vị thầy vừa giảng xong cũng muốn nghỉ ngơi một tí, vì
chiều nay lại phải giảng về đề tài này tại một ngôi chùa khác. Mỗi
người trở lại với những sinh hoạt thường nhật của mình và cũng có thể
không ai nghĩ đến là sau khi nghe giảng thì mình có cải thiện được phần
nào cái vốn liếng trí tuệ của mình hay không?

Vô minh quả thật là phức tạp và đa dạng, do đó việc tu tập nếu muốn
thực sự “hữu hiệu” thì cũng đành phải chạy theo sự đa dạng và phức tạp
đó. Thế nhưng may mắn thay cứu cánh của Đạo Pháp thì lúc nào cũng chỉ
là một: đấy là Trí Tuệ. Dù phải vướng mắc trong bối cảnh hỗn tạp do
nghiệp và cơ duyên tạo ra, thế nhưng ta cũng nên luôn cố gắng nhìn xa
hơn và sâu hơn trước những biến cố quen thuộc đang xảy ra chung quanh.

Sự chú tâm để quán thấy những thứ ấy càng mạnh, càng thường xuyên và
sâu xa, thì trí tuệ của ta cũng theo đó mà ngày càng được phát triển
hơn. Tóm lại đấy là cách giúp ta thoát ra những trói buộc thường tình
để nhìn xa hơn vào các hiện tượng đang biến động chung quanh và để thấy
rõ hơn các xúc cảm và xung năng đang chi phối tâm thức mình hầu giúp
mình quán xét, phân tích và tìm hiểu chúng để khám phá ra bản chất đích
thật của chúng, nhằm giúp cho mình chọn lấy một thái độ ứng xử thích
nghi hơn.

Cách nhìn vào các hiện tượng biến động và bản chất của hiện thực

Cách nhìn như vừa mô tả trên đây gồm có hai khía cạnh hay hai lãnh
vực khác nhau: trước hết là cách nhìn vào những hiện tượng đang biến
động tức các thể dạng “bên ngoài” hay “ảo giác” của hiện thực, và sau
đó là cách nhìn thẳng vào “bản chất đích thật” của hiện thực. Thật ra
thì cả hai khía cạnh hay lãnh vực ấy của hiện thực đã được mô tả trong
vô số kinh sách và cũng đã được các vị thầy đại diện cho Đạo Pháp
thuyết giảng cho chúng ta nghe, thế nhưng chính ta phải tự nhìn thấy nó
vì không ai có thể nhìn thấy chúng thay cho ta được. Hai cách nhìn ấy
như sau:

– Nhìn vào các hiện tượng biến động của hiện thực

Ta hãy thử tréo chân ngồi xuống, giữ yên lặng và phóng luồng tư tưởng
nhìn ra vũ trụ, để hình dung ra địa cầu đang xoay vần chung quanh mặt
trời, rồi mặt trời và thái dương hệ thì đang quay cuồng trong thiên hà,
và thiên hà lại bắn tung trong vũ trụ… Toàn bộ tất cả những thứ ấy
đang chuyển động với một vận tốc khủng khiếp, đấy là cái vận tốc của
một vụ nổ lớn trong vũ trụ (Big Bang). Cùng với địa cầu và thiên hà, ta
đang bị bắn tung trong không gian… Thế nhưng trước đây vài phút, lúc
ta chưa ngồi xuống để hình dung ra vị trí của mình trong cái khoảng
không gian mênh mông đó thì ta vẫn có cảm giác bình yên tự tại, vẫn cảm
thấy vững chân trên mặt đất và dường như chẳng có việc gì xảy ra: trên
đầu ta là bầu trời cao vời vợi với những đám mây trôi êm ả, dưới chân
ta là mặt đất vững vàng, và căn nhà của ta được đóng cừ và xây móng
chắc chắn. Tóm lại việc ta cứ “bình chân như vại” mà không quán thấy
cái chuyển động khủng khiếp đấy là một thứ vô minh rất dễ nhận ra, thế
nhưng chỉ vì cứ phải chạy ngược chạy xuôi cho nên ta không nhận thấy
cái vô minh đó của mình mà thôi!

Địa cầu là một hạt cực nhỏ xoáy lộn trong không gian, thế mà ta vẫn
cố ngước lên để tìm một cái gì cao cả, và nhìn xuống để ý thức ra sự
đọa đày. Ta tự đặt mình vào vị trí trung tâm của vũ trụ để tự nhận diện
chính mình. Các vị trí dùng để định hướng như trung tâm, bên phải, bên
trái, bên trên, bên dưới… không hề mang một ý nghĩa gì cả, đấy chỉ
là những điểm chuẩn hoàn toàn mang tính cách tương đối và quy ước. Thế
nhưng đối với ta đã gọi là “trên trời” thì nhất định là phải ở trên
đỉnh đầu, ta không thể chấp nhận “trên trời” lại cũng có thể là ở…
“dưới chân” ta. Một người ở bắc bán cầu thì “trên trời” sẽ có một hướng
đối nghịch lại với cái hướng “trên trời”của một người ở nam bán cầu. Ta
ngước “lên trên” để tìm kiếm một đấng tối cao, một chốn thiên đường
hạnh phúc hay một cõi cực lạc an bình, bất chấp là cái hạt bé tí gọi là
địa cầu đó đang bị xoáy lộn “lên phía trên” hay bị tung “xuống phía
dưới” trong vũ trụ này. Đấy là một trong số hàng nghìn cách nhìn giúp
cho ta nhận thấy cái vô minh của mình trước những biến động chung
quanh.

Nếu tiếp tục thu hẹp tầm nhìn để quay trở lại với những gì đang xảy
ra chung quanh ta trong giới hạn của quả địa cầu này thì ta cũng sẽ
thấy rằng mọi vật thể và hiện tượng nơi cái hành tinh bé nhỏ này cũng
biến động không ngừng, từ con người đến vạn vật, từ văn hóa đến chính
trị, từ địa dư đến lịch sử và từ những biến cố cổ xưa đến cận đại. Có
những khi mùa màng mưa thuận gió hòa thì cũng có những lần mà thiên tai
sát hại hàng trăm nghìn người một lúc. Có những đứa bé sinh ra đời thì
lại có những người nằm xuống, và trong số những người nằm xuống thì
cũng có những đứa bé còn bú mẹ, có những người già nua đau yếu, và cả
những người còn trẻ và khoẻ mạnh… Tất cả những hiện tượng ấy trên
bình diện “bên ngoài” hiện ra như có vẻ độc lập, được xác định rõ rệt.
Thế nhưng nếu ta hiểu rằng một cơn sóng thần giết hại hơn hai trăm
nghìn người phải bắt nguồn từ một cuộc địa chấn. Động đất xảy ra là
phải có các mảng lục địa trôi dạt trên lớp đá nóng bỏng và chảy lỏng
nằm bên trong lớp vỏ của địa cầu, các mảng lục địa va chạm vào nhau,
chồm lên nhau, bị dồn nén, bị “gẫy” để tạo ra động đất. Sở dĩ ta không
nhận thấy những chuyển động đó là vì chúng xảy ra quá chậm trong khi
cuộc sống của ta thì lại quá dồn dập, xảy ra và chấm dứt như một tia
chớp. Ngược về quá khứ xa hơn, ta sẽ thấy rằng những biến cố động đất
và sóng thần liên hệ đến địa cầu từ lúc hành tinh này còn là một khối
lửa đang nguội dần, có những mảng lục địa đang hình thành và đá lỏng
vẫn chưa nguội hẳn…

Khi thấy một đứa bé còn bú, ta có thể hình dung ra một người già yếu
và bịnh tật sau này. Khi thấy xác chết của một người trọng tuổi, ta có
thể hình dung ngược lại hình ảnh một đứa bé khi còn được bồng trên tay
mẹ. Từ những biến động vật chất của địa cầu cho đến cái chết của một
đứa bé còn bú mẹ, hay cái may mắn của một đứa trẻ được lớn lên để rồi
trở thành một cụ già, tất cả đều là những biến động liên tục, chằng
chịt và liên đới, tạo ra bởi vô số nguyên nhân. Tóm lại nhận dạng một
hình tướng độc lập, tách rời ra khỏi những ràng buộc chằng chịt và
những điều kiện dự phần tác tạo ra nó là một cách nhìn vô minh, tức sai
lầm, nông cạn và ngây thơ.

Nếu tiếp tục ngồi yên và thu hẹp tầm nhìn hơn nữa thì biết đâu bất
chợt ta sẽ trông thấy một con kiến đang bò trên mặt tường trước mặt ta,
rồi sau đó thì nó bò ngược lên trần nhà. Ta sẽ hiểu rằng ta không làm
được như nó, không thể bước thẳng lên bức tường và đi ngược lên trần
nhà được bởi vì thân xác của ta quá nặng và sức hút của địa cầu sẽ làm
cho ta rơi xuống. Nếu trước đây ta cảm thấy mình là một hạt bụi trong
vũ trụ thì giờ đây ta lại cảm thấy mình là một sinh vật khổng lồ, quá
kềnh càng so với con kiến, ta có nhu cầu nhiều hơn, tham lam hơn, quá
sức “nặng nề” và không được nhẹ nhàng như con kiến.

Nếu thay thế bảy tỷ người trên hành tinh này bằng bảy tỉ con kiến thì
hành tinh này sẽ trở nên an bình hơn, sẽ không có chiến tranh, không
có số khí giới khổng lồ như hiện nay. Nhu cầu của bảy tỉ con kiến cũng
sẽ vô nghĩa trước sự tham lam vô độ của con người, và số kiến ấy sẽ
không làm cho hành tinh này trở nên ô nhiễm và bị tàn phá như hiện nay,
các sinh vật không còn sợ con người ngược đãi và ăn thịt chúng nữa.
Tóm lại nếu ta nhìn con người là những sáng tạo thông minh nhất, hoàn
hảo nhất trong toàn thể vũ trụ này, hay ít ra là trên hành tinh này,
thì đấy quả là một cái nhìn vô minh. Người ta có thể cho rằng cách so
sánh trên đây mang tính cách tự biện và lạm dụng, điều ấy rất đúng, thế
nhưng đấy không phải là một lối lý luận nhằm chứng minh một sự thật nào
cả mà chỉ là một cách để làm nổi bật sự lệch lạc khi đánh giá về vị
thế của con người trong vũ trụ này cũng như về cái nhìn vô minh của họ
đối với chính họ và bối cảnh chung quanh.

Tuy nhiên con kiến vẫn còn quá to, vì nếu đưa cánh tay để nhìn gần
hơn nữa thì các khoa học gia sẽ cho ta biết là trong mỗi phân vuông
trên da của ta có khoảng 200.000 vi sinh vật sinh sống, nhờ vào hơi ấm,
mồ hôi và lớp da chết đào thải làm thực phẩm. Đối với các vi sinh vật
ấy thì thân xác ta là cả một vũ trụ vô cùng phức tạp. Khi đưa ra các
hình ảnh như trên đây để so sánh thì ta sẽ nhận ra rằng ta vừa là một
hạt bụi trong vũ trụ và đồng thời lại cũng là một vũ trụ đối con vi
sinh vật trên cánh tay ta, cả hai không có “cái tôi”, “cái của tôi” hay
“cái ngã” nào cả. Nếu nhìn thấy “cái ngã” của mình và của từng vi sinh
vật chia sẻ sự sống chung với mình và gọi đấy là “tôi”, thì đấy chính
là một cái nhìn vô minh.

– Nhìn vào bản chất đích thật của hiện thực

Bản chất đích thật của hiện thực là: vô thường (anitya/anicca – không kéo dài), khổ đau (duhkha/dukkha – sự bất toại nguyện) và vô ngã (anatman/anatta – tự-nó-không-hiện-hữu).
Vô minh là không nhìn thấy được những đặc tính đó của các vật thể. Vậy
một cái nhìn sáng suốt không lầm lẫn là thế nào? Kinh sách cho biết
cái nhìn ấy phải như thế này:

“Đây là một vật thể, đây là cách thức mà dựa vào đó thì vật thể
hiển hiện ra, đây là sự chấm dứt của nó, và đây là cách làm cho nó phải
chấm dứt. Nếu nhìn một vật thể xuyên qua quá trình đó thì ta sẽ thấy
rằng mọi vật thể tự nó không có một sự hiện hữu thật sự nào cả, không
có một sự độc lập nào cả, mà chúng chỉ là vô thường, bất toại nguyện và
vô ngã”
(tóm lược dựa vào ý nghĩa của một bản kinh).

Thế nhưng trên thực tế thì chúng ta lại không nhìn thấy bản chất một
vật thể đúng như vậy, và điều này khiến cho ta biểu lộ sự yêu quý nó và
thèm khát được “có nó”, hoặc mong muốn “ghét bỏ nó” để rồi khổ đau khi
bị bắt buộc phải nhận chịu sự hiện diện của nó. Nếu đấy không phải là
một vật thể mà là một thể dạng hình thành nào đó, thì ta lại muốn được
“trở thành như thế” hoặc kinh sợ bị bắt buộc phải “trở thành như thế”.
Tóm lại vô minh làm phát sinh ra sự thèm khát hay bám víu – tức muốn
được chiếm giữ hay ghét bỏ – và ngược lại sự thèm khát hay bám víu ấy
lại làm phát sinh ra vô minh. Đấy là cặp bài trùng kềm kẹp chúng ta
trong vòng luân hồi và khổ đau.

Hãy nêu lên một thí dụ cụ thể khác, chẳng hạn như sự bám víu vào cái
ngã hay là năm thứ cấu hợp – ngũ uẩn – tạo ra một cá thể, tức là thân xác (rupa – sắc), giác cảm (vedana – thụ), sự cảm nhận (samjna – tưởng), tác ý (samskara – hành) và tri thức (vijnana – thức). Ngũ uẩn còn được gọi là “năm
thứ cấu hợp của sự chiếm hữu”. Tại sao lại gọi đấy là những thứ “chiếm
hữu”? Bởi vì ta luôn luôn tìm cách nắm bắt và chiếm giữ cái tổng thể
gồm năm thứ cấu hợp luôn luôn biến động và đổi thay ấy mà gọi đấy là
“cái ta” “cái ngã” (attman/atta) của ta, đấy là “ta”. Từ đó phát sinh
ra trong tâm thức của mình cái ảo giác về một thực thể mang tên là cái
“tôi”, và năm thứ cấu hợp ấy là những cái “của tôi”, thuộc riêng tôi.
Sự nhận định sai lầm đó gọi là vô minh hay là một sự hiểu biết lầm lẫn.
Tóm lại vô minh chính là cách nắm bắt hình ảnh tạm thời của năm thứ
cấu hợp vô thường để tác tạo ra ảo giác của một “cái tôi” thực sự. Khắc
phục được vô minh có nghĩa là không còn tiếp tục nhìn nhận năm thứ cấu
hợp ấy là “cái tôi” nữa.

Chúng ta hãy thử nhìn gần hơn nữa vào cái tổng thể gồm năm thứ ngũ
uẩn ấy bằng cách chọn uẩn thứ nhất – tức hình tướng – để quán xét xem
sao. Khi phóng nhìn vào cấu hợp hình tướng của một cá thể thì ta gán
ngay một số đặc tính nào đó cho cái hình tướng ấy, chẳng hạn như to
lớn, béo lùn, cao ráo, trắng trẻo, xinh đẹp, thơm tho, hôi hám, duyên
dáng , thô kệch, thanh tú, khả ái, dữ tợn, hiền lành… Thật ra đấy chỉ
là những biểu lộ “bên ngoài” của hiện thực, và là những ảo giác do vô
minh diễn đạt. Thế nhưng nếu ta vẫn cứ nhất quyết cho rằng cái tổng thể
ảo giác đang chuyển động ấy là một thực thể vững bền mang một ý nghĩa
nào đó, thì tức khắc sự thèm khát hay ghét bỏ sẽ phát sinh.

Nếu đến thật gần hơn nữa để nhìn thẳng vào chính cái thân xác tượng
trưng cho các cấu hợp trên đây thì ta sẽ thấy gì? Cái thân xác đó được Kinh Đại Niệm Xứ (Maha-Satipatthana-Sutta, Trường Bộ Kinh, 22) mô tả là gồm có:

“Tóc, lông, móng chân, móng tay, răng, da;

Thịt, gân, xương, tủy, thận; tim, gan, màng nhầy, thận, phổi;

Ruột, màng treo ruột, bao tử, phẩn, óc ;

Mắt, dung dịch tiêu hóa, mủ, máu, chất dầu, mỡ;

Nước mắt, mồ hôi, nước miếng, nước nhầy, chất nhờn ở các khớp xương,  nước tiểu;

Cái tổng hợp đó có chín lỗ, từ các lỗ ấy các chất dơ dáy và kinh
tởm chảy ra không ngừng, chín lỗ ấy là: hai mắt, hai tai, hai lỗ mũi,
miệng, lỗ tiểu tiện và hậu môn”.

Nếu nhìn vào cấu hợp hình tướng dưới góc cạnh đó thì ta sẽ cảm thấy
ít bám víu hơn vào nó bởi vì cách nhìn ấy có vẻ gần với hiện thực hơn,
hoặc nói một cách dễ hiểu hơn là tương đối “khách quan” hơn, ít diễn
đạt hơn. Tuy nhiên đấy vẫn chưa phải là hiện thực tuyệt đối.

Chúng ta hãy thử trở lại với thí dụ nêu lên trên đây về mối liên quan
giữa ta, vũ trụ và con vi sinh vật sống bám vào lớp da của ta. Ta là
cả một vũ trụ đối với nó, thế nhưng đối với địa cầu thì ta lại chỉ là
một hạt bụi, và so sánh với vũ trụ thì cả địa cầu lại cũng chỉ là một
hạt bụi nhỏ bé. Tất cả đều là tương đối. Vì mang tính cách tương đối
nên con vi sinh vật ấy không có cái ngã, ta không có cái ngã, địa cầu
không có cái ngã, mà cả vũ trụ cũng không có cái ngã. Vô ngã là một đặc
tính tuyệt đối của hiện thực. Nếu so sánh khái niệm vô ngã và khái
niệm tánh không thì chúng ta sẽ hiểu ngay rằng chính vô ngã là tánh
không, và tánh không có khả năng chứa đựng từ một sinh vật nhỏ bé cho
đến cả vũ trụ này.

Sự thực tuyệt đối vượt lên trên mọi khái niệm quy ước, đối nghịch và
nhị nguyên, vượt lên trên cả “cái xấu” và “cái tốt”, “cái đúng” và “cái
sai”…, có nghĩa đấy là tất cả mọi tạo dựng của tâm thức. Nếu cái
nhìn của ta còn vướng mắc trong sự thực tương đối thì cái nhìn ấy gọi
là cái nhìn vô minh, và cái nhìn ấy tất sẽ mang lại khổ đau. Cái xấu
hay cái tốt đều mang lại khổ đau, cái xấu mang lại các hậu quả tồi tệ,
thế nhưng cái tốt cũng mang lại những khổ đau tương quan với cái tốt.
Dầu sao cũng xin mở một dấu ngoặc ở đây để minh chứng là cách diễn đạt
ấy không phải là một cách khuyến khích không làm điều thiện, mà chỉ muốn
nêu lên là sự “thèm khát” được làm điều tốt cũng là một thứ khổ đau vì
chính trong “cái tốt” cũng hàm chứa những khổ đau thật tinh tế và khó
nắm bắt cho tất cả mọi người. Ước mơ được làm công an phường để cải
thiện ngày hai bữa cho vợ con hay được làm tổng thống da màu [vàng]
quản lý một quốc gia cường thịnh nhất hành tinh này cũng đều là khổ
đau. Làm đại diện cho Thượng Đế mà mỗi khi ra đường lại phải chui vào
cái lồng kính súng bắn không thủng thì cũng không được thoải mái gì cho
lắm. Ta sinh ra con cái, nuôi dưỡng và dạy dỗ chúng, để rồi đến khi lớn
khôn thì chúng lại quay ra chế nhạo và khinh thường ta thì làm thế nào
mà ta có thể cảm thấy hạnh phúc được. Sáng tạo thì cũng sẽ phải khổ
đau với sự sáng tạo của mình là như thế.

Chỉ có sự quán thấy bản chất tuyệt đối của hiện thực, tức một cái
nhìn vượt thoát khỏi vô minh mới có thể giúp ta không bám víu vào những
biểu hiện ảo giác của hiện thực nữa, tức có nghĩa là hiểu được rằng
không có bất cứ một thứ gì hay một vật thể nào đáng để cho ta “có nó”
hay “trở thành như thế”. Sự hiểu biết ấy chính là sự Giải Thoát.

Kinh Aggi-Vacchagotta-Sutta (Majjhima-Nikaya, 72,
PTS, 483-489) có ghi lại những lời Đức Phật giải đáp cho câu hỏi của
một người tu khổ hạnh là Vacchagotta liên quan đến hình tướng, tức thân
xác của Ngài như sau:

“Này Vaccha, không thể hình dung ra hình tướng vật chất của Như
Lai vì Như Lai đã rứt bỏ nó đi rồi. Nó bị gạt ra một bên, nhổ bỏ tận
rễ, khiến nó giống như một gốc cây dừa [đã mất rễ] không còn mọc lại
được. Này Vaccha, Như Lai không nhìn và không tự nhận dạng mình xuyên
qua cái thể xác bằng hình tướng đó nữa. Chính vì thế, nên cái thể xác
hình tướng đó trở nên sâu thẳm, không thăm dò được, mênh mông như đại
dương”.

Đức Phật dùng cách giải thích tương tự như trên đây để tiếp tục giảng cho Vacchagotta về các cấu hợp khác là: giác cảm, sự cảm nhận, tác ýtrí thức (consciousness) của Ngài. Nhằm mục đích rút ngắn nên chúng ta hãy cùng xem câu giảng liên quan đến tri thức như sau:

“Này Vaccha, không thể hình dung ra tri thức của Như Lai. Cái tri
thức ấy Như Lai đã rứt bỏ đi rồi. Nó bị gạt ra một bên, nhổ bỏ tận rễ,
khiến nó giống như một gốc cây dừa [đã mất rễ] không còn mọc lại được.
Như Lai không nhìn và không tự nhận dạng mình qua cái tri thức đó nữa.
Vì thế, nên cái tri thức ấy sâu thẳm, không thăm dò được, mênh mông
như đại dương”.

Đức Phật không nhận dạng mình xuyên qua năm thứ cấu hợp tức là ngũ
uẩn nữa, vì sự lệ thuộc và biến động không ngừng của chúng chỉ có thể
tạo ra được ảo giác mà thôi. Xem ảo giác là thật, chính là vô minh. Đức
Phật không hề xác nhận mình biến mất hay nhập vào cõi hư vô mà chỉ tự
nhận mình là “Như Lai”, tức có nghĩa là “Như Thế” (Ainsité/Suchness),
“không từ đâu đến cả” và cũng “chẳng đi về đâu cả”, mà chỉ là một
“Người đạt được cái thể dạng tự nhiên là như thế”.

Gạt bỏ mọi ảo giác là để nhìn thấy bản chất trống không của hiện
thực, và cái bản chất ấy không phải là hư vô. Gạt bỏ mọi ảo giác cũng
không phải là xóa bỏ hiện thực mà đấy chỉ là một cách “dừng lại” với
hiện thực, một sự đình chỉ (nirodha – cessation) để “hòa mình” với hiện
thực. Cái tánh không của hiện thực tượng trưng bởi sự đình chỉ thật ra
đầy ắp và “thật sâu thẳm, không thăm dò được, mênh mông như đại dương”.

Bures-Sur-Yvette, 13.08.06

Hoang Phong (đọc và viết lại, 14.12.11)

Xem thêm: https://www.phaphay.com/phat-phap/

Nguồn: https://www.niemphat.vn/

Add Comment