Kinh điển Phật Giáo

Kinh điển Phật Giáo 1

Những bài pháp đức Phật thuyết trãi qua 45 năm hoằng hóa
của ngài, đã không được ghi lại bằng văn tự từ lúc Phật đương thời cho
đến mấy thế kỷ sau khi ngài nhập diệt, không phải lúc đó
Ấn độ chưa có chữ viết, thật ra kinh Vệ Ðà của Bà La Môn đã
được ghi chép bằng chữ Phạn từ trước thời đức Phật.

215765_2009010804230388 [HINH NHO LEN WEB].jpg

Những đại đệ tử của Phật như Xá Lợi Phất hay Mục
Kiền Liên trước kia ở phái San Xa Dạ thuộc Lục Sư ngoại đạo, mỗi
người có đến 100 đệ tử, cũng đại đệ tử như Ðại Ca Diếp
vốn thuộc dòng dõi Bà La Môn, còn những vị vương tử khác thuộc dòng dõi
Sát Ðế Lợi như A Nan, A Na Luật, Nan Ðà, Ma Ha Nam . . . dĩ nhiên những
người đó làu thông chữ nghĩa Sanscrit, nhưng kinh điển đã không được
ghi chép vì theo Tạng Luật của nhiều bộ phái còn ghi lại sự kiện sau
đây : “Bấy giờ có hai anh em Bà La Môn xin xuất gia theo Phật.
Họ yêu cầu Ngài cho phép họ tụng, đọc những lời Ngài dạy theo
kiểu tụng đọc kinh điển Vệ Ðà mà họ đã quen đọc,
họ cũng yêu cầu sử dụng tiếng Sanscrit và sắp xếp câu văn thế
nào cho hoa mỹ như cách hành văn của Sanscrit trong kinh điển ấy”
. Về lời yêu cầu nầy, Phật dạy rằng trong đạo Ngài không
cần văn chương hoa mỹ, chỉ cần nghĩa lý rõ ràng, lập luận chặt chẻ.
Lời văn giọng nói cần phải đơn giản, thế nào cho người nghe hiểu
được mình muốn nói gì. Ðó là vấn đề chính yếu để giải đáp
cho câu hỏi vì sao kinh điển không được ghi chép từ thời đức Phật còn
hiện tiền.

Trong kiết tập lần thứ nhất, ngài Ðại Ca Diếp đưa ra
ý kiến : “Nếu chúng ta xem học pháp là những giới
nhỏ nhặt, có thể loại bỏ thì các Tỳ Kheo khác sẽ bảo: Bốn giới Ba La
Ðề Ðề Xá Ni cũng là những giới nhỏ nhặt có thể loại bỏ.
Nếu chúng ta bảo bốn giới Ba La Ðề Ðề Xá Ni là những giới nhỏ
nhặt, thì các Tỳ Kheo khác sẽ bảo : Các giới Ba Dật Ðề cũng là những
giớ nhỏ nhặt… Giờ đây chung ta không thể khẳng định, giới nào là giới
nhỏ nhặt mà loại bỏ một cách tùy tiện thì bọn ngoại đạo sẽ bảo :
“Pháp của sa môn Thích tử giống như mây khói, khi thầy còn sống
thì những pháp do thầy chế định các đệ tử tuân thủ một cách nghiêm
túc, nhưng sau khi thầy nhập niết bàn, họ không chịu thực hành nữa” Do vậy, tôi khẳng định lại :
“Những gì không do Phật
chế thì không được tự ý chế định, và những gì do Phật chế
định thì không được vi phạm. Chúng ta phải kính cẩn học tập những gì
mà Phật đã truyền dạy”.
Ý kiến nầy nầy đã được
đại hội quyết nghị chấp thuận, do đó cho chúng ta thấy rằng, tăng đoàn
quyết bảo tồn và hành trì đúng y theo những lời Phật dạy, Thượng
Tọa bộ đã tiếp nối truyền thống nầy nên họ được mệnh
danh là bảo thủ, chính truyền thống bảo thủ nầy mà trải qua nhiều
thế kỷ, kinh điển vẫn khẩu truyền chớ không được ghi chép.

Tương truyền rằng sau khi mãn Hạ trong lần kiết tập
thứ nhất đó, ngài Ưu Bà Ly đem quyển Luật của ngài đã kiết tập ghi
1 điểm, cứ thế sau mỗi Hạ ghi 1 điểm, quyển Luật nầy có
tên là Luật Thiện Kiến, sau ngài truyền cho đệ tử là Ðà Ðã
Tật, Ðà Ðã Tật truyền cho ngài Tu Câu và cứ thế lưu truyền,
đến ngài Bạt Ðà La mang nguyên bổn Luật nầy sang Trung Hoa vào đời
Tề, năm Vĩnh Bình Thứ Bảy, dịch ra Hán Văn tại chùa Trúc Lâm ở Quảng
Châu, mãn Hạ năm ấy đếm số ghi cuối cùng được 976 điểm, vì do chư
thánh Tăng đã điểm vào quyển nầy, nên nó còn có tên là
“Chúng Thánh Ðiểm Ký”.
Phật Lịch được định
theo điểm ký nầy.

Nhìn lại lịch sử Phật giáo, chúng ta biết rằng kiết
tập lần thứ hai khoảng 100 năm sau Phật nhập diệt, hay ở thế kỷ
thứ V trước Công nguyên, lần kiết tập nầy do vấn đề giới luật, Phật
giáo lần đầu tiên bị phân phái thành Thượng Tọa bộ và Ðại Chúng bộ.
Ðến thời đại vua A Dục, khoảng 236 năm sau khi Phật nhập Niết Bàn,
tức năm 250 trước CN nhà vua hộ trì tổ chức kiết tập lần nầy để
chỉnh đốn lại hàng ngủ Tăng già, có thuyết cho là do tân thuyết của
Ðại Thiên. Lần kiết tập nầy xuất hiện bộ
“Thuyết sự”, sau nầy người ta cho rằng từ đó Phật Giáo có đủ Tam Tạng
Kinh Ðiển. Lần kiết tập thứ tư dưới triều đại Ca Nhị Sắc Ca
(128-151), khoảng 700 năm sau khi Phật nhập niết bàn, khoảng năm 140 CN, lần
kiết tập nầy, hội nghị đã sáng tác bộ
“Luận Nghị” (Upadesa), để giải thích tạng Kinh, bộ
“Tỳ Bà
Sa”
(Vibhasa) để giải thích tạng Luật và bộ
“A Tỳ Ðạt Ma” (Abhidarma) để giải thích tạng Luận. Như vậy cả
bốn lần kiết tập, đều cho chúng ta thấy, không lần nào có tổ chức
ghi chép kinh điển.

Chúng ta lại biết rằng, sau khi Phật nhập niết bàn 236
năm, dưới triều đại vua A Dục, ngài muốn truyền bá Phật giáo nên
phái một đoàn truyền giáo sang Tích Lan, do Trưởng Lão Minhada (là vương
tử, con vua A Dục) hướng dẫn, đoàn truyền giáo nầy đã truyền khẩu
Kinh và Luật tại vương quốc Tích Lan bằng tiếng Ma Kiệt Ðà, để
giải thích kinh họ dùng ngôn ngữ và chữ Tích Lan để ghi chép.
Ðến triều vua Vô Úy Vương (Vatthagàmani-Abhaya thế kỷ I trước
Công Nguyên), một vị vua rất hâm mộ và nhiệt tâm hộ trì Phật giáo, đã
tạo dựng một ngôi chùa nguy nga đồ sộ tại núi Vô Úy tên là Vô Úy Tự.
Thời kỳ nầy vào những năm 35-32 TCN Phật Giáo Tích Lan họp chư tăng tại
chùa Alu gần thị trấn Matale, kiết tập toàn bộ Tam Tạng, kinh điển bắt
đầu ghi chép bằng tiếng Pali theo ngôn ngữ Ma Kiệt Ðà. Về nguồn
gốc tiếng Pali, các nhà khảo cứu cho rằng nó phát xuất từ nơi nào đó
thuộc vương quốc rộng lớn Ma Kiệt Ðà, rồi lan rộng ra các nơi đến
tận Tích Lan.

Về sau, đến thế kỷ thứ V, có ngài Phật Âm
(Buddhaghoso), người Trung Ấn, đến Tích Lan nghiên cứu giáo lý của
Ðại Tự phái ( Phật giáo Tích Lan bắt nguồn từ Ðại Tinh Xá phát triển
ra, nên gọi là Ðại Tự phái, sau Tăng chúng ở Vô Úy Tự bất đồng ý
kiến về giới luật, tách khỏi Ðại Tự phái, thành lập Vô Úy Sơn Tự
phái, thuộc pháp hỷ bộ, đầu thế kỷ thứ III, tại chùa Kỳ Ðà
Lâm, phát sinh ra một phái nửa gọi là Kỳ Ðà Lâm Tự phái.), ngài Phật
Âm đã dùng tiếng Pali để chú thích hầu hết các Kinh, Luật và
Luận, phần nào chưa xong, sau nầy có ngài Hộ Pháp (Dhammapàla) hoàn thành,
chính ngài Phật Âm (Buddhaghoso) sáng tác ra bộ Thanh Tịnh Ðạo Luận
(Visuddhimagga).

Như vậy Phật giáo Tích Lan dùng kinh điển Pali gọi là
Phật Giáo Nguyên Thủy hay Phật giáo Nam Tông. Còn Phật Giáo Ðại Thừa hay Bắc
Tông dùng kinh điển chữ Sanscrit. Chúng ta biết chữ Sanscrit đã có từ
trước thời đức Phật, nhưng kinh điển Phật giáo được ghi chép bằng
Sanscrit không rõ từ lúc nào nhưng chắc là khoảng thời thời kỳ kiết tập
kinh điển lần thứ tư, những nhà nghiên cứu Phật giáo cho rằng kinh
điển ghi bằng chữ Sanscrit cũng như Pali, có thể đã dựa theo nguyên
bản ngôn ngữ Ma Kiệt Ðà, hoặc khi ghi kinh điển Sanscrit có tham khảo
bản tiếng Pali, cho nên nội dung bộ A Hàm (Agama) của Bắc Tông giống như
Ngũ Bộ Kinh (Nikaya) của Nam Tông.

Chúng ta có bảng liệt kê đại cương kinh điển Nam
Tông như sau :

I.- Luật Tạng :

Gồm có giới luật, nghi lễ, hành xử cho Nam, Nữ tu sĩ, chia
làm 5 bộ:

  1. Ba La Di
  2. Ba Dật Ðề
  3. Ðại Phẩm
  4. Tiểu Phẩm
  5. Toát yếu

II.- Kinh Tạng :

Ghi những lời của Phật hay đệ tử Phật giảng dạy, được
chia ra làm 5 bộ gọi là Ngũ Bộ Kinh :

  1. Trường Bộ
  2. Trung Bộ
  3. Tương Ưng Bộ
  4. Tăng Chi Bộ
  5. Tiểu Bộ

Tiểu Bộ không phải là bộ kinh nhỏ hay ngắn, mà chính ra
nó là tập họp 15 bộ sách nhỏ :

a- Tiểu Tụng
b- Pháp Cú
c- Phật Tự Thuyết
d- Như Thị Ngữ
e- Kinh Tập
f- Thiên Cung Sự
g- Ngạ Quỹ Sự
h- Trưởng Lão Tăng Kệ
i- Bổn Sanh
j- Nghĩa Thích
k- Vô Ngại Giải Ðạo
l- Thí dụ
m- Phật sử
n- Sở hành tạng

III.- Luận Tạng, còn gọi là Thắng Pháp Tạng hay Vi
Diệu Pháp

Nội dung luận giải những lời Phật dạy, hệ thống hóa
những lời dạy ấy thành cơ sở triết học . . . gồm có 7 quyển :

  1. Pháp Tụ
  2. Phân Biệt
  3. Giới Thuyết
  4. Nhân Thi Thiết
  5. Biện Giải
  6. Song Luận
  7. Nhân duyên Thuyết

Ngoài ra còn một số tác phẩm quan trọng khác, cũng được
xem như thánh điển Nam Tông, được lưu truyền cho đến nay như :

  • Ðảo sử
  • Ðại Sử
  • Tiểu Sử
  • Mi Lan Ðà Vấn Ðạo (Kinh Na Tiên)
  • Thanh Tịnh Ðạo Luận
  • Thắng Pháp Tập Yếu Luận

Kinh điển Bắc Tông, nguyên bản chữ Sanscrit ngày nay phần
nhiều không còn, hầu hết là những bản Hán dịch của Thánh Tăng Ấn
Ðộ hay 675 bộ kinh điển Trần Huyền Trang mang từ Ấn Ðộ về
dịch sang chữ Hán. Chia ra như sau :

I.- Tạng Luật

  1. Thập Tụng Luật
  2. Tứ Phận Luật
  3. Ma Ha Tăng Kỳ Luật
  4. Ngũ Phận Luật
  5. Tỳ Nại Da

II.- Tạng Kinh :

  1. Trường A Hàm
  2. Trung A Hàm
  3. Tạp A Hàm
  4. Tăng Nhứt A Hàm

III.- Tạng A Tỳ Ðàm

  1. Phát Trí Luận của Ca Ða Diễn Ni Tử, được xem như là cái thân, có 6 chân
    là :
  2. Tập Dị Môn Túc Luận (tương truyền của Xá Lợi Phất sáng tác)
  3. Pháp Uẩn Túc Luận (tương truyền của Mục Kiền Liên sáng tác)
  4. Thi Thiết Túc Luận của Ca Chiên Diên
  5. Thức Thân Luận của Ðề Bà Thiết Ma
  6. Phẩm Loại Túc Luận của Thế Hữu
  7. Giới Thân Túc Luận cũng của Thế Hữu

Tạng A Tỳ Ðàm diễn đạt rất trung thực với những lời Phật
dạy trong các kinh.

IV.- Tạng Khuất Già Ðà ( Ðôi khi xếp chung với Tạng Kinh
gọi là Ngũ A Hàm )

  1. Khế Kinh
  2. Ứng tụng
  3. Cô khởi
  4. Nhân duyên
  5. Bản sự
  6. Bản Sanh
  7. Vị Tăng Hữu
  8. Thí dụ
  9. Luận Nghị
  10. Tự Thuyết
  11. Phương quảng hay Tỳ Phật Lược
  12. Thọ Ký

Phần trên là những kinh điển Nam Tông và Bắc Tông có
gần giống nhau, ngoài ra Bắc Tông là Phật Giáo phát triển nên có thêm
những bộ kinh khác, loại không rõ phương danh Thánh tăng có:

V.- Bát Nhã Bộ: ( Riêng bộ nầy nguyên bản Sancrit còn khá
đầy đủ )

  1. Ðại Bát Nhã Sơ Phận
  2. Ðại Phẩm Bát Nhã
  3. Tiểu Phẩm Bát Nhã
  4. Văn Thù Bát Nhã
  5. Thắng Thiên Vương Bát Nhã
  6. Lý Thú Bát Nhã
  7. Kim Cương Bát Nhã
  8. Bát Nhã Tâm Kinh

VI.- Hoa Nghiêm Bộ:

  1. Thập Ðịa Phẩm
  2. Hành Nguyện Phẩm tức Tứ Thập Hoa Nghiêm
  3. Phổ Hiền Hạnh Nguyện Tán

VII.- Phương Quảng Bộ:

  1. Pháp Hoa Kinh
  2. A Di Ðà Kinh
  3. Bi Hoa Kinh
  4. Kim Quang Minh Kinh
  5. Nguyệt Ðăng Tam Muội Kinh
  6. Soạn Tập Bách Duyên Kinh
  7. Phật Bản Hạnh Tập Kinh Dị Bản
  8. Duy Ma Kinh
  9. Các kinh đã được sáng tác trong thời đại Long Thọ,
    khoảng thế kỷ thứ III :

  10. Thắng Man Kinh
  11. Ðại Niết Bàn Kinh
  12. Giải Thâm Mật Kinh
  13. Kinh Lăng Già

VIII.- Bảo Tích Bộ

  1. Hộ Quốc Tôn Giả Sở Vấn Kinh
  2. Ðại Ca Diếp Hội.
  3. Vô Lượng Thọ Hội tức Vô Lượng Thọ Kinh

IX.- Bí Mật Bộ

  1. Vô Lượng Thọ Quyết Ðịnh Quang Minh Vương Ðà La Ni
  2. Tán Dương Thánh Ðức Ða La Bồ Tát Nhất Bách Bát Danh Kinh
  3. Kim Cương Thủ Bồ Tát Hàng Phục Nhất Thiết Bộ Ða Ðại Giáo Vương Kinh
  4. Vô Năng Thắng Phan Vương Như Lai Trang Nghiêm Ðà La Ni Kinh
  5. Thánh Cứu Ðộ Phật Mẫu Nhị Thật Nhất Chủng Lễ Tán Kinh
  6. Thánh Diệu Mẫu Ðà La Ni Kinh
  7. Ðại Bi Không Trí Kim Cương Ðại Giáo Vương Nghi Quỹ Kinh
  8. Ðại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương Kinh
  9. Phật Mẫu Ðại Khổng Tước Vương Kinh
  10. Ðại Văn Thỉnh Vũ Kinh
  11. Ðại Tùy Cầu Ðà La Ni Kinh
  12. Ðại Bạch Tản Cái Ðà La Ni Kinh
  13. Thủ Hộ Ðại Thiên Quốc Ðộ Kinh
  14. Ðại Hàn Lâm Thánh Nan Noa Ðà La Ni Kinh
  15. Ðại Hộ Minh Ðà La Ni Kinh
  16. Ma Lị Chi Thiên Ðà La Ni Kinh
  17. Văn Thù Sở Thuyết Tối Thắng Danh Nghĩa Kinh
  18. Bát Lan Sa Phược La Ðà La Ni Kinh
  19. Nhất Thiết Như Lai Tam Nghiệp Tối Thượng Bí Mật Ðại Giáo Vương
    Kinh
  20. Nhất Thiết Như Lai Ô Cầm Nhị Sa Tối Thắng Tổng Trì Kinh
  21. Hoại Tướng Kim Cương Ðà La Ni Kinh
  22. Trì Thế Ðà La Ni Kinh
  23. Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội Kinh

X.- Sáng tác của các Thánh Tăng khác :


1. Na Tiên (xuất hiện cuối thế kỷ thứ II trước
công nguyên)


2.- Thế Hữu, ở đầu thế kỷ thứ II, người
nước Gandhàra, thượng thủ kỳ kiết tập kinh điển lần thứ IV.

  • Di Bộ Tôn Luận
  • Tôn Bà Tu Mật Bồ Tát Sở Tập Luận


3.- Mã Minh, ngài sanh ở vùng sông Hằng, khoảng hậu bán
thế kỷ thứ II.

  • Phật Sở Hạnh Tán
  • Ðại Trang Nghiêm Luận Kinh
  • Thập Bất Thiện Nghiệp Ðạo Kinh
  • Lục Thú Luân Hồi Kinh
  • Sự Sư Pháp Ngũ Thập Tụng
  • Ni Kiền Tử Vấn Vô Ngã Nghĩa Kinh
  • Ðại Tôn Ðịa Huyền Văn Bản Luận
  • Ðại Thừa Khởi Tín Luận


4.- Long Thọ,
ngài sanh khoảng đầu thế kỷ thứ
III, ngườ Nam Ấn, dòng dõi Bà La Môn.

  • Trung Quán Luận
  • Thập Nhị Môn Luận
  • Ðại Trí Ðộ Luận
  • Thập Trụ Tỳ Bà Sa Luận
  • Thập Bát Không Luận
  • Ðại Thừa Phá Hữu Luận
  • Bồ Ðề Tư Lương Luận
  • Bồ Ðề Tâm Ly Tướng Luận
  • Hối Tránh Luận
  • Phương Tiện Tâm Luận
  • Khuyến Phát Chư Vương Yếu Kệ
  • Tán Pháp Giới Tụng
  • Quảng Ðại Phát Nguyện Tụng

5.- Ðề Bà cũng gọi là Thánh Thiên, sinh cuối
thế kỷ thứ III, người Nam Ấn.

  • Bách Luận
  • Bách Tự Luận
  • Quảng Bách Luận


6.- La Hầu La Bạt Ðà La (Ràhula-bhadra), người Trung Ấn
sinh khoảng cuối thế kỷ thứ III, ngài truyền bá giáo lý Ðại
Thừa vùng Trung Ấn.

  • (Sách của ngài chú thích Trung Quán Luận của Long Thọ nhưng đã thất
    truyền)


7.- Trước tác của Ngài Di Lặc
(do Vô Trước ghi chép lại)
:

  • Du Già Sư Ðịa Luận
  • Ðại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận
  • Thập Ðịa Kinh Luận
  • Trung Biên Phân Biệt Luận

8.- Vô Trước, sinh ở cuối thế kỷ thứ IV thuộc
nước Gandhàra, Bắc Ấn, dòng dõi Bà La Môn. Có hai em là Thế Thân và
Lân Trì Tử, cả ba cùng xuất gia đầu Phật.

– Hoa Nghiêm Kinh

  • Hiển Dương Thánh Giáo Luận
  • Nhiếp Ðại Thừa Luận
  • Ðại Thừa A Tỳ Ðạt Ma Tạp Luận
  • Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Ða Tâm Luận
  • Thuận Trung Luận


9.- Thế Thân, sinh sau Vô Trước chừng 20 năm vào cuối
thế kỷ thứ IV, xuất gia theo hệ thống Hữu Bộ ( Thượng Tọa Bộ),
sau nghe lời khuyên của Vô trước, chuyển sang Ðại Chúng Bộ. Tương
truyền ngài là luận chủ của một ngàn bộ luận, đã được dịch sang Hán
văn :

  • A Tỳ Ðạt Ma Câu Xá Luận (Hữu bộ)
  • A Tỳ Ðạt Ma Câu Xá Bản Tụng (Hữu bộ)
  • Duy Thức Tam Thập Luận Tụng
  • Duy Thức Nhị Thập Luận
  • Ðại Thừa Bách Pháp Minh Môn Luận
  • Ðại Thừa Ngũ Uẩn Luận
  • Phật Tính Luận
  • Nhiếp Ðại Thừa Luận Thích
  • Thập Ðịa Kinh Luận
  • Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Ưu Ba Ðề Xá
  • Vô Lượng Thọ Kinh Ưu Ba Ðề Xá
  • Chuyển Pháp Luân Kinh Ưu Ba Ðề Xá
  • Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Ða Kinh Luận
  • Lục Môn Giáo Thụ Tập Ðịnh Luận


10.- Trần Na, sinh vào cuối thế kỷ thứ V, ở nước
Dràvida, Nam Ấn, lúc đầu ngài học giáo lý Thượng Tọa Bộ, sau
chuyển sang Ðại Chúng Bộ nên thông hiểu giáo nghĩa cả hai, ngài nhận
thấy Nhân Minh học lúc ấy còn phức tạp, nên đã hoàn chỉnh thành hệ
thống mới gọi là “Tân Nhân Minh”, sáng tác của
Ngài gồm có :

  • Nhân Minh Chỉnh Lý Môn Luận Bản
  • Quán Sở Duyên Duyên Luận
  • Vô Tướng Tư Trần Luận
  • Thủ Nhân Giả Thiết Luận
  • Quán Tổng Tướng Luận Tụng
  • Chưởng Trung Luận


11.- Thanh Biện, sanh khoảng tiền bán thế kỷ
thứ VI, người Trung Ấn, lúc đầu theo học phái Số Luận, sau theo Phật
giáo, chịu ảnh hưởng Long Thọ và Dề Bà, sáng tác của ngài có:

  • Ðại Thừa Chưởng Trân Luận
  • Bát Nhã Ðăng Luận Thích


12.- Hộ Pháp, sinh khoảng thế kỷ thứ VII, người
nước Dràvida, ông mất lúc 32 tuổi, thầy của Giới Hiền, trước tác ngài
gồm có :

  • Thành Duy Thức Luận
  • Thành Duy Thức Bảo Sinh Luận
  • Quán Sở Duyên Duyên Luận Thích
  • Ðại Thừa Quảng Bách Luận

Nói đến Kinh điển Nam Tông, người ta nghĩ ngay
đến kinh điển Pali, chẳng những kinh điển Pali lưu truyền trong
các nước Tích Lan, Miến Ðiện, Thái Lan, Campuchea mà đã lan truyền
sang các nước Tây phương trên 100 năm qua, đó là nhờ có Hiệp Hội Thánh
Ðiển Pali (Pàli Text Society) do Tiến sĩ T.W. Rhys Davids (1843-1922) người
Anh đã khởi xướng thành lập Hiệp Hội nầy từ năm 1881, trụ sở đặt tại
Luân Ðôn, đến nay Hiệp Hội vẫn còn hoạt động và đã dịch trên 100
quyển kinh điển Pali ra Anh ngữ.

Còn nói đến kinh điển Bắc Tông, các kinh điển
Sanscrit đã được nhiều dịch giả như Cưu Ma La Thập, Huyền Trang…
dịch sang Hán văn hầu hết các kinh điển nêu phần trên, từ trước
đến nay đã có nhiều bộ sưu tập như sau :

I.- Bộ 1 (chép tay) sưu tập từ thời Lương Võ Ðế, các
kinh điển dịch ra Hán văn có tại Trung quốc từ năm 67 đến năm 517.

II.- Bộ 2 (chép tay) sưu tập dưới thời vua Hiếu Võ nhà
Nguyên Ngụy, gồm các kinh điển đến năm 533-534.

III.- Bộ 3 (chép tay) sưu tập tới năm 594, dưới thời Tùy Văn
Ðế.

IV.- Bộ 4 (chép tay) sưu tập đến năm 602, dưới thời Tùy
Văn Ðế, gồm 2109 bộ, thành 5058 quyển.

V.- Bộ 5 (chép tay) sưu tập đến năm 616 dưới thời Tùy
Văn Ðế.

VI.- Năm 644, dưới thời nhà Ðường, lập xong thư tịch của
2847 bộ, thành 8476 quyển kinh đã phiên dịch xong, trong số có 650 bộ do
Ngài Huyền Trang thĩnh từ Ấn Ðộ về.

VII.- Bộ 6 (chép tay) hoàn tất năm 695, dưới thời Võ Hậu gồm
3616 bộ, thành 8641 quyển.

VIII.- Bộ 7 (chép tay) hoàn tất năm 730, dưới thời Ðường
Huyền Tôn.

IX.- Bộ 8 (in bằng gỗ) hoàn tất năm 972, dưới thời Tống
Thái Tổ. Phải khắc 130 ngàn bản gỗ mới in xong bộ Tam Tạng nầy, năm 995,
Phật giáo Trung Hoa có cho Cao Ly ( Ðại Hàn) thỉnh một bộ Tam Tạng của bản in
nầy. Phật giáo Cao Ly khắc và in lại thành bộ Cao Ly bổn.

X.- Bộ 9 (in) năm 1285-1287 dưới thời Thế Tôn nhà Nguyên.

XI.- Năm 1306, hoàn tất thư tịch kinh điển (đã soạn từ
đời Tống cho đến đời Nguyên mới xong).

XII.- Bộ 10 (in) năm 1368-1398, dưới thời Minh Thái Tổ, bộ Tam
Tạng nầy được gọi là Ðại Minh Nam Kinh Ðại Tạng Kinh, vì đã được in
tại Nam kinh (Nankin)

XIII.- Bộ 11 (in) năm 1403-1424, dưới thời Minh Thành Tổ. Bộ
Tam Tạng nầy được gọi là Ðại Minh Bắc Kinh Ðại Tạng Kinh, vì được in
tại Bắc kinh (Pékin).

XIV.- Ngài Pháp sư Mật Tạng hổn hợp hai bộ trên thành một
và lập thư tịch.

XV.- Bộ 12 (in) năm 1735-1737 dưới thời vua Thế Tôn và Cao
Tôn đời nhà Thanh.

XVI.- Bộ 13 (in) năm 1911, Tinh Xá Tần Già ở Thượng Hải in
lại bộ Súc Loát Tạng Kinh của Nhật Bản gọi là Tần Già Bản.

XVII.- Bộ 14 (in) Thương vụ ấn quán in lại Tục Tạng Kinh của
Nhật Bản.

XVIII.- Bộ 15 (in) khoảng từ năm 1931-1936, có in lại Tống bản
Tích Sa tạng kinh và Kim bản Ðại Tạng Kinh, là những sự nghiệp vĩ đại
của Phật giáo Trung Quốc, được mệnh danh là Tống Tạng Di Trân.

Về sau nầy, chắc chắn còn có lần in thêm Ðại Tạng Kinh,
nhưng bài nầy chưa có đủ tài liệu để tham khảo.

Ngoài Hán Tạng ra, kinh điển Sanscrit được Tây Tạng dịch
trực tiếp từ nguyên bản rất tinh tường và chính xác, gọi là Tây
Tạng Phật điển, chia làm 2 phần, một phần gọi là Cam Thù (Kanjur) và
một phần gọi là Ðan Thù (Tanjur), cả hai gồm đủ Kinh, Luật và Luận, phân
chia như sau:

I. Cam Thù:

  1. Luật Bộ
  2. Bát Nhã Bộ
  3. Hoa Nghiêm Bộ
  4. Bảo Tích Bộ
  5. Kinh Tập (hơn 200 bộ)
  6. Ðại Niết Bàn
  7. Bí Mật Bộ

II. Ðan Thù :

  1. Tán Ca Tập (gồm 58 bộ)
  2. Bí Mật Nghi Quỹ (hơn 2600 bộ)
  3. Luận Thích Tập ( rất quan trọng vì có nhiều sớ thích kinh điển,
    các môn học khác như Nhân Minh, Văn pháp, Âm nhạc, Toán số …

Ở Việt Nam, từ trước kinh điển dùng chữ Hán, vào
những thập niên 30 trở đi mới phiên âm chữ Việt, từ thập niên 50 trở đi
mới dịch kinh sang chữ Việt, những dịch giả tên tuổi như Ðoàn Trung Còn,
Thích Thiện Hoa, Thích Trí Tịnh, Thích Thiện Siêu, Thích Minh Châu,
Thích Thanh Từ …

I. Luật :

  1. Luật Sa Di và Sa Di Ni
  2. Luật Sa Di Giải

II. Kinh :

  • Trường A hàm (2 quyển)
  • Trung A Hàm (4 quyển)
  • Tạp A Hàm (4 quyển)
  • Tăng Nhứt A Hàm (3 quyển)
  • Trường Bộ Kinh (2 quyển)
  • Trung Bộ Kinh (3 quyển)
  • Tương Ưng Bộ Kinh (5 quyển)
  • Tăng Chi Bộ Kinh (4 quyển)
  • Ðại Bát Niết Bàn
  • Hoa Nghiêm
  • Pháp Hoa
  • Thủ Lăng Nghiêm
  • Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh
  • Bảo Tích
  • Vị Tằng Hữu
  • Giải Thâm Mật
  • Kinh Hiền Ngu

III. Luận :

  • Luận Nhiếp Ðại Thừa
  • Luận Thành Duy Thức
  • Luận Ðại Trí Ðộ
  • Luận Ðại Thừa Khởi Tín
  • Ðại Thừa Phật Giáo Tư Tưởng Luận
  • Ðại trí Ðộ Luận
  • Trung Quán Luận

Bảng kê trên đây còn thiếu sót nhiều, nhưng những
kinh quan trọng đều đã được dịch, Tiểu Bộ gồm 15 quyển trong
Ngũ Bộ Kinh cũng đã được dịch xong, cuối năm 1999 đã in các tập 1, 2, 3.
Kết quả dịch kinh, cho thấy từ trước tuy chưa có tổ chức, nhưng công
việc dịch kinh ra Việt Ngữ được chư Tăng, cư sĩ dịch khá nhiều,
khá đầy đủ.

Theo trào lưu phát triển khoa học, Ðại Tạng Kinh Pali
ở Tích Lan, Thái Lan đã đưa vào CD Rom, Hán Tạng cũng được một hãng
điện tử Nhật tài trợ đưa vào CD Rom.

Theo ngài Phật Âm (hay Phật Minh), có 7 cách phân loại thánh
điển :

1. Hương vị : Trong Tăng Nhứt Bộ Kinh, Trung A Hàm, Tăng Nhứt
A Hàm đều có ghi chép lời Phật dạy sau đây:
“Giống như
nước biển chỉ có một vị mặn, giáo pháp và giới luật của Phật cũng chỉ
có một hương vị duy nhất, đó là hương vị giải thoát.”

2. Pháp và Luật: Những lời Phật dạy gồm có giáo lý
gọi là Pháp, và những phép tắc hành trì mà người tu phải tuân thủ
gọi là Luật.

3. Ba phần pháp âm : Những lời Phật dạy gồm có 3 phần : đầu
giữa và cuối có ghi trong các kinh: Trường bộ, Trung bộ, Tương Ưng bộ, Tăng
Nhứt bộ và trong tạng Luật như sau : Pháp Phật giảng dạy thuần
thiện cả phần mở đầu, phần giữa lẫn phần cuối. Pháp ấy tốt đẹp cả
ý nghĩa lẫn lời văn. Toàn bộ pháp âm đều đồng nhất, viên mãn và
trong suốt, thể hiện trọn vẹn phạm hạnh thanh tịnh.”


4. Năm Bộ Kinh. Theo bi ký ở Sanci và Bharhut thì Năm Bộ
Kinh là chỉ cho toàn bộ những lời Phật dạy, nhưng theo ngài Phật Âm, Năm Bộ
Kinh là Trường Bộ, Trung Bộ, Tương Ưng Bộ, Tăng Nhứt Bộ và Tạp Bộ, trong
Tạp Bộ gồm cả Tiểu Bộ, tạng Luật và A Tỳ Ðàm.

5. Chín Bộ Loại : Giáo điển Nam Phương chia thành chín
bộ loại là :

  • Khế kinh
  • Ưng Tụng hay Trùng Tụng
  • Cô Khởi
  • Tự Thuyết
  • Bản Sự
  • Bản Sanh
  • Vị Tằng Hữu
  • Vệ Ðà La
  • Vê Da

6. 84,000 Pháp Uẩn

Có nhiều vị cao tăng cho rằng phiền não của chúng sanh
có đến 84 ngàn phương cách cho nên Phật dạy 84 ngàn pháp môn để
đối trị. Ðây chỉ là ước lệ mà thôi, bởi vì Phật thuyết pháp trong
45 năm, vị chi có 16,436 ngày chẳng lẽ mỗi ngày Phật phải dạy trên 5 pháp
môn để đối trị với phiền não ?

7. Tam Tạng, có nghĩa là 3 cái kho chứa, đó là Kinh, Luật và
Luận, Phật chỉ thuyết Kinh và Luật còn Luận do các Thánh Tăng hệ
thống hóa thành cơ sở triết lý và nó chỉ bắt đầu hình thành trong
kỳ Kiết Tập lần thứ ba với tác phẩm “Thuyết Sự ” do ngài Ðế Tử Tu trước tác.

Theo ngài Trí Khải thuộc Thiên Thai Tông ở Trung Hoa, ngài chia
Kinh điển Phật thuyết ra làm 5 thời :

Thời thứ nhất : Sau khi Phật đắc đạo ngồi lại dưới gốc
cây Bồ Ðề giảng kinh Hoa Nghiêm cho chư thiên nghe.

Thời kỳ thứ hai: Thấy lời nói của mình khôn ai hiểu,
Phật đến Vườn Nai, giảng Tứ Diệu Ðế và Thập Nhị Nhân Duyên cho
nhóm ông Kiều Trần Như nghe, những lời Phật giảng trong thời gian nầy
được ghi vào kinh A Hàm, nên gọi là thời A Hàm, kéo dài 12 năm.

Thời kỳ thứ ba : Giáo lý của Phật đã lan rộng trong dân
gian, bị ngoại đạo và các phái triết học khác công kích, nên Phật
giảng dạy cho đệ tử các giảng minh giải đáp được ghi trong kinh Duy Ma,
Ðại Tập, thời kỳ nầy kéo dài trong 8 năm, gọi là thời Phương Ðẳng.

Thời thứ tư : Do các phái triết học và ngoại đạo
công kích với những triết thuyết cao siêu, nên Phật phải giảng về
những nguyên lý cùng tột của vũ trụ, đó là thời kỳ kinh Bát Nhã, kéo
dài trong 22 năm.

Thời kỳ thứ năm : Phật giáo đã vượt lên các học
thuyết đương thời, bấy giờ Phật đem lý tưởng Bồ Tát đạo và Nhất
Thừa Phật Giáo giảng cho đệ tử, thời kỳ nầy là thời Pháp Hoa, kéo dài
trong 8 năm và cuối cùng Phật thuyết về Niết Bàn trước khi tịch
diệt.

Từ thế kỷ thứ VIII quân Hồi luôn xâm chiếm Ấn
Ðộ, đốt phá chùa chiền, hảm hại Tăng, Ni, cho đến năm 1203, quân
Hồi đem quân đánh chiếm Ấn Ðộ lần cuối cùng, hoàn tất cuộc xâm
lăng đất Ấn, đạo Phật bị diệt vong ngay quê hương của Ðức Phật, do
vậy mà không còn những Thánh Tăng sáng tác kinh, luận để truyền bá
Phật Giáo, chẳng những thế mà Tam Tạng kinh điển ghi chép bằng Sanscrit
hầu hết đều không còn.

Liệt kê những Kinh Sách nêu trên, để thấy Kinh
điển nguyên thủy Nam Tông và Bắc Tông không sai khác nhiều, chỉ có
những kinh điển do Thánh Tăng Ấn Ðộ sáng tác mang lại cho Phật Giáo
Bắc Tông nhiều kinh điển hơn. chung quy vì lợi ích chúng sinh, đề
cao lý tưởng Bồ Tát Ðạo và quy nguyên Nhất Thừa Phật Giáo.

Có một điều quan trọng, xin nhắc lại lời Phật dạy
trong kinh Kim Cang : “Tu Bồ Ðề ! Ông đừng cho là Như Lai nghĩ
như vầy: Ta Có Thuyết Pháp. Tại sao vậy ? Nếu người ta nói : Như Lai
có thuyết pháp, tức là phỉ báng Phật, vì không thể hiểu nổi lời
ta nói. Tu Bồ Ðề ! Thuyết pháp là không có pháp chi để
thuyết. Tạm gọi là thuyết pháp.”

Và trong Kinh Lăng Già Tâm Ấn Phật dạy : Thế nên
nói rằng : “Ta từ đêm ấy được tối chánh giác, cho đến đêm
ấy vào niết bàn, ở trong khoảng giữa không nói một chữ, cũng chẳng đã
nói, sẽ nói”.

Sách tham khảo :

HT
Thích Thanh Kiểm Lịch Sử Phật Giáo Ấn Ðộ ,Vạn Hạnh, Sàigòn,
Việt Nam, 1963
HT Thích Thanh Từ
Kinh Lăng
Già Tâm Ấn,
Tu Viện Chơn Không, Việt Nam, 1989
HT Thích Thiền Tâm
Phật
Học Tinh Yếu
, Việt Nam, 1999
Nguyễn Duy Cần
Phật Học Tinh Hoa, tái
bản lần I, Hồng Ân, Việt Nam, 1996
Cao Hữu Ðính Văn Học Sử Phật Giáo,
Tập 1, Hương Sen, Việt Nam, 1996
Nhiều tác giả
Phật Học Cơ Bản Việt Nam, 1999
Kinh Nhật Tụng,
Kinh Kim Cang, Việt Nam, 1992

Xem thêm: https://www.phaphay.com/phat-phap/

Nguồn: https://www.niemphat.vn/

Add Comment