Lục Độ Ba la mật – 5: Thiền định Ba la mật

Lục Độ Ba la mật - 5: Thiền định Ba la mật 1

Đ th năm: THIN ĐNH
BA LA M
T
DÀN BÀI
A.  MỞ ĐỀ:
Đạo Phật là Đạo Từ bi mà cũng là đạo trí huệ. Muốn có trí huệ, phải tu Thiền
định ba la mật.
B.  CHÁNH ĐỀ:
I.  Định nghĩa về Thiền định Ba la mật
II.  Các loại thiền định
1.  Thế gian thiền
2.  Xuất thế gian thiền
3.  Xuất thế gian thượng thượng thiền
III.  Công năng của Thiền định Ba la mật.
C.  KẾT LUẬN: Khuyên tu.


A.  MỞ ĐỀ:
Kẻ tu hành muốn đến bờ giải thoát hoàn toàn, cần phải tu cả phước lẫn huệ.
Trong bốn đọ trước của lục độ mà chúng ta đã học, chỉ nói về tu phước. Trong
hai độ cưối cùng là Thiền định và Trí huệ, chúng ta sẽ học về tu huệ.
Trước tiên, chúng ta hãy tìm hiểu tánh cách quan trọng và giá trị của Thiền
định.
B.  CHÁNH ĐỀ:
I.  ĐỊNH NGHĨA THIỀN ĐỊNH BA LA MẬT
Thiền định là gì? Thiền phiên âm theo tiếng Phạn là Thiền na, xưa dịch là
tư  duy, nay các học giả dịch là Tĩnh lự. Tu Tư duy có nghĩa là tu tập
bằng phương pháp suy nghiệm, nghiên tầm và suy cứu về những đối tượng của tâm
thức. Tĩnh lự có nghĩa là dùng tâm thể vắng lặng để thẩm sát các vấn đề đạo
pháp.
Còn chữ Định phiên âm theo tiếng Phạn là Tam muội (Samadhi), có nghĩa là tập
trung tâm lý vào một đối tượng duy nhất, không để cho tâm ý tán loạn. Hợp hai
chữ Thiền và Định lại, ta có một định nghĩa chung: Tập trung tâm ý vào một đối
tượng duy nhất không cho tán loạn, để tâm thể được vắng lặng và cho tâm dụng
được mạnh mẽ, hầu quan sát và suy nghiệm chân lý.
II.  CÁC LOẠI THIỀN ĐỊNH
Thiền định có thể gọi là một trạng  thái của tâm lý, trạng  thái ấy
gọi là trạng thái Tĩnh lự. Song ở Dục giới, tâm lý không thể có được trạng thái
ấy, vì nó chỉ phát hiện ở Sắc giới, và Vô sắc giới.  Rõ hơn nữa là Thiền
thuộc về Sắc giới và Đinh thuộc về Vô sắc giới. Ở mỗi giới, Thiền và Định đều
phân làm bốn cấp bực từ thấp lên cao, cho nên có danh từ là Tứ thiền và Tứ
định.
Tứ thiền và Tứ định này, tuy là kết qủa của công phu tu tập Thiền định, hay
gieo trồng thiện căn, nhưng cũng là chung cho cả Phật pháp, cả Thế gian pháp,cả
Thánh cả Phàm. Nói rõ hơn, là dù theo phương pháp Đạo Phật hay phương pháp nào,
nếu có đường lối, có công phu đều có thể đạt đến Tứ thiền và Tứ định; nhưng đây
cũng chỉ là thế gian pháp mà thôi.
Còn nói về pháp Định của chư Phật, Bồ Tát và A La Hán thì khác. Đó là Thiền
định thuộc Xuất thế gian pháp, không thể phát hiện trong phạm vi Dục giới, Sắc
giới và Vô sắc giới được. Muốn đạt đến trạng thái Tĩnh lực của các bậc ấy,
người ta phải đạt đến sự thoát ly tam giới. Còn lẩn quẩn trong tam giới thì tâm
ý chỉ có thể đạt đến Tứ định là cùng.
Muốn có được Tứ thiền và Tứ định, chỉ phải thoát ly và đoạn diệt phiền não ở
Dục giới. Nhưng nếu muốn đạt các pháp Định vô lậu, thì phải diệt trừ tất cả các
phiền não của Vô sắc giới.
Trước khi mong đến được Định vô lậu, phải cần đến Thiền, bởi vì Thiền là căn
bản của Định. Có được ngũ nhãn, lục thông cũng nhờ Thiền. Vả lại, Thiền có công
dụng thẩm sát, nghiên cứu. Nếu muốn quan niệm chân lý, tất phải nhờ đến Thiền
do đó Thiền là pháp tối yếu cho kẻ học đạo.
Đứng về phương diện các trình độ của Thiền, kinh sách có dạy như sau:
1.  Thế gian thiền.  Thiền này có hai loại: Căn bản vị thiền và Căn
bản tịnh thiền. Căn bản vị thiền gồm có mười hai phẩm, phân làm ba: Tứ thiền,
Tứ vô lượng và Tứ  không.
Người phàm chán cảnh tán loạn của Dục giới thì tu Tứ thiền. Người muốn phước
lớn thì tu Tứ vô lượng.  Kẻ nhàm chán cảnh sắc giới chật hẹp thì tu Tứ
không. Vì mười hai phẩm Thiền này có thể làm căn bản cho thiện pháp xuất thế
gian, nên gọi là căn bản Thiền. Với lại, an trú trong mười hai phẩm ấy, người tu
Thiền còn ưa thích cảm giác lạc thọ của Thiền, nên gọi là căn bản vị Thiền.
Căn bản tịnh thiền, phân làm hai: Lục diệu môn và Thập lục đắc thắng.  Ai
có huệ tánh nhiều thì tu Lục diệu môn, kẻ nào có định tánh nhiều thì tu Thập
lục đắc thắng. Những ai có huệ tánh và định tánh đều nhau thì có thể tu cả hai
loại. Vì người ta có thể căn cứ vào pháp Thiền này để phát sinh vô lậu trí,
không phải chỉ thuần hữu lậu, như ở Căn bản vị thiền, nên gọi là căn bản tịnh
thiền.
Tuy nhiên, cả hai loại đều chỉ là thế gian thiền mà thôi, vì trước thời Phật
giáng thế, phép Thiền này đã có.
2.  Xuất thế gian thiền.  Pháp thiền này làcủa bậc xuất thế. Có bốn
thứ Thiền  quán: Cửu tướng quán, Bát bối xả quán, Bát thắng xứ quán và
Thập nhất thiết xứ quán. Tu bốn thiền quán này, tuy là lấy các pháp hữu vi làm
đối tượng suy nghiệm, nhưng có thể đi đến kết quả ly dục, phát sinh vô lậu trí,
nên gọi là Xuất thế gian thiền.
3.  Xuất thế gian thượng thượng thiền.
  Đây là pháp Thiền cao tột của các bậc đại nhân. Kinh Địa trì có giải về
chín môn đại thiền này như sau:
  Một là “Tự tánh thiền”, nghĩa là quán sát thật tướng của tự
tâm, không cần lấy đối tượng ngoại cảnh.
  Hai là “Nhất thiết thiền”, có công năng tự hành và hóa tha.
  Ba là “Nan thiền”, môn Thiền gian nan, thâm diệu, khó tu.
  Bốn là “Nhất thiết môn thiền”, có nghĩa là tất cả các pháp
Thiền định đều do môn (cửa) này mà phát xuất.
  Năm là “Thiện nhân thiền”, môn Thiền của những chúng sanh có
đại thiện căn cùng tu.
  Sáu là “Nhất thiết hạnh thiền”, bao nhiếp tất cả hạnh pháp của
Đại Thừa.
  Bảy là “Trừ não thiền”, có năng lực trừ diệt phiền não, khổ
đau cho chúng sinh.
  Tám là “Thử thế tha thế lạc thiền”, có năng lực làm cho chúng
sinh an lạc trong hiện tại và tương lai.
  Chín là “Thanh tịnh tịnh thiền”, có năng lực đoạn trừ hoàn
toàn các hoặc nghiệp, và chứng được Tịnh báo đại Bố đề. Đến môn Thiền này, tâm
ý hoàn toàn thanh tịnh và lại cũng không còn thấy cái tướng thanh tịnh ấy nữa,
nên gọi là Tịnh báo.
III.  CÔNG NĂNG CỦA THIỀN ĐỊNH
Theo Bồ Tát hạnh, có thể tu tập Thiền định và đạt đến mười kết quả tốt đẹp sau
đây:
  Một là được an trụ trong pháp thức uy nghi. Tu Thiền định phải theo pháp
thức mà hành trì, như vậy trải qua một thời gian khá lâu, thì ngũ căn được tịch
tịnh, chánh định phát khởi, không cần có sự cố gắng mà vẫn được an trụ trong
pháp thức oai nghi.
  Hai là được thực hành cảnh giới từ bi. Khi tu Thiền định, thì giữ được
tâm từ bi, thương yêu chúng sinh, muốn cho tất cả được an ổn.
  Ba là không còn phiền não. Nhờ năng lực Thiền định mà các phiền não
tham, sân, si, không còn phát sinh nữa.
  Bốn là gìn giữ được các giác quan. Không cho sắc, thanh, hương, vị, xúc
lay động.
  Năm là vui vẻ lạc thú. Xem Thiền định là một món ăn ngon lành hơn tất cả
các món ăn khác trong thế gian.
  Sáu là xa lìa được ái dục. Một khi tâm niệm đã lắng yên, ái dục không
còn phát sinh và làm nhiễm trước được nữa.
  Bảy là tuy chứng được chân không, nhưng không bao giờ bị rơi vào chỗ
chấp đoạn diệt hư vô.
  Tám là cởi mở được tất cả những dây trói buộc sự giải thoát.
  Chín là khai phát được trí huệ vô lượng và an trú trong cảnh giới của
chư Phật.
  Mười là đạt đến sự giải thoát thành thục, đến chỗ mà tất cả hoặc nghiệp
không còn nhiễu lại được nữa.
C.  KÉT LUẬN:
Chúng ta có thể tóm tắt thành quả tốt đẹp của Thiền định như sau:
Ngũ căn được tự tại, phiền não được dứt trừ ,từ bi được mở rộng, trí huệ được
phát chiếu, cảnh giới giải thoát được phô bày ra trước mắt. Một pháp môn có công
năng quí báu, có diệu dụng phi thường như thế, làm sao chúng ta có thể bỏ qua
được?
Mong rằng vì lợi ích thiết thực nói trên, quí vị Phật tử  hãy gắng công tu
tập pháp môn Thiền định này cho chóng có kết quả.

 

 

Xem thêm: https://www.phaphay.com/phat-phap/

Nguồn: https://www.niemphat.vn/

Add Comment