Lược giải những pháp số căn bản: Những số khác

Lược giải những pháp số căn bản: Những số khác 1

 NHỮNG

SỐ KHÁC

 

 

 

 

12 BỘ KINH (thập nhị bộ kinh)

12 bộ kinh tức
là 12 thể loại của toàn bộ kinh điển Phật dạy:

1. Khế kinh
(trường hàng):
những lời dạy của
đức Phật bằng văn xuôi, thường được gọi tổng quát là “kinh”.

2. Ứng tụng
(trùng tụng):
những bài kệ tụng
(hình thức thơ cổ) dùng để tóm tắt ý nghĩa của khế kinh, cho nên thường đặt ở
sau và luôn luôn tương ứng với phần khế kinh.

3. Kí biệt (thọ
kí):
lời Phật thọ kí cho chúng đệ
tử sẽ chứng quả vào đời vị lai.

4. Phúng tụng
(cô khởi):
một bài kinh Phật dạy
toàn dùng kệ tụng để diễn đạt, nhưng không phải là những bài kệ tụng tóm tắt
kinh văn “trường hàng” như thể loại “trùng tụng” (số 2 ở trên).

5. Tự thuyết: Phật tự mở lời khai thị mà không đợi có người thỉnh cầu
chỉ dạy.

6. Nhân duyên: nêu lên cái nhân duyên đưa đến trường hợp thuyết giáo
của Phật – thường là phẩm “tựa” ở đầu mỗi bộ kinh.

7. Thí dụ: những ví dụ Phật đưa ra trong lúc giảng thuyết để
giúp thính chúng hiểu ý kinh dễ dàng hơn.

8. Bản sinh: các kiếp tu hành đời trước của Phật do chính Ngài thuật
lại.

9. Bản sự: những hành vi cùng phẩm hạnh của các vị Bồ-tát và
thánh chúng đệ tử trong các kiếp trước do chính đức Phật thuật lại.

10. Phương quảng: kinh điển Phật nói có văn từ phong phú, giáo nghĩa
sâu xa rộng lớn; đặc biệt chỉ cho toàn thể kinh điển đại thừa.

11. Hi pháp (vị
tằng hữu):
những sự việc ít có của
Phật và chư vị đệ tử được ghi chép trong kinh.

12. Luận nghị: những lời nghị luận rành mạch, rõ ràng của đức Phật
nhằm giúp thính chúng hiểu rõ về thể tánh của vạn pháp.

 

12 ĐỨC SÁNG (thập
nhị quang)

Ánh
sáng của đức Phật A Di Đà được xưng tán có 12 đức tính:

1. Vô lượng
quang:
ánh sáng của đức Phật A Di
Đà thật bao la, không thể lường được.

2. Vô biên
quang:
ánh sáng của đức Phật A Di
Đà chiếu tỏa cùng khắp, tất cả chúng sinh dù có duyên hay không có duyên, đều được
soi tỏ.

3. Vô ngại
quang:
bất cứ người nào hay sự vật  gì cũng không thể gây chướng ngại được ánh sáng
của Phật.

4. Vô đối
quang:
ánh sáng của chư vị đại Bồ-tát
cũng không bì kịp.

5. Diệm
vương quang:
ánh sáng của Phật rực rỡ không có gì sánh bằng.

6. Thanh tịnh
quang:
ánh sáng của Phật do từ
thiện căn không tham dục mà phát
sinh, có năng lực diệt trừ tâm tham dục của chúng sinh.

7. Hoan hỉ
quang:
ánh sáng của Phật do từ
thiện không sân hận mà phát sinh, có năng lực diệt trừ tâm sân hận của chúng
sinh.

8. Trí tuệ
quang:
ánh sáng của Phật do từ
thiện căn không si mê mà phát sinh, có năng lực diệt trừ tâm ngu si của chúng
sinh.

9. Bất đoạn
quang:
ánh sáng của Phật chiếu
soi thường hằng không dứt.

10. Nan tư
quang:
hàng Nhị-thừa không thể
suy lường cùng tận ánh sáng của Phật.

11. Vô xưng
quang:
các hàng Thanh-văn, Duyên-giác,
Bồ-tát không thể xưng tán cùng tận ánh sáng của Phật.

12. Siêu nhật
nguyệt quang:
ánh sáng của Phật
chiếu soi suốt cả ngày đêm, vượt quá ánh sáng mặt trời mặt trăng; nếu ai gặp được
ánh sáng ấy thì thân tâm nhu hòa, vui vẻ, phát khởi tâm lành; nếu chúng sinh ở
nơi địa ngục mà gặp được ánh sáng ấy thì sự thọ khổ ngưng lại, không còn chịu đau
khổ tiếp tục, cho đến khi mạng chung liền được giải thoát.

12 đức tính của ánh sáng được
xưng tán ở trên cũng là 12 danh hiệu của đức Phật A Di Đà: Vô Lượng Quang Phật; Vô Biên Quang Phật; Vô
Ngại Quang Phật; Vô Đối Quang Phật; Diệm Vương Quang Phật; Thanh Tịnh Quang Phật;
Hoan Hỉ Quang Phật; Trí Tuệ Quang Phật; Vô Xưng Quang Phật; Bất Đoạn Quang Phật;
Nan Tư Quang Phật; Vô Xưng Quang Phật;
Siêu Nhật Nguyệt Quang Phật.

 

12 HẠNH ĐẦU ĐÀ
(thập nhị đầu đà hạnh)

“Đầu đà”
tiếng dịch âm từ Phạn ngữ “dhuta”, có
nghĩa là trừ bỏ phiền não trần cấu. Đầu đà là một trong những phương pháp tu khổ
hạnh, cho nên cũng được gọi là “hạnh đầu
đà”,
cốt để tôi luyện thân tâm, bằng cách diệt trừ lòng tham trước đối với
ba vấn đề thiết yếu của đời sống hằng ngày là cơm nước, áo quần và chỗ ở. Chư vị
tì kheo thường tu tập hạnh đầu đà, cho nên cũng còn được gọi là chư vị “đầu
đà”. Trong sinh hoạt hằng ngày, người tu tập hạnh đầu đà phải chấp hành mười
hai điều qui định – được gọi là 12 hạnh
đầu đà
  như sau:

1. Tránh xa
chỗ đông đảo người đời, ở những nơi vắng vẻ, u tĩnh;

2. Ở giữa
bãi tha ma, những nơi mồ mả;

3. Nghỉ ở gốc
cây;

4. Ngồi ở những
nơi trống trải, lộ thiên;

5. Ngồi nhiều
nằm ít, hoặc chỉ ngồi suốt đêm mà không bao giờ nằm;

6. Thường đi
xin ăn;

7. Đi xin ăn
theo thứ lớp, lần lượt từ nhà này đến nhà khác, không phân biệt nhà giàu hay
nhà nghèo;

8. Chỉ ăn một
bữa mỗi ngày;

9. Ăn một bữa,
nhưng chỉ ăn những gì xin được trong bát; và chỉ ăn vừa đủ, không ăn quá mức;

10. Ăn một bữa,
vào buổi trưa, và sau bữa ăn đó thì không ăn một lần nào nữa; dù là nước gạo
cũng không uống;

11. Mặc áo bằng
những mảnh vải rách người ta bỏ đi, đem chắp vá lại;

12. Mỗi người
chỉ được có ba chiếc áo, không được có nhiều hơn.

 

12 KHU VỰC (thập
nhị nhập – thập nhị xứ)

Gồm chung sáu giác quan (lục căn)sáu đối tượng của
giác quan
(lục trần) thì chúng
ta có pháp số gọi là “12 khu vực”.
(Xin xem lại mục “Sáu Giác Quan, Sáu Đối Tượng của
Giác Quan và Sáu Thức” ở trước.)

 

12 NGUYỆN LỚN (thập
nhị đại nguyện)

Có 12 nguyện lớn của đức Phật
Dược Sư và 12 nguyện lớn của đức Bồ-tát Quán Thế Âm:

 A) 12 Nguyện Lớn của đức Phật Dược Sư (khi còn tu hạnh
Bồ-tát):

1. Nguyện
sau khi thành Phật, tự thân tôi sẽ có ánh sáng rực rỡ, chiếu tỏa khắp vô số thế
giới, và tôi sẽ dùng thân tướng trang nghiêm đó hóa độ chúng sinh, khiến cho tất
cả đều có được thân tướng trang nghiêm, sáng rỡ như chính thân tôi.

2. Nguyện
sau khi thành Phật, sắc thân tôi trong sáng như ngọc lưu li, uy đức bao la vòi
vọi, sáng soi khắp nơi, khiến cho chúng sinh tăm tối nhờ đó mà tỏ ngộ, tùy theo
ý chí mà tu tập các nghiệp lành.

3. Nguyện
sau khi thành Phật, tôi sẽ dùng phương tiện trí tuệ rộng lớn để cứu giúp chúng
sinh, những gì họ cần thiết đều có đầy đủ, không bị thiếu thốn, đau khổ.

4. Nguyện
sau khi thành Phật, nếu có chúng sinh nào lầm theo con đường bất chính, tôi sẽ
hóa độ cho được an trú trong đạo giác ngộ; nếu họ tự mãn với đạo quả tiểu thừa
thì tôi sẽ dùng giáo pháp đại thừa để hướng dẫn họ chứng đắc đạo quả đại giác
ngộ.

5. Nguyện
sau khi thành Phật, nếu có chúng sinh nào biết tu theo chánh đạo, tôi sẽ hộ trì
cho họ gìn giữ được giới hạnh thanh tịnh, đủ cả ba nhóm giới luật đại thừa (tam
tụ tịnh giới), không hề phạm lỗi. Nếu trót đã phạm lỗi, nghe đến danh hiệu tôi
thì liền được thanh tịnh, không bị đọa lạc vào vòng ác đạo.

6. Nguyện
sau khi thành Phật, nếu có chúng sinh nào thân thể yếu đuối, tàn tật, tâm trí
ngu si, ngông cuồng, khi nghe danh hiệu tôi thì thân thể khỏe mạnh, tàn tật được
lành lặn, dứt mọi bệnh khổ, phát sinh trí tuệ.

7. Nguyện
sau khi thành Phật, nếu có chúng sinh mắc các chứng bệnh hiểm nghèo, không thầy
cứu, không thuốc chữa, không thân nhân chăm sóc, đau khổ mọi bề, khi nghe được
danh hiệu tôi thì bệnh tật liền dứt, thân tâm an lạc, và phát tâm tinh tấn tu tập
cho đến khi đạt được đạo quả giác ngộ.

8. Nguyện
sau khi thành Phật, nếu có người đàn bà nào chán nản vì cho rằng mang thân đàn
bà phải chịu nhiều điều bất hạnh, và muốn chuyển sinh làm thân đàn ông, khi
nghe được danh hiệu tôi thì sẽ được chuyển sinh làm thân đàn ông, và cứ như thế
mãi cho đến khi đạt được đạo quả giác ngộ.

9. Nguyện
sau khi thành Phật, tôi sẽ độ thoát cho chúng sinh vượt khỏi sự vây bủa của các
lưới ma, các sợi dây trói buộc của vọng tưởng tà kiến, và dẫn dắt họ vào chánh
kiến, tu tập hạnh nguyện Bồ-tát cho đến khi đạt được đạo quả giác ngộ.

10. Nguyện
sau khi thành Phật, nếu có chúng sinh nào bị xử trị oan ức bởi luật nước bạo
tàn, bị tù ngục gông cùm, tra tấn hành hạ, hoặc bị tai nạn nguy hiểm, đạo tặc
chém giết v.v…, trăm điều đau khổ, khi nghe được danh hiệu tôi thì liền nhờ
uy đức của tôi mà vượt thoát mọi đau khổ.

11. Nguyện
sau khi thành Phật, nếu có chúng sinh nào sa vào cảnh đói khát khốn khổ, và vì
miếng ăn mà phải gây ra các hành động tội lỗi xấu xa, khi nghe được danh hiệu
tôi và chuyên tâm quán niệm thì tôi sẽ trước đem cho thức ăn ngon, sau đem pháp
vị mà hóa độ, khiến cho an trú mãi trong niềm an lạc vô biên.

12. Nguyện
sau khi thành Phật, nếu có chúng sinh nào nghèo túng đến nỗi không có áo mặc,
đêm ngày phải chịu rách rưới, lạnh lẽo, trăm điều khổ sở, khi nghe được danh hiệu
tôi và chuyên tâm quán niệm thì nhờ uy đức của tôi mà họ sẽ được có áo quần
lành lặn đẹp đẽ, với đầy đủ các món trang sức thân thể.

B) 12 Nguyện Lớn của đức Bồ Tát Quán Thế Âm:

1. Với trí
tuệ thông suốt trọn vẹn, với hùng lực tự tại vô ngại, với lòng từ bi đáp ứng mọi
lời kêu cầu của chúng sinh, tôi xin phát những lời nguyện rộng lớn cứu khổ muôn
loài.

2. Tôi nguyện
thường xuyên có mặt tại biển khơi và một lòng thương nghĩ đến những chúng sinh
đang đau khổ, không có một trở ngại nào ngăn cản tôi được.

3. Tôi nguyện
thường có mặt ở mọi nơi và mọi hoàn cảnh đen tối trong thế giới khổ đau, tức khắc
tìm đến chỗ nào có tiếng kêu cứu để giúp đỡ.

4. Tôi nguyện
hàng phục tất cả tà ma, yêu quái, và làm tiêu trừ mọi thứ hiểm nguy có thể gây
khổ não và làm hại đến tính mạng của chúng sinh.

5. Tôi nguyện
dùng nước cam lộ rưới tắt mọi phiền não nơi chúng sinh, khiến cho tâm ý họ được
thư thái, an lạc, giúp cho việc tiến tu đạo nghiệp được dễ dàng.

6. Tôi nguyện
đem bốn tấm lòng rộng lớn từ, bi, hỉ, xả của một vị Bồ-tát để cứu độ tất cả mọi
loài một cách hoàn toàn bình đẳng, không so đo, không phân biệt.

7. Tôi nguyện
diệt trừ mọi khổ đau nơi các cảnh giới địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh, và đêm ngày
tuần sát khắp nơi để bảo vệ chúng sinh, không để cho các điều ác độc làm tổn hại.

8. Những ai
đang bị xiềng xích, gông cùm, tù ngục mà có lòng chí thành tưởng nhớ, trì niệm
tên tôi thì liền được thoát khỏi hoạn nạn.

9. Tôi nguyện
chèo con thuyền Phật pháp dạo cùng khắp vùng biển khổ đau để cứu độ chúng sinh,
cho đến khi kẻ đau khổ cuối cùng được an lạc, giải thoát.

10. Tôi nguyện
cùng với thánh chúng, với phướn lọng trang nghiêm, tiếp dẫn chúng sinh về thế
giới Cực-lạc của đức Phật A Di Đà.

11. Ở thế giới
Cực-lạc, tôi nguyện được đức Phật A Di Đà thọ kí thành Phật khi đại nguyện độ
sinh đã hoàn toàn trọn vẹn.

12. Tôi nguyện
có thân tướng trang nghiêm không gì so sánh được, và đó là chánh báo do sự thực
hành trọn vẹn các lời nguyện rộng lớn của tôi.

Những lời nguyện rộng lớn ở
trên, không phải chỉ là của riêng đức Phật Dược Sư hay Bồ Tát Quán Thế Âm, mà bất
cứ vị hành giả nào đã phát tâm tu học theo hạnh Bồ-tát, phát nguyện phụng sự
chúng sinh, đều có thể coi đó là những lời nguyện của chính mình.

 

12 NHÂN DUYÊN (thập
nhị nhân duyên – thập nhị duyên khởi)

12 nhân duyên
là mười hai điều kiện tương liên, là đạo lí căn bản của đạo Phật dùng để giải
thích cái “bí ẩn” của hiện tượng sinh
tử luân hồi, tức là sự hiện hữu của chúng sinh – mà trực tiếp là con người. Mười
hai điều kiện ấy gồm có:

1. Vô minh: là trạng thái vô ý thức, mù quáng, mê lầm, không sáng
suốt, không nhận chân được thực tướng của vạn pháp, không thấy rõ được tự tính
của chính mình, do đó mà dẫn tới những hành động u tối, sai lầm.

2. Hành: là tác động vô thức của ý chí sinh tồn theo hướng vô
minh đã thúc đẩy tạo nghiệp. Nó là khát vọng muốn sống một cách mù quáng. Tất cả
những tư tưởng (ý), lời nói (khẩu) và việc làm (thân)
thiện hay bất thiện đều nằm trong hành.

3. Thức: Tất cả nghiệp nhân đã tạo ra đều được huân tập vào nghiệp chủng thức (hay nghiệp thức, tức là a-lại-da thức). Thức này
đi đầu thai và bắt đầu một sinh mạng mới. Lúc bà mẹ thụ thai, chính đó là lúc
nghiệp thức kết hợp với tinh trùng và noãn châu của cha mẹ mà làm nên bào thai.
Như vậy, thức chính là yếu tố nối tiếp giữa kiếp quá khứ và kiếp hiện tại, và
là giai đoạn đầu tiên của đời sống hiện tại.

4. Danh sắc: Do nghiệp thức phát động mà phát hiện ra các hiện tượng
tinh thần (danh)vật chất (sắc) của bản thân con người. Đây là giai đoạn thứ hai của đời
sống hiện tại. Bản thân con người là một “hợp
thể ngũ uẩn”
, trong đó, bốn uẩn thọ,
tưởng, hành, thức
chỉ có tên gọi mà không có hình chất, không thể thấy,
nghe, ngửi, nếm và chạm xúc được, nên gọi là danh; còn uẩn sắc tức là phần sinh lí của bản thân, do
bốn nguyên tố (tứ đại: địa, thủy, hỏa, phong) cấu thành, có hình chất, màu sắc,
mùi, vị, có thể thấy, nghe, ngửi, nếm, chạm xúc được, nên gọi là sắc.
Trong giây phút đầu tiên khi bà mẹ thụ thai – tức là lúc nghiệp thức kết hợp với tinh trùng và noãn châu của cha mẹ, thì danh
chính là nghiệp thức, và sắc
chính là tinh trùng và noãn châu. Vậy,
nếu hành và thức là hai yếu tố thuộc
về hai kiếp quá khứ (hành) và hiện tại (thức) của một chúng sinh, thì thức và danh sắc, trái lại, được xuất hiện
cùng lúc trong kiếp hiện tại của chúng sinh đó.

5. Lục nhập: sáu giác quan (lục
căn:
nhãn, nhĩ, tĩ, thiệt, thân, ý) dần dần hiện rõ theo sự phát triển của
bào thai, từ chỗ thật giản dị lúc mới được tượng hình, trở thành vô cùng phức tạp
khi con người đã trưởng thành toàn diện. Chúng hoạt động một cách hoàn toàn tự
nhiên, mầu nhiệm, như một guồng máy tinh diệu. Mỗi giác quan đều có những hoạt
động và đối tượng riêng biệt. Sáu giác quan là sáu chỗ để cho sáu đối tượng (lục trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc,
pháp) phản ảnh vào, gọi chung là “lục nhập”.

6. Xúc: Sự tiếp xúc giữa các giác quan và đối tượng của
chúng, như mắt tiếp xúc (thấy) với cảnh vật, tai nghe (tiếp xúc) âm thanh, mũi
ngửi mùi v.v…

7. Thọ: Cảm giác gây nên do sự tiếp xúc giữa các giác quan và
đối tượng. Có loại cảm giác dễ chịu, vui sướng, hạnh phúc, gọi là “lạc thọ”; có loại cảm giác khó chịu, buồn
phiền, khổ đau, gọi là “khổ thọ”; có
loại cảm giác trung tính, không khó chịu cũng không dễ chịu, gọi là “xả thọ”.

8. Ái: “Ái” hay “ái dục” là sự ham muốn, khao khát, luyến
ái. Do có cảm giác mà sinh ra ái. Đối trước dục vọng trần cảnh (ngũ dục), con người sinh tâm luyến ái. Nếu nói cho chính xác hơn, “ái” chính là sự luyến ái đối với sự sống.
Vì vậy, cái gì làm cho ta vui thích thì ta khao khát, muốn có cho bằng được;
còn cái gì làm cho ta buồn khổ thì ta chỉ muốn tránh xa, hoặc tống khứ hay hủy
diệt nó đi; đó là động cơ chính yếu thúc đẩy thân, miệng, ý tạo nghiệp.

9. Thủ: Khi đã luyến ái thì cố bám giữ lấy đối tượng; hay nói
rõ hơn, vì luyến ái sự sống cho nên phải bám giữ lấy sự sống – và từ đó mà phát
sinh ra những tư tưởng sai lầm là có “TÔI
và những gì THUỘC VỀ TÔI”.
Mục đích của mọi hành động trong ba lĩnh vực ý, thân và miệng, dù là thiện hay bất
thiện, cũng đều để bảo vệ và củng cố cho cái “TÔI và những gì THUỘC VỀ TÔI” ấy.

10. Hữu: Vì đam mê và cố bám giữ lấy đối tượng cho nên phải vướng
mắc vào nghiệp báo do sự sống của chính mình tạo ra. “Hữu” nghĩa là những nghiệp nhân (thiện hay bất thiện) đã tạo ra ở kiếp này, và dĩ
nhiên, những nghiệp quả
(vui sướng hay khổ đau, cũng tức là những cảnh giới của các loài chúng sinh
khác nhau) sẽ thọ nhận ở kiếp sau.

11. Sinh: Nghiệp đã tạo (hữu)
ấy lại được huân tập vào chủng tử thức
(a-lại-da)
, và chính là dẫn lực đưa tới việc ra đời của sinh mạng mới.

12. Lão tử: Khi đã có sinh ra thì tất nhiên lại phải có già và chết.

12 nhân duyên, như vừa thấy, đã trình bày một chuỗi nhân quả kéo
dài suốt qua ba đời: quá khứ, hiện tại,
và vị lai. Do vô minhhành nghiệp ở từ quá khứ cho nên đã
có đời sống hiện tại. Cuộc sống hiện tại có thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ,
và những nhân duyên này cũng chính lại là vô minh, làm cho ái,
thủ
lại tiếp tục tạo nghiệp – tức là hữu. Chính sức mạnh của hữu (nghiệp) đã tạo ra trong cuộc sống
hiện tại ấy sẽ là nguyên nhân đưa đến một đời sống mới (sinh lão
tử)
ở đời vị lai. Cứ thế, quá khứ làm nguyên nhân cho hiện tại, hiện tại
làm nguyên nhân cho vị lai; hiện tại lại trở thành quá khứ, vị lai lại trở
thành hiện tại để rồi lại đưa đến một vị lai khác…, vòng luân hồi tiếp diễn
không ngừng.

12 nhân duyên chính là nội dung của giáo lí “Duyên Khởi”, giáo lí căn bản nhất của Phật giáo. Mười hai nhân duyên là mười hai điều kiện
cùng nương nhau mà hiện hữu, cùng nối kết mật thiết với nhau, cùng là nhân và
là quả của nhau, để tạo thành vòng sinh tử luân hồi. Vòng (hay bánh xe) luân hồi
là một vòng tròn không có khởi điểm. Mười
hai nhân duyên
là mười hai cái khoen của vòng tròn đó, mà không có cái
khoen nào là khoen bắt đầu. Bất cứ một nhân duyên nào trong số ấy cũng không thể
có một bản chất và sự hiện hữu riêng biệt và độc lập. Vô minh chẳng hạn, không phải chỉ là điều kiện sinh ra hành, mà nó còn có mặt trong hành cũng như trong tất cả các điều kiện khác. Lại nữa, vô minh chỉ là một điều kiện như mười một điều kiện còn lại; tuy nó
được đặt ở khoen đầu tiên, nhưng đó chỉ là theo thói quen thông thường, chứ
không phải vì nó là nguyên nhân đầu tiên để sinh ra các điều kiện khác. Lí do dễ
hiểu, vì đã là nguyên nhân đầu tiên rồi thì nó không còn là một nhân duyên nữa.
Hai ý niệm “nhân duyên”“nguyên nhân
đầu tiên”
hoàn toàn chống trái nhau.
Phật giáo không bao giờ chấp nhận
có một nguyên nhân đầu tiên. Ta chỉ có thể tạm cho rằng, vô minh là điều kiện bao trùm đối với các điều
kiện khác, vì chính thực, có vô minh
mới có sinh tử luân hồi, nếu diệt được nó thì sinh tử luân hồi cũng không còn.
Hơn nữa, các nhân duyên khác như lục nhập,
xúc, thọ, ái, thủ
v.v… cũng chính là
minh
, và cũng chính là chất liệu để tạo ra vòng sinh tử luân hồi; nếu một
trong các nhân duyên ấy bị diệt thì cái vòng luân hồi tức khắc đứt tung. Cũng vậy,
a-lại-da
(tức là thức) chính là bản thể của vạn hữu, nhưng không vì thế mà bảo
nó là nguyên nhân đầu tiên để từ đó sinh ra những cái khác; bởi vì, a-lại-da là bản thể của vạn hữu ở trạng thái
vô minh ô nhiễm,
nếu nó đã là nguyên nhân đầu tiên thì sẽ chẳng bao giờ có
trí tuệ, và do đó, chẳng bao giờ có thể có chân như; kì thực, chân như (hay đại viên cảnh trí) và a-lại-da
thức chỉ là hai trạng thái (thanh tịnh và ô nhiễm, hay mê và ngộ) của bản thân
vạn pháp. Cho nên, dù là chân như, dù
thức, hay là gì gì đi nữa, thì
cũng không có cái gì gọi là nguyên nhân đầu tiên, không có gì hiện hữu độc lập,
mà tất cả đều là nhân duyên của nhau, nương vào nhau mà sinh thành, tồn tại và
hủy diệt.

 

16 NƯỚC LỚN (thập lục đại quốc)

Trong thời đức Phật tại thế,
bán đảo Ấn-độ gồm có hàng trăm quốc gia, trong đó, 16 quốc gia được coi là lớn
nhất (kể cả mọi mặt: đất đai rộng lớn,
văn hóa phát triển, tôn giáo hưng thịnh, kinh tế phồn vinh, chính trị và quân lực
hùng mạnh),
gồm có:

1. Ma-kiệt-đà
(Magadha), kinh đô là thành Vương-xá
(Rajagrha), thuộc miền Trung Ấn-độ, nằm ở bờ Nam sông Hằng (Ganga);

2. Bạt-kì (Vrji), kinh đô là thành Tì-xá-li (Vaisali), nằm ở bờ
Bắc sông Hằng, tức đối diện với Ma-kiệt-đà;

3. Ương-già (Anga), kinh thành là Chiêm-ba (Campa), nằm ở phía
Đông Ma-kiệt-đà;

4. Ca-thi (Kasi), kinh thành là Ba-la-nại (Varanasi), nằm ở bờ
Bắc sông Hằng và xéo hướng Tây Bắc của Ma-kiệt-đà;

5. Mạt-la (Malla), kinh đô là Câu-thi-na (Kusinagara), nằm ở
phía Bắc nước Bạt-kì;

6. Kiều-tát-la (Kausala), kinh đô là thành Xá-vệ (Sravasti), nằm ở
phía Bắc của nước Ca-thi;

7. Chi-đề (Cedi), nằm ở phía Tây nước Ca-thi;

8. Bạt-sa (Vatsa), kinh thành là Kiều-thưởng-di (Kausambi), nằm
ở phía Nam nước Chi-đề và phía Tây của nước Ma-kiệt-đà;

9. A-bàn-đề (Avanti), kinh thành là Ổ-xà-diễn-na (Ujayana), thuộc
miền Tây Ấn-độ, nằm ở hướng Tây Nam của nước Ma-kiệt-đà;

10. A-thấp-ba (Asvaka), kinh đô là thành Bổ-đa-lặc-ca, nằm ở phía Bắc
nước A-bàn-đề;

11. Tô-la-sa (Surasena), thủ đô là Mạt-thổ-la, nằm ở phía Bắc nước
A-thấp-ba;

12. Bà-sa (Matsya), nằm phía Bắc nước Tô-la-sa;

13. Cư-lâu (Kura), nằm ở bờ Tây thượng lưu sông Hằng, xéo hướng
Đông Bắc của nước Bà-sa;

14. Bàn-xà-la (Pancala), nằm giữa nước Cư-lâu ở phía tây và nước Kiều-tát-la
ở phía Đông;

15. Càn-đà-la (Gandhara), kinh đô là Đát-xoa-thỉ-la (Taksasila),
chiếm trọn vùng Tây Bắc thượng lưu sông Ấn (Sindhu);

16. Kiếm-phù-sa (Kamboja), kinh đô là Đa-môn (Dvaraka), nằm ở bờ Tây
sông Ấn, phía Nam nước Càn-đà-la.

Trong 16 nước trên đây, thì Ma-kiệt-đà
(Magadha) cùng với Kiều-tát-la (Kosala) là 2 nước lớn nhất và hùng mạnh nhất
trong toàn lãnh thổ Ấn-độ thời Phật tại thế. Và 6 đô thị nổi tiếng phồn thịnh
nhất thời bấy giờ
là: Xá-vệ (Savatthi) của
Kiều-tát-la; Vương-xá (Rajagaha) của Ma-kiệt-đà; Kiều-thưởng-di (Kosambi) của Bạt-sa;
Tì-xá-li (Vesali) của Lê-xa; Chiêm-ba (Campa) của Ương-già; và Ba-la-nại
(Baranasi) của Ca-thi.

Xin nói thêm, những thế kỉ trước
ngày Phật ra đời
, nền văn minh Ấn-độ (được hiểu là nền văn minh Bà-la-môn giáo) đã tập trung tại miền
Tây Bắc Ấn-độ, bao gồm vùng thượng lưu hai con sông Hằng-hà (Ganga) và Ấn-hà
(Sindhu). Các bộ tộc hùng mạnh đều lấy vùng này mà lập nên các vương quốc phú
cường, như Kamboja (Kiếm-phù-sa), Gandhara (Càn-đà-la), Kuru (Cư-lâu), Matsya
(Bà-sa), Pancala (Bàn-xà-la) và Surasena (Tô-la-sa), là 6 nước lớn nhất (mà đặc biệt, Gandhara và Kuru được xem là
căn cứ địa của văn minh Bà-la-môn).
Các khu vực khác đều còn bị coi là man
rợ. Đến thế kỉ thứ 7 tr. TL, các vương quốc ở các vùng phía Tây, Đông,
Đông Bắc và lưu vực sông Hằng bỗng nhiên phát triển mạnh mẽ về mọi lãnh vực, vượt
hẳn các vương quốc trên kia, và chiếm địa vị trung tâm. Mười vương quốc mới nổi
tiếng được nhắc tới nhiều nhất là Kosala (Kiều-tát-la), Malla (Mạt-la),
Licchavi (Lê-xa – cũng gọi Vrji – Bạt-kì), Asvaka (A-thấp-ba), Kasi (Ca-thi),
Vatsa (Bạt-sa), Avanti (A-bàn-đề), Cedi (Chi-đề), Anga (Ương-già) và Magadha
(Ma-kiệt-đà); cộng chung với sáu vương quốc trên kia, là mười sáu vương quốc lớn nhất (thập
lục đại quốc) của Ấn-độ thời Phật tại thế.
Tất cả 16 nước lớn này đều nằm
trong lãnh thổ nửa phía Bắc Ấn-độ. Dưới thời đại của Phật, nền văn minh vẫn
chưa phát triển xuống nửa phía Nam của bán đảo Ấn-độ.Từ khi các vương quốc kém
phát triển ở phía Tây, Đông, Đông Bắc và lưu vực sông Hằng bỗng nhiên vùng dậy
mạnh mẽ trở thành các cường quốc, thì uy thế của Bà-la-môn giáo truyền thống lại
bắt đầu suy yếu tại các khu vực đó. Các hệ phái triết học khác đua nhau bộc
phát, làm cho tư tưởng giới đương thời trở nên rối ren, phức tạp. Một cách tổng
quát, tư tưởng giới lúc đó chia làm hai xu hướng: Xu hướng trung thành với truyền
thống Vệ Đà và xu hướng phản Vệ Đà. Xu hướng thứ nhất gồm có ba trào lưu:
Bà-la-môn chính thống, tín ngưỡng tập tục (sùng bái nhiều vị thần nhân cách
hóa), và triết học (lấy Phạm ThưÁo Nghĩa Thư làm chủ yếu). Xu hướng thứ
hai bao gồm các trào lưu chủ trương nghiên cứu các vấn đề triết học một cách tự
do, độc lập, phủ nhận hoàn toàn uy thế cũng như đặc quyền của Bà-la-môn truyền
thống. Các nhà tư tưởng (hay tôn giáo) này được gọi là “sa-môn” (samana). Họ tổ chức thành từng giáo đoàn, được gọi là “sa môn đoàn”. Các vương quốc mới phát
triển như Kiều-tát-la, Lê-xa, Ca-thi, A-bàn-đề, Ma-kiệt-đà v.v… là địa bàn hoạt
động rất nhộn nhịp của các đoàn sa môn này. Các đạo sĩ A La Lam (Alara Kalama)
và Uất Đầu Lam Phất (Uddaka Ramaputta) chẳng hạn, đều là thủ lãnh lớn của các
đoàn sa môn ấy, và đã lấy vùng lưu vực sông Hằng làm căn cứ địa, mở các đạo
tràng hướng dẫn đồ chúng.

 

16 PHÉP QUÁN
(thập lục quán)

16 đối tượng quán tưởng của
người tu Tịnh Độ thường được gọi là “16 phép quán”, được Phật dạy trong
kinh Quán Vô Lượng Thọ, xin trình bày
tóm lược như sau:

1. Quán tưởng mặt trời (nhật tưởng quán). Ngồi ngay ngắn, mặt quay về
hướng Tây, quán tưởng thấy rõ mặt trời để cho tâm được an định, vững vàng,
chuyên chú quán tưởng như thế, không dời đổi; rồi thấy mặt trời sắp lặn, hình
trạng giống như cái trống treo trên không. Đã thấy mặt trời như thế rồi, dù mở
mắt hay nhắm mắt vẫn thấy rõ ràng như thế.

2. Quán tưởng nước (thủy tưởng quán). Ban đầu quán tưởng thấy cả
một vùng phương Tây toàn là nước mênh mông; rồi thấy nước đó đóng thành băng,
băng ấy sáng chói trong suốt; rồi từ đó mà quán tưởng tới ngọc lưu li.

3. Quán tưởng đất (địa tưởng quán). Quán tưởng xuống thấy đất toàn bằng lưu li,
mặt đất toàn là bảy món báu, có trụ cờ bằng ngọc kim cương. Trên đất lại có dây
bằng vàng ròng giăng hàng qua lại, mỗi mỗi món báu đều có năm trăm sắc hào
quang.

4. Quán tưởng cây báu (bảo thọ quán). Quán tưởng nước Cực-lạc có
bảy hàng cây báu, tất cả cây, cành, lá, hoa đều bằng bảy báu, màu sắc khác
nhau, trên mỗi cây đều có bảy lớp mạng lưới, trong mỗi lớp lưới đều có năm trăm
ức cung điện đẹp đẽ trang nghiêm.

5. Quán tưởng ao báu (bảo trì quán). Quán tưởng ở nước Cực-lạc
có ao nước bằng bảy báu, cát dưới đáy ao toàn bằng vàng, trong ao chứa nước có
tám thứ công đức, trong nước có ức triệu hoa sen toàn bằng bảy báu, có nước
ma-ni rót vào từng hoa sen, phát ra âm thanh kì diệu, diễn nói diệu pháp. Lại
có nhiều giống chim với hàng trăm màu sắc quí báu, thường tán thán niệm Phật,
niệm pháp, niệm tăng.

6. Quán tưởng lầu gác báu (bảo lâu quán). Quán tưởng nước Cực-lạc có
nhiều khu vực, ở mỗi khu vực có năm trăm ức lầu gác báu, trong đó có vô lượng
chư thiên tấu lên những khúc nhạc vi diệu. Lại có nhiều thứ nhạc khí treo khắp
hư không, tự chúng phát ra những điệu nhạc kì diệu, vang ra tiếng niệm Phật, niệm
pháp, niệm tăng.

7. Quán tưởng tòa hoa sen (hoa tòa quán). Quán tưởng các tòa sen, là
chỗ ngồi của đức Phật A Di Đà và hai đức Bồ-tát Quán Thế Âm, Đại Thế Chí. Tòa
sen do bảy báu làm thành, các hoa sen, cọng sen, lá sen v.v… toàn bằng ngọc
ma ni, kim cương v.v…, chiếu ánh sáng muôn màu rực rỡ.

8. Quán tưởng hình tượng (tượng quán). Quán tưởng hình tượng đức
Phật A Di Đà toàn bằng châu báu, sáng chói sắc vàng, ngồi trên tòa hoa sen; lại
quán tưởng hình tượng đức Bồ-tát Quán Thế Âm thân vàng sáng chói, ngồi trên tòa
sen bên trái để hầu Phật; đức Bồ-tát Đại Thế Chí cũng vậy, ngồi tòa sen bên phải
để hầu Phật; cả hình tượng Phật và hai vị Bồ-tát đều phóng ra hào quang sắc
vàng sáng chói.

9. Quán tưởng chân thân Phật (chân thân quán). Quán tưởng chân thân của đức
Phật A Di Đà. Tướng quan trọng nhất của Phật là tướng lông trắng ở giữa đôi
chân mày. Thấy rõ được tướng này thì tám vạn bốn nghìn tướng tốt khác của Phật
cũng đồng thời hiện ra. Thấy rõ được chân thân của Phật A Di Đà thì cũng thấy
được chân thân chư Phật trong mười phương.

10. Quán tưởng Quán Thế Âm (Quán Âm quán). Quán tưởng sắc thân chân
thật của Bồ-tát Quán Thế Âm, cao lớn, sắc vàng, vòm hào quang trên đầu có đức
hóa Phật. Ngài dùng bàn tay quí báu trợ lực đức Phật A Di Đà để tiếp dẫn chúng
sinh.

11. Quán tưởng Đại Thế Chí (Thế Chí quán). Quán tưởng sắc thân chân
thật của Bồ-tát Đại Thế Chí, cùng với Bồ-tát Quán Thế Âm, là hai vị hầu cận trợ
lực đức Phật A Di Đà tiếp dẫn chúng sinh

12. Quán tưởng mình được vãng sinh (tự vãng sinh quán). Quán tưởng mình được vãng
sinh về nước Cực-lạc. Bấy giờ mình ngồi kiết già trong hoa sen búp, khi hoa nở
có năm trăm sắc hào quang chiếu soi thân mình, được thấy Phật A Di Đà, chư vị
hóa Phật và Bồ-tát khắp cả hư không.

13. Quán tưởng xen lộn (tạp tưởng quán). Quán tưởng thân Phật cao một
trượng sáu ngự trên ao nước đầy đủ tám công đức, hoặc thân Phật cao lớn đầy khắp
hư không; tức quán tưởng chân thân của Phật, hoặc hóa thân Phật, hoặc thân to lớn,
hoặc thân thấp nhỏ, thân nào cũng toàn sắc vàng ròng, hai đức Bồ-tát Quán Thế
Âm và Đại Thế Chí cũng vậy.

14. Quán tưởng vãng sinh cấp Thượng-phẩm (Thượng phẩm sinh quán). Người vãng sinh Tịnh-độ, y
theo lúc tu nhân mà sẽ sinh vể một trong 3 cấp Thượng, Trung, Hạ; mỗi cấp lại
chia ra có 3 phẩm thượng, trung, hạ; cả thảy là 9 phẩm. Quán tưởng các hành giả
vãng sinh cấp Thượng phẩm, tự mình phát ba loại tâm, tu từ tâm, không giết hại,
đọc tụng kinh điển đại thừa v.v…, khi lâm chung được Phật và thánh chúng tiếp
dẫn vãng sinh về cõi Tịnh-độ, được mọi lợi ích thù thắng.

15. Quán tưởng vãng sinh cấp Trung-phẩm (Trung phẩm sinh quán). Quán tưởng các hành giả
hành trì 5 giới, 8 giới, tu hạnh hiếu dưỡng phụ mẫu v.v…, khi lâm chung sẽ được
Phật và thánh chúng đến tiếp dẫn vãng sinh.

16. Quán tưởng vãng sinh cấp Hạ-phẩm (Hạ phẩm sinh quán). Quán tưởng những người tuy
tạo nhiều nghiệp ác, nhưng trong giờ phút lâm chung, may mắn gặp được bậc thiện
tri thức dạy bảo mà biết xưng niệm danh hiệu Phật A Di Đà, nhờ đó mà được vãng
sinh.

 

18 KHU VỰC (thập
bát giới)

Gồm chung 6 giác quan (lục căn), 6 đối tượng của
giác quan
(lục trần)6 thức (lục thức), thì chúng ta có pháp số gọi là “18 Khu Vực” (thập bát giới). Tất cả mọi sự mọi vật
trong vũ trụ đều bao gồm trong 18 khu vực này.
(Xin xem lại mục “Sáu Giác Quan, Sáu Đối
Tượng của Giác Quan, và Sáu Thức” ở trước.)

 

18 PHÁP KHÔNG CÙNG CHUNG (thập bát bất cộng pháp)

Đây là 18 pháp công đức mà đặc
biệt chỉ Phật mới có, chứ các hàng Bồ-tát, Thanh-văn và Duyên-giác đều không
có:

1. Thân không lầm
lỗi
(thân vô thất): Phật từ vô lượng kiếp đến nay, trì giới thanh tịnh, công đức đầy đủ,
phiền não dứt sạch, cho nên ở nơi thân không hề có lầm lỗi.

2. Miệng không
lầm lỗi
(khẩu vô thất): Phật có trí tuệ biện tài vô lượng, tùy căn cơ của chúng sinh mà nói
pháp thích hợp, làm cho tất cả đều được chứng ngộ.

3. Ý tưởng
không lầm lỗi
(niệm vô thất): Phật đã tu các pháp môn thiền định sâu xa, tâm không bao giờ tán loạn,
không dính mắc nơi các pháp, tuyệt đối an ổn.

4. Không có ý
tưởng phân biệt
(vô dị tưởng):
Phật cứu độ khắp tất cả chúng sinh một cách bình đẳng, không phân biệt chọn lựa.

5. Không có tâm
bất định
(vô bất định tâm): Trong mỗi lúc đi đứng ngồi nằm, Phật không bao giờ xa rời chánh định
sâu xa, luôn luôn nhiếp tâm trụ nơi pháp lành.

6. Không có cái
tâm không biết tự mình buông xả
(vô bất tri kỉ xả tâm): Trong từng sát na, đối với những cảm thọ khổ vui, Phật
thấy rõ các tướng sinh trụ dị diệt của chúng, cho nên vẫn an trú trong cảnh giới
bình đẳng, vắng lặng.

7. Ý chí không
tiêu mất
(dục vô diệt):
Phật có đầy đủ các đức lành, tâm luôn luôn muốn cứu độ chúng sinh mà không bao
giờ cho là đủ hay nhàm chán.

8. Tinh tấn
không tiêu mất
(tinh tấn vô diệt): Thân tâm Phật lúc nào cũng tinh tấn, thực hiện mọi phương tiện để cứu
độ chúng sinh, không lúc nào ngưng nghỉ.

9. Niệm không
tiêu mất
(niệm vô diệt): Tất cả các pháp và trí tuệ của chư Phật trong ba đời đều tương ưng đầy
đủ, không có sự thối chuyển.

10. Trí tuệ
không tiêu mất
(tuệ vô diệt):
Phật có đầy đủ tất cả trí tuệ, suốt cả ba đời không có gì chướng ngại, không
khiếm khuyết, không tiêu mất.

11. Giải thoát
không tiêu mất
(giải thoát vô diệt): Phật dứt tuyệt mọi sự chấp trước, thoát khỏi cả hai
lãnh vực hữu vi và vô vi, tất cả tập khí phiền não đều không còn, cho nên thành
quả giải thoát không hề bị khiếm khuyết hay tiêu mất.

12. Giải thoát
tri kiến không tiêu mất
(giải thoát tri kiến vô diệt): Phật thấy biết các tướng giải thoát thật rõ ràng,
không có gì che lấp được.

13. Tất cả thân
nghiệp đều hành động theo trí tuệ
(nhất thiết thân nghiệp tùy trí tuệ
hành):
Khi thân muốn hành động, trước
hết Phật quán sát hậu quả của việc làm, sau đó sẽ tùy theo trí tuệ mà thực hiện,
cho nên không gây ra lầm lỗi, chỉ đem lại lợi ích cho chúng sinh mà thôi.

14. Tất cả khẩu
nghiệp đều nói năng theo trí tuệ
(nhất thiết khẩu nghiệp tùy trí tuệ
hành):
Khi miệng muốn nói năng, trước
hết Phật quán sát hậu quả của lời nói, sau đó sẽ tùy theo trí tuệ mà diễn bày,
cho nên không gây ra lầm lỗi, chỉ đem lại lợi ích cho chúng sinh mà thôi.

15. Tất cả ý
nghiệp đều tư duy theo trí tuệ
(nhất thiết ý nghiệp tùy trí tuệ hành): Khi suy nghĩ, trước hết Phật quán sát hậu quả của ý
nghĩ, sau đó sẽ tùy theo trí tuệ mà suy nghĩ, cho nên không gây ra lầm lỗi, chỉ
đem lại lợi ích cho chúng sinh mà thôi.

16. Trí tuệ thấy
biết đời quá khứ không bị chướng ngại
(trí tuệ tri kiến quá khứ thế vô ngại
vô chướng):
Đối với mọi sự việc của
chúng sinh ở đời quá khứ, Phật quán chiếu thấy biết thông suốt, không có gì làm
cho chướng ngại.

17. Trí tuệ thấy
biết đời vị lai không bị chướng ngại
(trí tuệ tri kiến vị lai thế vô ngại vô
chướng):
Đối với mọi sự việc của chúng
sinh ở đời vị lai, Phật quán chiếu thấy biết thông suốt, không có gì làm cho
chướng ngại.

18. Trí tuệ thấy
biết đời hiện tại không bị chướng ngại
(trí tuệ tri kiến hiện tại thế vô ngại
vô chướng):
Đối với mọi sự việc của
chúng sinh đời hiện tại, Phật quán chiếu thấy biết thông suốt, không có gì làm
cho chướng ngại.

Lại nữa, có chỗ cho rằng, 18
pháp không cùng chung của Phật gồm có mười trí lực, bốn đức vô úy, ba nơi trụ của
chánh niệm
(tam niệm trú), và tâm đại bi. Ba nơi trụ của chánh niệm
gồm có: 1) Đối với những người nghe pháp sinh tâm cung kính, Phật giữ tâm bình
đẳng, không vui mừng. 2) Đối với những người nghe pháp sinh tâm bất kính, Phật
giữ tâm bình đẳng, không buồn phiền. 3) Đối với những người cung kính lắng nghe
và những người không cung kính lắng nghe, Phật giữ tâm bình đẳng, không thích
người này, cũng không trách người nọ.

Hàng Bồ-tát cũng có 18
pháp công đức
mà Thanh-văn và Duyên-giác không cùng có chung (Bồ-tát
thập bát bất cộng pháp):

1. Bố thí
không cần người khác khuyên bảo.

2. Giữ giới
không cần người khác khuyên bảo.

3. Nhẫn nhục
không cần người khác khuyên bảo.

4. Siêng
năng không cần người khác khuyên bảo.

5. Thiền định
không cần người khác nhắc nhở.

6. Trí tuệ
không cần người khác dạy bảo.

7. Thực hành
những cách thu phục để thu phục giáo hóa chúng sinh.

8. Hiểu rõ sự
hồi hướng.

9. Lấy
phương tiện thiện xảo làm chính để giúp chúng sinh tu hành.

10. Không thối
lui trên con đường đại thừa.

11. Khéo léo
thị hiện niết bàn nơi sinh tử, tâm thường an vui, lời nói và âm thanh đều khéo
léo thuận theo thế tục.

12. Lấy trí
tuệ làm kẻ dẫn đường, tuy có thọ sinh mà không hề thọ sinh, xa lìa mọi lầm lỗi.

13. Đầy đủ
mười nghiệp lành nơi thân, miệng và ý.

14. Thường hay
chịu đựng đau khổ để thu phục giáo hóa chúng sinh.

15. Có thể
hiện bày những thứ mà thế gian yêu thích.

16. Tuy ở
trong hàng Thanh-văn và hạng phàm phu nhiều khổ não, nhưng không bao giờ mất
trí sáng tỏ.

17. Khi nhận
địa vị vua tất cả pháp, dùng lụa cột tóc và dùng nước vẩy đầu.

18. Không
bao giờ rời bỏ sự mong cầu hiển bày chánh pháp của chư Phật.

 

20 VIỆC KHÓ (nhị
thập nan)

Trong kinh Tứ Thập Nhị Chương
có nêu ra 20 việc mà người thế gian rất khó thực hiện:

1. Người nghèo
cùng rất khó thực hiện hạnh bố thí (bần cùng bố thí nan).

2. Người giàu
sang rất khó tu học đạo giải thoát (hào phú học đạo nan).

3. Người đời
khó có được ý chí quên mình vì đại nghĩa, hoặc xả thân vì đạo pháp (phán
mạng tất tử nan)
.

4. Người đời
khó có duyên được thấy nghe và thọ trì giáo pháp của Phật (đắc đổ Phật kinh nan).

5. Người không
trồng nhân lành, không tu tập các điều thiện, mà muốn được sinh ra đời gặp Phật
tại thế thì thật là vô cùng  khó khăn (sinh
trị Phật thế nan)
.

6. Người đời
thường say đắm ngũ dục lục trần, cho nên, chế phục được vọng niệm, xa lìa được
dục tình là điều rất khó (nhẫn sắc li dục nan).

7. Người đời
thấy cảnh giàu sang mà không ham, thấy lợi danh mà không thích, thấy vật gì vừa
ý mà không muốn đem về cho mình, đó là điều rất khó (kiến hảo bất cầu nan).

8. Người hào
phú thế lực mà vẫn giữ lễ độ, khiêm cung với mọi người, không ỷ thế làm nhục người,
đó là việc khó (hữu thế bất lâm nan).

9. Bị người
ta làm nhục mà nhịn nhục được, không sân hận, đó là điều rất khó (bị
nhục bất sân nan)
.

10. Khi đụng
chạm các việc ở đời mà tâm giữ được tĩnh lặng, không chao động, đó là điều khó (xúc
sự vô tâm nan)
.

11. Người căn
tánh thấp kém mà muốn học rộng, đọc nhiều, nghiên cứu nghĩa lí sâu xa, thì thật
là khó (quảng học bác cứu nan).

12. Người học
vấn uyên bác mà không khinh mạn đối với kẻ ít học, đó là điều khó (bất
khinh mạt học nan)
.

13. Diệt trừ
tâm ngã mạn, khinh người, thật là khó (trừ diệt ngã mạn nan).

14. Gặp được
bậc thiện tri thức để được học hỏi, hầu mong mở mang trí hiểu biết chân chính, đó
là điều khó (hội thiện tri thức nan).

15. Người đời
thường mê đắm theo vọng tình ái dục, cho nên, biết phản tỉnh để quay về con đường
chân chánh, tu học đạo giải thoát, đó là điều rất khó (kiến tánh học đạo nan).

16. Đối trước
ngoại cảnh mà giữ tâm an nhiên, không chuyển động, đó là điều khó (đối
cảnh bất động nan)
.

17. Thường có
tâm từ ái đối với chúng sinh, dùng mọi phương tiện để làm lợi ích cho chúng
sinh, đó là điều rất khó (thiện giải phương tiện nan).

18. Chúng
sinh có nhiều căn cơ cao thấp khác nhau, cho nên, người có khả năng thấy rõ để
tùy theo căn cơ mà dẫn dắt, giáo hóa chúng sinh, đó là điều rất khó (tùy
hóa độ nhân nan)
.

19. Xử sự
trong mọi trường hợp đều giữa tâm bình đẳng, không phân biệt kẻ thân người sơ, đó
là điều rất khó (tâm hành bình đẳng nan).

20. Biết giữ
gìn lời nói, không nói tới chuyện xấu, chuyện tốt, sở trường, sở đoản v.v… của
người, tức là không nói chuyện thị phi, đó là điều rất khó (bất thuyết thị phi nan).

 

25 CÕI (nhị thập
ngũ hữu)

Có sinh ắt có tử, có nhân ắt
có quả, nhân quả không bao giờ diệt mất, cho nên nói là “hữu”. Thế gian, một cách
tổng quát, được chia làm 3 cõi (tam giới: Dục giới, Sắc giới và Vô-sắc giới);
chi tiết hơn thì chia làm 6 đường (lục đạo: Thiên, Nhân, A-tu-la, Bàng-sinh, Ngạ-quỉ,
và Địa-ngục); và chi tiết hơn nữa thì chia làm 25 cõi (nhị thập ngũ hữu). 25 cõi
này được kể trong 5 nhóm sau đây:

A) 4 cõi ác (tứ ác thú):

1. Địa-ngục

2. Ngạ-quỉ

3. Bàng-sinh

4. A-tu-la

B) 4 châu của loài người (tứ châu thiên hạ):

5. Đông Thắng-thân
châu

6. Nam Thiệm-bộ
châu

7. Tây Ngưu-hóa
châu

8. Bắc Câu-lô
châu

C) 6 cõi trời Dục giới (lục Dục thiên):

9. Tứ-vương
thiên

10. Đao-lợi
thiên

11. Dạ-ma
thiên

12. Đâu-suất
thiên

13. Hóa-lạc
thiên

14. Tha-hóa-tự-tại
thiên

D) 7 cõi trời Sắc (Sắc giới):

15. Sơ-thiền
thiên

16. Đại-phạm
thiên

17. Nhị-thiền
thiên

18. Tam-thiền
thiên

19. Tứ-thiền
thiên

20. Vô-tưởng
thiên

21. Tịnh-cư
A-na-hàm thiên

E) 4 cõi trời Vô-sắc (Vô-sắc giới):

22. Không-xứ
thiên

23. Thức-xứ
thiên

24. Vô-sở-hữu-xứ
thiên

25. Phi-tưởng-phi-phi-tưởng-xứ
thiên

Ghi
chú:

Trong cõi Sắc giới, 4 tầng trời Sơ-thiền, Nhị-thiền, Tam-thiền, và Tứ-thiền, mỗi
tầng được kể là 1 cõi (1 hữu); trong đó, đặc biệt:

a) Đại-phạm
thiên
được tách riêng ra từ tầng trời
Sơ-thiền để được kể là 1 cõi (1 hữu), vì trời Phạm
Thiên là chủ tể của cả ba ngàn đại thiên thế giới.

b) Vô-tưởng
thiên
được tách riêng ra từ tầng trời
Tứ-thiền để được kể là 1 cõi (1 hữu), vì đó là
nơi đặc biệt, chúng sinh không còn có tư tưởng.

c) 5 cõi trời Vô-phiền
thiên, Vô-nhiệt thiên, Thiện-kiến thiên, Thiện-hiện thiên, và Sắc-cứu-cánh thiên
,
được tách riêng ra từ tầng trời
Tứ-thiền, kết hợp thành một nhóm gọi là Ngũ Tịnh-cư thiên, hay Ngũ
Na-hàm thiên
, để được kể là 1 cõi (1 hữu), vì đó đều là nơi cư trú của chư
vị đã chứng quả A-na-hàm (tức quả Bất-hoàn, quả vị thứ ba của 4 thánh quả Thanh-văn).

Do đó mà Sắc giới được kể có 7 hữu.

 

28 VỊ TỔ (nhị thập
bát tổ)

Năm 520, ngài Bồ Đề Đạt Ma đến
Trung-quốc, truyền bá một pháp thiền đặc biệt, y cứ vào tư tưởng kinh Lăng Già mà chủ trương “bất
lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền”

(không dựa vào văn tự, trao truyền ở ngoài giáo thuyết); ý nói, tông chỉ của
pháp môn này là không y cứ vào văn tự, kinh điển, mà chỉ chuyên tọa thiền và
dùng các cách thức đặc biệt ở ngoài kinh giáo, làm cho tâm hành giả bừng sáng,
chứng ngộ bản lai diện mục của mình (tức “kiến
tánh thành Phật”).
Thuật ngữ “dĩ tâm
truyền tâm”
được đặc biệt dùng để chỉ cho phương pháp này. Từ đây mà tông
Thiền được chính thức thành lập ở Trung-quốc như một tông phái độc lập; hễ nói
đến “thiền”, hay “tu thiền”, là ai cũng nghĩ ngay đến tông Thiền này.

Thiền tông được thành lập, và
ngài Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidharma, ?-535) được tôn xưng là vị sơ tổ của tông Thiền
Trung-quốc. Nhưng tông này không phải bắt đầu từ ngài Bồ Đề Đạt Ma, mà theo các
vị tổ của tông Thiền, thì tông này đã có một hệ thống truyền thừa khởi đầu từ đức
Phật Thích Ca Mâu Ni.

Theo truyền thuyết, một ngày
nọ ở tại núi Linh-thứu, trước khi bắt đầu buổi thuyết pháp, đức Thế Tôn đã cầm
một cành hoa đưa lên trước đại chúng, không nói lời nào. Cả pháp hội không ai
hiểu gì cả, chỉ có tôn giả Đại Ca Diếp nhìn đức Thế Tôn mỉm cười. Đức Thế Tôn
liền dạy: “Này Đại Ca Diếp! Như Lai có
chánh pháp nhãn tạng, nay đem giao phó cho ông.”
Tôn giả Đại Ca Diếp hoan hỉ
nhận lãnh, nhưng cả hội chúng cũng không ai biết đức Thế Tôn và tôn giả Đại Ca
Diếp đã trao và nhận cái gì, như thế nào. Về sau, một hôm tôn giả A Nan hỏi tôn
giả Đại Ca Diếp là hôm đó đức Thế Tôn đã truyền dạy điều gì, thì tôn giả Đại Ca
Diếp bảo: “Hãy đi hạ cột cờ xuống!” Ngài
A Nan liền ngộ ngay. Cứ thế mà tâm ấn được truyền thừa, từ tôn giả Đại Ca Diếp
trở đi, thứ tự như sau:

1. Đại Ca Diếp

2. A Nan

3. Thương Na
Hòa Tu

4. Ưu Ba Cúc
Đa

5. Đề Đa Ca

6. Di Già Ca

7. Bà Tu Mật

8. Phật Đà
Nan Đề

9. Phục Đà Mật
Đa

10. Hiếp tôn
giả

11. Phú Na Dạ
Xa

12. Mã Minh

13. Ca Tì Ma
La

14. Long Thọ

15. Ca Na Đề

16. La Hầu
La Đa

17. Tăng Già
Nan Đề

18. Già Da
Xá Đa

19. Cưu Ma
La Đa

20. Xà Dạ Đa

21. Bà Tu
Bàn Đầu

22. Ma Nã La

23. Hạc Lặc
Na

24. Sư Tử Bồ
Đề

25. Bà Xá Tư
Đa

26. Bất Như
Mật Đa

27. Bát Nhã
Đa La

28. Bồ Đề Đạt
Ma

Tất cả 28 vị tổ trên đây đều
là người Ấn-độ, mà tông Thiền Trung-quốc gọi là “Tây Thiên nhị thập bát tổ”, hoặc “Tây Thiên tứ thất”.

 

32 TƯỚNG TỐT CỦA PHẬT (tam thập nhị tướng)

Đây là 32 tướng quí mà người
thường không có, chỉ có Chuyển luân thánh vương và thân ứng hóa của Phật mới có.
Luận Đại Trí Độ liệt kê ba mươi hai
tướng ấy như sau:

1. Dưới bàn
chân bằng phẳng, đầy đặn, mềm mại, lúc đứng thì khít khao với mặt đất. Tướng
này biểu trưng cho công đức dắt dẫn và làm lợi ích chúng sinh của Phật.

2. Các đường
chỉ ở dưới hai bàn chân xoay tròn làm thành hai bánh xe, với trục bánh xe, vành
bánh xe và cả ngàn căm bánh xe. Tướng này biểu thị cho công đức phá trừ ngu si
và vô minh, hàng phục mọi thứ ma oán.

3. Các ngón
tay và ngón chân đều thẳng, tròn đầy, thon dài; biểu trưng cho tâm kiêu mạn đã
hoàn toàn dứt tuyệt, thọ mạng lâu dài, khiến chúng sinh qui y trong niềm yêu
kính, an vui.

4. Gót chân
rộng và đầy đặn, tương xứng với mu bàn chân; biểu trưng cho công đức hóa độ tất
cả chúng sinh đến cùng tận đời vị lai.

5. Các kẽ
tay và kẽ chân đều có màng mỏng như lưới; biểu trưng cho công đức xa lìa trọn vẹn
phiền não và ác nghiệp, nhiếp độ chúng sinh, biến hiện tự tại vô ngại.

6. Tay chân
mềm mại, biểu thị rằng, do đức từ bi mà đức Phật dùng đôi tay mềm mại để nhiếp
độ tất cả mọi người, thân cũng như sơ.

7. Mu bàn
chân nổi cao và đầy đặn, tương xứng với gót chân; biểu thị đức đại bi vô thượng,
làm lợi ích cho tất cả chúng sinh.

8. Bắp đùi
thon tròn như bắp đùi của nai chúa; biểu thị công đức diệt trừ trọn vẹn tất cả
tội chướng.

9. Đôi tay
thòng thẳng xuống thì dài quá đầu gối; biểu thị công đức hàng phục tất cả ma
chướng, thường lân mẫn xoa đầu chúng sinh.

10. Nam căn ẩn
kín; biểu thị cho thọ mạng lâu dài, độ được nhiều đệ tử.

11. Thân tướng
cao rộng, đoan nghiêm, trái phải trước sau trên dưới đều viên mãn; biểu trưng
cho đức tôn quí tự tại của bậc pháp vương vô thượng.

12. Tóc và
lông đều hướng lên trên, mềm mại xanh biếc, xoắn tròn qua bên phải; khiến cho
ai được chiêm ngưỡng, đều sinh tâm hoan hỉ, được lợi ích vô lượng.

13. Mỗi lỗ
chân lông mọc một sợi lông, không tạp loạn, óng ánh màu xanh ngọc lưu li, thường
tiết ra mùi hương vi diệu; biểu thị lòng phục vụ chúng sinh, giáo hóa không mệt
mỏi; ai trông thấy ánh sáng ấy được tiêu trừ tội chướng trong hai mươi kiếp.

14. Toàn
thân lóng lánh màu vàng ròng, khiến người chiêm ngưỡng liền xả bỏ niệm ái dục,
tiêu tội, sinh niệm lành.

15. Chung
quanh thân thể thường có ánh sáng chiếu ra rộng một trượng, biểu thị cho tất cả
chí nguyện đều đầy đủ.

16. Da mỏng
và mịn, bụi đất nước không dính được, biểu thị Phật là bình đẳng, không cấu nhiễm,
luôn luôn dùng tâm đại từ bi giáo hóa, làm lợi ích cho chúng sinh.

17. Hai lòng
bàn tay, hai lòng bàn chân, hai vai, và cổ, bảy chỗ đó đều đầy đặn, biểu thị
công đức của Phật làm cho tất cả chúng sinh được tiêu tội lỗi, sinh điều lành.

18. Hai nách
đầy đặn, không lõm, biểu thị Phật cho chúng sinh y dược, cơm áo, và tự xem bệnh
cho chính mình.

19. Nửa thân
trên rộng lớn, đi đứng nằm ngồi, dung nghi uy nghiêm như sư tử chúa; biểu thị
uy dung cao quí, đức từ bi tròn đầy.

20. Thân tướng
rộng lớn, ngay thẳng, biểu thị cho công đức trì giới sát, đạo một cách trọn vẹn,
dứt hẳn tâm kiêu mạn, ai trông thấy liền dứt khổ đau, được chánh niệm, khởi tu
mười nghiệp lành.

21. Hai vai
tròn đầy, cân đối, biểu thị sự diệt trừ trọn vẹn phiền não, nghiệp chướng, công
đức vô lượng.

22. Bốn mươi
chiếc răng, ngang bằng, chân sâu, trắng sạch, thường tiết mùi hương tịnh diệu;
biểu thị rằng, Phật có công năng ngăn ngừa nghiệp ác khẩu của chúng sinh, diệt
vô lượng tội lỗi, được vô lượng an lạc.

23. Tất cả
răng khít khao, đều đặn, không cái nào to, không cái nào nhỏ; biểu thị đức hòa
thuận, thanh tịnh.

24. Bốn chiếc
răng cửa trắng đẹp, sáng bóng, nhọn bén, cứng như kim cương; biểu thị, diệu tướng
này có thể tiêu diệt ba phiền não độc hại, mạnh mẽ, cứng chắc (tức tham sân si)
của chúng sinh.

25. Hai má đầy
đặn như má sư tử; người thấy được tướng này, được tiêu trừ tội chướng trong
trăm kiếp, được diện kiến chư Phật.

26. Trong miệng
luôn luôn có vị thơm tinh khiết tối thượng, biểu thị diệu pháp của Phật giúp
cho chí nguyện của chúng sinh được tròn đầy.

27. Lưỡi mỏng,
rộng và dài, thè ra thì phủ cả mặt, đụng đến chân tóc; quán tưởng tướng này sẽ
tiêu trừ được tội chướng sinh tử trong trăm ức tám vạn bốn ngàn kiếp, được tám
mươi ức chư Phật và Bồ-tát thọ kí.

28. Tiếng
nói như tiếng Phạm Thiên, rền vang như trống trời, tao nhã, sâu thẳm; biểu thị
lời nói luôn luôn chân thật, người nghe tùy theo căn cơ đều thông hiểu, bao mối
nghi hoặc đều tan biến.

29. Cặp mắt
xanh biếc như hoa sen xanh, biểu thị đức Phật đời đời kiếp kiếp, lúc nào cũng
dùng tâm từ, mắt từ và tâm hoan hỉ để tiếp độ chúng sinh.

30. Lông mi
đều đặn, không rối, biểu thị tình thương chúng sinh như cha mẹ thương yêu, đùm
bọc con cái.

31. Trên đỉnh
đầu có nhục kế (tức cục thịt bằng nắm tay), nổi cao, biểu thị tự mình thọ trì
và dạy cho mọi người thọ trì pháp thập thiện.

32. Giữa hai
chân mày có sợi lông trắng, dài hơn một trượng, trắng sáng đẹp sạch như ngọc, mềm
mại, uốn xoay về bên phải và thu ngắn lại, thường phóng ra ánh sáng, gọi là
“hào quang”; biểu thị rằng, đức Phật luôn luôn tán thán những chúng sinh nào
siêng năng tu tập ba pháp học vô lậu.

 

37 PHẨM TRỢ ĐẠO (tam
thập thất trợ đạo phẩm)

Đây là 37 yếu tố làm trợ lực lớn cho
hành giả trên đường tu tập cho
đến khi đạt được đạo quả
giác ngộ. Hay nói chính xác hơn, “37 phẩm trợ đạo” chính là 37 pháp
môn tu tập căn bản của đạo Phật.
Ba tháng trước ngày nhập niết
bàn, chính đức Thế Tôn đã tuyên bố:
“Các vị khất
sĩ! Những giáo pháp mà Như Lai đã truyền đạt lại tuy nhiều, nhưng có thể được tóm tắt trong các pháp môn như Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ như ý túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất giác chi, và Bát chánh đạo. Các vị phải khéo léo học hỏi, tu tập, thực chứng, và truyền đạt lại những pháp môn ấy.”

Chúng cũng
chính là nội dung của Sự
Thật Thứ Tư (đạo đế) của giáo lí Bốn Sự Thật (tứ đế). 37
pháp môn này gồm trong 7 pháp số sau
đây:

– 4
lĩnh vực quán niệm (tứ niệm xứ);

– 4
sự cần mẫn (tứ chánh cần);

– 4
phép như ý (tứ như ý túc);

– 5
khả năng (ngũ căn);

– 5
sức mạnh (ngũ lực);

– 7
yếu tố giác ngộ (thất giác chi);

– 8 nguyên tắc hành động chân
chính (bát chánh đạo).

Bảy pháp số này đều đã được
trình bày ở trước, theo đó chúng ta thấy, tất cả 37 yếu tố đều tương liên và
làm trợ duyên cho nhau, trong đó các yếu tố tinh
tấn, niệm, định và tuệ
được coi là quan trọng nhất, là những pháp môn quyết
định để cho cây giác ngộ nở hoa.

 

42 GIAI VỊ (tứ thập nhị giai vị)

Đây tức là 42
bậc trong quá trình tu tập của hàng Bồ-tát, từ thấp lên cao gồm có: 10 bậc Trụ (thập trụ), 10 bậc Hạnh (thập hạnh), 10 bậc Hồi-hướng (thập hồi
hướng)
, 10 bậc Địa (thập địa), bậc Đẳng-giác, và bậc Diệu-giác
(tức Phật quả).

 

48 LỜI NGUYỆN
(tứ thập bát nguyện)

Đây tức là 48 lời thệ nguyện
của đức Phật A Di Đà đã được phát ra từ khi Ngài còn tu tập hạnh Bồ-tát. Trong
các kinh có nội dung liên quan đến các lời nguyện này, sự ghi chép không giống
nhau, như Bình Đẳng Giác Kinh (Chi
Lâu Ca Sấm dịch vào đời Hậu-Hán) và Đại A
Di Đà Kinh
(Chi Khiêm dịch vào đời Ngô), kê ra có 24 lời nguyện; các kinh Vô Lượng Thọ (Khương Tăng Khải dịch vào
đời Tào-Ngụy), Bi Hoa (Đàm Vô Sấm dịch
vào đời Bắc-Lương), Đại Bảo Tích (Bồ
Đề
Lưu Chí đời
Đường và nhiều vị khác dịch) v.v… kê ra có 48 lời nguyện; ngoài ra
còn một vài kinh khác, hoặc nói có 36 nguyện, hoặc 46 nguyện, hoặc 49
nguyện; trong số đó, hai bản kinh Vô Lượng
Thọ
(Khương Tăng Khải dịch) và Đại Bảo
Tích
so ra nhất trí và hoàn chỉnh nhất. Nay xin theo kinh Đại Bảo
Tích
, lược kể 48 lời nguyện của tì kheo Pháp Tạng (tiền thân của đức Phật A Di Đà hồi còn tu hạnh
Bồ-tát)
như sau:

1. Quốc độ của Ngài tuyệt
không có ba dường dữ (Địa-ngục, Ngạ-quỉ và Súc-sinh);

2. Chúng sinh (trời người) ở
nước Ngài sau khi mạng chung sẽ vĩnh viễn không sinh về ba đường dữ;

3. Thân thể của tất cả chúng
sinh ở trong nước Ngài đều có sắc vàng;

4. Tất cả chúng sinh trong nước
Ngài đều bình đẳng, không có xấu đẹp khác nhau;

5. Tất cả chúng sinh trong nước
Ngài đều có túc mạng thông, biết rõ nhân duyên quá khứ;

6. Tất cả chúng sinh trong nước
Ngài đều có thiên nhãn thông, thấy suốt vô lượng Phật độ trong mười phương
không bị chướng ngại;

7. Tất cả chúng sinh trong nước
Ngài đều có thiên nhĩ thông, nghe được pháp âm của chư Phật khắp mười phương;

8. Tất cả chúng sinh trong nước
Ngài đều có tha tâm thông, biết được tâm niệm của khắp cả chúng sinh;

9. Tất cả chúng sinh trong nước
Ngài đều có thần túc thông, trong một sát na có thể đi đến khắp các Phật độ
trong mười phương;

10. Tất cả chúng sinh trong nước
Ngài đều không còn khởi niệm tham ái đối với thân thể;

11. Tất cả chúng sinh trong nước
Ngài đều thường xuyên sống trong chánh định, cho đến khi diệt độ;

12. Ánh sáng của Ngài sáng soi
vô lượng, chiếu khắp mười phương Phật độ không bị chướng ngại;

13. Thọ mạng của ngài dài lâu
vô lượng, làm lợi ích cho chúng sinh vô tận;

14. Chúng Thanh-văn ở trong nước
Ngài nhiều vô lượng vô số;

15. Thọ mạng của chúng sinh
trong nước Ngài, ngoại trừ nguyện lực riêng, đều dài lâu không có hạn lượng;

16. Tất cả chúng sinh trong nước
Ngài đều không nghe một lời bất thiện;

17. Nguyện chư Phật khắp mười
phương đều xưng tán danh hiệu (A Di Đà) của Ngài;

18. Nguyện tất cả chúng sinh
trong mười phương, nếu hết lòng tin tưởng, muốn vãng sinh về nước Ngài, chí
thành niệm danh hiệu Ngài 10 niệm, đều được Ngài tiếp dẫn về; đây là lời nguyện
trọng yếu nhất trong 48 lời nguyện của Ngài;

19. Chúng sinh trong mười
phương phát tâm bồ đề, tu các công đức, thành tâm phát nguyện vãng sinh về nước
Ngài, đến phút lâm chung, Ngài cùng thánh chúng sẽ hiện ngay trước mặt để tiếp
dẫn;

20. Chúng sinh trong mười
phương nghe danh hiệu của Ngài, nghĩ nhớ đến nước Ngài, chí thành đem mọi công
đức hồi hướng muốn sinh về nước Ngài, chắc chắn sẽ được toại nguyện;

21. Tất cả chúng sinh trong nước
Ngài đều đầy đủ 32 tướng tốt;

22. Chư vị Bồ-tát ở các quốc độ
khác, sau khi sinh về nước Ngài, ngoại trừ có bản nguyện giáo hóa riêng, tất cả
đều đạt đến địa vị “nhất sinh bổ xứ”;

23. Chư Bồ-tát ở trong nước
Ngài đều nương Phật lực, chỉ trong khoảng bữa ăn có thể đến cúng dường chư Phật
ở các Phật độ trong khắp mười phương;

24. Chư Bồ-tát ở trong nước
Ngài, trong khi cúng dường chư Phật, muốn có bao nhiêu vật phẩm để cúng dường
cũng đều có đầy đủ như ý;

25. Chư Bồ-tát ở trong nước
Ngài đều có khả năng diễn nói nhất thiết trí;

26. Chư Bồ-tát ở trong nước
Ngài đều có thân cứng chắc như kim cương, mạnh mẽ như thần Na La Diên;

27. Tất cả chúng sinh và vạn vật
trong nước Ngài đều nghiêm tịnh vi diệu, hình sắc đặc thù, dù người có thiên
nhãn thông cũng không biết rõ ràng danh số;

28. Chư Bồ-tát cho đến những
người chỉ có chút ít công đức ở trong nước Ngài đều có khả năng thấy biết sự
cao rộng và sắc sáng vô lượng của cây đạo tràng;

29. Chư Bồ-tát ở trong nước
Ngài đều thọ trì phúng tụng kinh pháp mà được trí tuệ biện tài;

30. Chư Bồ-tát ở trong nước
Ngài đều có trí tuệ biện tài vô hạn lượng;

31. Đất ở trong nước Ngài
trong sạch như gương, có thể soi thấy các Phật độ ở mười phương;

32. Vạn vật ở trong nước Ngài
đều do vô lượng châu báu và trăm ngàn thứ hương vi diệu làm thành, khiến cho
người nghe mùi hương đều tu Phật hạnh;

33. Ánh sáng của Ngài chiếu
soi khắp các thế giới trong mười phương, các chúng sinh chạm được ánh sáng ấy đều
cảm thấy thân tâm nhẹ nhàng.

34. Chúng sinh khắp thế giới
mười phương nghe được danh hiệu Ngài đều chứng được vô sinh pháp nhẫn và các
pháp môn tổng trì sâu xa;

35. Những người nữ trong mười
phương thế giới, nghe được danh hiệu Ngài liền phát tâm bồ đề, thì sau khi mạng
chung sẽ không trở lại thọ thân nữ nữa;

36. Chư Bồ-tát ở mười phương
thế giới, nghe được danh hiệu Ngài, sau khi mạng chung sẽ luôn tu phạm hạnh cho
đến khi thành Phật;

37. Hàng trời người trong khắp
mười phương thế giới, khi nghe danh hiệu Ngài liền vui mừng tin tưởng, kính lễ
và tu tập hạnh Bồ-tát, thì sẽ được tất cả trời người đều kính trọng;

38. Tất cả chúng sinh ở trong
nước Ngài, muốn có y phục thì liền có như ý;

39. Tất cả chúng sinh ở trong
nước Ngài đều hưởng được niềm vui giống như các vị tì kheo đã hoàn toàn dứt trừ
hết lậu hoặc;

40. Chư Bồ-tát ở trong nước
Ngài, nếu muốn thấy vô lượng Phật độ nghiêm tịnh trong khắp mười phương, cứ
nhìn vào cây báu thì liền thấy rõ ràng như thấy mặt mình trong gương;

41. Chư Bồ-tát ở các quốc độ
trong các phương khác, khi nghe được danh hiệu Ngài thì được các căn đầy đủ,
không bị khiếm khuyết, cho đến khi thành Phật;

42. Chư Bồ-tát ở các quốc độ
trong các phương khác, khi nghe được danh hiệu Ngài liền được an trú nơi định
thanh tịnh giải thoát, trong khoảng một niệm có thể cúng dường vô lượng chư Phật
mà không bị mất chánh định;

43. Chư Bồ-tát ở các quốc độ
trong các phương khác, khi nghe danh hiệu Ngài, sau khi mạng chung sẽ được sinh
vào gia đình tôn quí;

44. Chư Bồ-tát ở các quốc độ
trong các phương khác, nghe được danh hiệu Ngài, liền hoan hỉ tu hạnh Bồ-tát, cội
gốc công đức đầy đủ;

45. Chư Bồ-tát ở các quốc độ
trong các phương khác, nghe được danh hiệu Ngài liền được an trú trong định phổ
đẳng (thường thấy chư Phật đồng hiện tiền), cho đến khi thành Phật;

46. Chư Bồ-tát ở trong nước
Ngài đều tùy chí nguyện mà nghe pháp một cách tự tại;

47. Chư Bồ-tát ở các quốc độ
trong các phương khác, nghe danh hiệu Ngài liền tiến đến bậc bất thối chuyển;

48. Chư Bồ-tát ở các quốc độ
trong các phương khác, nghe danh hiệu Ngài liền chứng được đệ nhất, đệ nhị và đệ
tam pháp nhẫn, và các pháp bất thối chuyển.

 

52 GIAI VỊ (ngũ thập nhị giai vị)

Tiến trình tu tập của hàng Bồ-tát
gồm có 42 giai vị
(xin xem lại mục
“42 Giai Vị” ở trên)
. Nhưng có thuyết (như
trong kinh Bồ Tát Anh Lạc) đã lấy trụ
vị đầu tiên của cấp Mười-trụ, là trụ vị phát tâm
(xin xem lại mục “Mười Trụ” ở trước), lập thành một cấp trước cấp Mười-trụ, gọi là cấp Mười-tín
(xin xem lại mục “Mười Tín” ở trước); thành ra có cả thảy là 52 giai vị.

 

80 VẺ ĐẸP (bát
thập chủng hảo – bát thập tùy hảo)

Ngoài ba mươi hai tướng tốt,
đức Phật còn có thêm tám mươi vẻ đẹp; hợp chung lại gọi là “tướng hảo”. Ba mươi hai tướng tốt thì hiển lộ rõ ràng, tám mươi vẻ
đẹp thì tế nhị, ẩn mật hơn. Chuyển luân thánh vương cũng có 32 tướng tốt, nhưng
80 vẻ đẹp này thì chỉ Phật và các vị Bồ-tát lớn mới có. Kinh Đại Bát Nhã ghi tám mươi vẻ đẹp như sau:

1. Móng tay nhỏ dài, sáng sạch,
ánh màu đồng đỏ.

2. Ngón tay
và ngón chân tròn trịa, thon dài, đều thẳng, mềm mại, các đốt xương ẩn kín.

3. Hai tay,
hai chân, mỗi đôi bằng nhau, không so le, giữa kẽ các ngón đầy đặn.

4. Tay chân
viên mãn như ý, sáng láng, mềm mại, tinh sạch, màu như hoa sen.

5. Gân mạch
liền lạc chắc chắn, ẩn sâu không lộ.

6. Mắt cá
chân ẩn kín.

7. Bước đi
thẳng tới, uy nghiêm mà hiền hòa như voi chúa.

8. Bước đi
oai vệ, nghiêm chỉnh như sư tử chúa.

9. Bước đi
không gấp không hoãn, an tường như trâu chúa.

10. Bước tới,
dừng lại, cử chỉ dịu dàng như ngỗng chúa.

11. Mỗi khi
ngó lại phía sau, giống như voi chúa, mặt cùng xoay theo thân mình sang bên phải.

12. Các đốt
xương tay chân tròn trịa, đặt để khéo léo.

13. Các đốt
xương nối kết nhau không có kẽ hở.

14. Đầu gối
tròn đầy chắc chắn.

15. Những nếp
nhăn ở chỗ kín khéo đẹp, hoàn toàn thanh tịnh.

16. Thân thể
mượt mà, sáng bóng sạch sẽ, bụi đất không dính.

17. Dung mạo
đoan chính, thuần hậu, không bao giờ có nét sợ sệt.

18. Thân thể
đầy đặn, cứng chắc đủ các tướng lành.

19. Thân thể
an định, không hề lay động, viên mãn không hoại.

20. Thân tướng
như vua tiên, trước sau trái phải đều đoan nghiêm, sáng láng, khiết tịnh.

21. Thân tự
tỏa sáng ra khắp chung quanh.

22. Bụng
ngay ngắn, mềm mại, các tướng đều trang nghiêm.

23. Rún sâu,
xoáy về bên phải, sạch sẽ sáng láng.

24. Rún dầy,
không lồi không lõm.

25. Da không
bao giờ bị ngứa ngáy, ghẻ lở, không có nốt ruồi hay thịt thừa.

26. Bàn tay
mềm mại, đầy đặn, dưới bàn chân bằng phẳng.

27. Chỉ tay
sâu, dài, thẳng, rõ ràng, không đứt đoạn.

28. Môi đỏ,
bóng mượt, dưới trên tương xứng.

29. Mặt
không dài không ngắn, không lớn không nhỏ, vừa vặn đoan nghiêm.

30. Lưỡi mềm,
mỏng, rộng, dài, màu như đồng đỏ.

31. Tiếng
nói trong trẻo, rõ ràng, uy nghiêm, vang rền sâu xa như tiếng rống của voi
chúa.

32. Âm vận đầy
đủ mĩ diệu, như tiếng vang từ hang sâu.

33. Mũi cao
và thẳng, lỗ mũi không lộ ra.

34. Răng tề
chỉnh, trắng trẻo.

35. Răng cửa
tròn, nhọn bén, trắng trẻo, sáng bóng.

36. Cặp mắt
trong sáng.

37. Mắt dài,
mở rộng.

38. Lông
nheo dầy, trên dưới tề chỉnh.

39. Cặp lông
mày dài, mịn.

40. Lông mày
thuận theo một chiều, đẹp đẽ, màu xanh biếc.

41. Lông mày
cao, cong như mặt trăng non.

42. Tai dầy,
lớn, rộng, dài, trái tai đầy đặn.

43. Hai tai
cân đối, không có những khuyết điểm như tai người thường.

44. Dung
nghi khiến cho ai trông thấy cũng sinh lòng kính mộ.

45. Trán rộng,
ngay ngắn.

46. Nửa thân
trên viên mãn, uy nghiêm như sư tử chúa, không ai sánh bằng.

47. Tóc dài,
dầy và mịn, màu xanh biếc, không bạc trắng.

48. Tóc xoắn mềm mại, mùi
thơm tinh khiết.

49. Tóc đều,
không rối, không dính đùm.

50. Tóc không rụng, không đứt.

51. Tóc bóng
mượt, bụi bặm không dính bám được.

52. Thân thể
đầy đặn, cứng chắc.

53. Thân thể
cao lớn, đoan chính.

54. Các lỗ đều
trong sạch.

55. Thể lực
thù thắng, không ai sánh bằng.

56. Thân tướng,
ai nhìn cũng cảm thấy an vui, nhìn không biết chán.

57. Mặt
sáng, khiết tịnh, như trăng tròn mùa thu.

58. Hình mạo,
dung nhan thư thái, mỉm cười trước khi nói, chỉ hướng thuận mà không trái nghịch.

59. Nét mặt
tươi sáng, không bao giờ cau có.

60. Da sạch
sẽ, không cáu bẩn, không mùi hôi.

61. Lỗ chân
lông thường tiết ra mùi thơm vi diệu.

62. Trên mặt
thường thoảng mùi thơm thù thắng.

63. Đầu tròn
đều đặn, đẹp như lọng trời.

64. Lông
xanh biếc, sạch sẽ, sáng bóng, óng ánh màu đồng đỏ.

65. Pháp âm
theo chúng mà có lớn có nhỏ, nhưng không thêm không bớt, ứng với thật lí, không
sai lạc.

66. Tướng
trên đỉnh đầu không ai trông thấy được.

67. Màng ở
ngón tay ngón chân rõ ràng, trang nghiêm đẹp đẽ, ửng màu đồng đỏ.

68. Lúc đi,
chân cách mặt đất khoảng bốn ngón tay, nhưng vẫn in dấu trên mặt đất.

69. Thân tự
vững vàng, không xiêu ngã, không cần sự hộ vệ của người khác.

70. Uy đức
rúng động khắp mọi loài, kẻ ác tâm trông thấy liền sinh vui mừng, người sợ hãi
thấy liền được an ổn.

71. Âm thanh
không thấp không cao, tùy thuận tâm ý chúng sinh, hòa vui cùng lời nói.

72. Tùy thuận
các loài hữu tình mà thuyết pháp, tâm ý, lời nói, âm thanh đều vui vẻ.

73. Một lời
nói pháp, nhưng tùy từng loại chúng sinh, ai nghe cũng đều thông hiểu.

74. Thuyết
pháp y theo thứ lớp, phù hợp nhân duyên, không lời nào là bất thiện.

75. Quán sát
bình đẳng các loài chúng sinh, tán thán người lành, chê trách người ác, nhưng
không thương ghét.

76. Muốn làm
việc gì, trước quán sát, sau mới làm, đầy đủ mẫu mực.

77. Tướng tốt
của Phật, chúng sinh chiêm ngưỡng, không thể thấy trọn vẹn được.

78. Xương ót
tròn đầy, cứng chắc.

79. Dung
nhan thường trẻ, không già.

80. Tay chân
và trước ngực đều có tướng cát tường (tức chữ “VẠN”).

 

100 PHÁP (bách
pháp)

Chữ “pháp” ở đây có nghĩa là mọi sự vật trong vũ trụ, cụ thể hay trừu
tượng, bất cứ cái gì có thể cho ta một khái niệm về nó thì gọi là “pháp”. Theo tông Câu Xá – thuộc truyền
thống tiểu thừa – thì mọi sự vật trong vũ trụ được bao gồm trong 75 pháp. Nhưng
tông Pháp Tướng thuộc truyền thống đại thừa thì chia ra có 100 pháp, gồm trong
5 loại như sau:

 

I.
SẮC PHÁP
(là các hiện tượng vật
chất), gồm có 11 pháp:

1. nhãn: mắt

2. nhĩ: tai

3. tị: mũi

4. thiệt: lưỡi

5. thân: thân thể

6. sắc: hình tướng và màu sắc (dài, ngắn, vuông, tròn, lớn,
nhỏ, cao, thấp, ngay, xẹo, cong, sáng, tối, bóng, khói, mù, xanh, vàng, đỏ, trắng
v.v…)

7. thanh: âm thanh (tiếng nói, tiếng kêu, tiếng động, tiếng
vang, tiếng vừa ý, tiếng không vừa ý v.v…)

8. hương: các thứ mùi (thơm, hôi, không thơm không hôi, mùi tự
nhiên, mùi chế tạo v.v…)

9. vị: các thứ vị nếm (cay, đắng, chua, ngọt, mặn, lạt, bùi,
béo, chát v.v…)

10. xúc: sự chạm xúc (đất, nước, gió, lửa, nhẹ, nặng, trơn,
nhám, lạnh, nóng, ấm, cứng, mềm, no, đói, khát, đã khát, mạnh, yếu, dính, bịnh,
già v.v…)

11. pháp: các ý tượng (tức bóng dáng của năm trần – sắc, thanh, hương, vị, xúc – ở trên còn
lưu lại trong ý thức)

(Tông Câu Xá
chia “sắc pháp” có 11 pháp, gồm 5 giác quan, 5 đối tượng của giác quan, và 1
“vô biểu sắc”.)

 

II. TÂM PHÁP (các hiện tượng tâm lí ở phương diện nhận thức, danh
từ Duy Thức Học còn gọi là TÂM VƯƠNG), gồm có 8 pháp – tức là 8 THỨC:

12. nhãn
thức:
mắt thấy biết có cảnh vật

13. nhĩ
thức:
tai nghe biết có âm thanh

14. tị
thức:
mũi ngửi biết có mùi hương

15. thiệt
thức:
lưỡi nếm biết có vị

16. thân thức: thân đụng chạm biết có cảm xúc

17. ý
thức:
ý biết có các ý tượng và ảnh
tượng

18. mạt-na
thức:
khả năng suy lường, chấp
ngã

19. a-lại-da thức: khả năng chứa đựng, giữ gìn hạt giống và phát hiện ra
vạn pháp

(Tông Câu Xá
cho rằng, “tâm pháp” chỉ có 1 – tức là tâm thức, nhưng đương nhiên là nó hoạt động
qua 5 ngả đường tương ứng với 5 giác quan.)

 

III. TÂM SỞ PHÁP (các hiện tượng tâm lí ở phương diện thuộc tính của tâm vương – hay 8 thức), có 51 pháp – tức là 51 TÂM SỞ,
gồm trong 6 nhóm:

A. Biến Hành:

“Biến hành”
là hoạt động cùng khắp, là những hiện tượng tâm lí “tương ưng” (tức là liên hiệp được, hay hiện diện hoạt động) với tất cả 8 thức, bất cứ lúc nào có thức hoạt động thì những tâm sở này cùng xuất hiện; có 5 tâm sở:

20. xúc: sự tiếp xúc giữa các căn và các trần cảnh

21. tác ý: sự chú ý, sự kích thích để phát sinh nhận thức

22. thọ: cảm thọ khó chịu, dễ chịu, hay không khó chịu cũng
không dễ chịu, do cảm giác cung cấp

23. tưởng: tri giác, là sự nhận biết đối tượng (một người, một vật,
một sự việc…)

24. tư: sự quyết định, từ đó phát sinh ra các hiện tượng tâm
lí khác, cùng các hành động của miệng lưỡi (khẩu) và thân thể (thân), tức là tạo
nghiệp

B. Biệt Cảnh:

“Biệt cảnh”
là không hoạt động cùng khắp, là những tâm sở chỉ liên hiệp hoạt động với “sáu thức trước” mà thôi; có 5 tâm sở:

25. dục: ham muốn, mong cầu

26. thắng giải: hiểu biết rõ ràng, không nghi ngờ

27. niệm: nhớ, kí ức

28. định: tác dụng làm cho thức và các tâm sở khác tập trung vào
một đối tượng, không tán loạn

29. tuệ: biết sự vật một cách sáng tỏ, nhưng không chắc là biết
đúng – khác với “tuệ giác” là trí tuệ
giác ngộ. Bởi vậy có thể nói, tâm sở “tuệ”
này chính là thuộc tính đặc biệt của thức
mạt-na,
vì thức này luôn luôn thấy rõ rằng “có TA và những gì THUỘC VỀ TA”;
cái thấy đó tuy là sáng tỏ nhưng là cái thấy sai lầm.

(Tông Câu Xá gồm chung hai nhóm trên lại thành một nhóm gọi là “Những
tâm sở có nhiệm vụ tổng quát” – biến đại địa pháp).

C. Thiện:

“Thiện”
các đức tính tốt; có 11 tâm sở:

30. tín: tin tưởng

31. tàm: tự biết xấu hổ với lầm lỗi của mình

32. quí: biết tự thẹn khi thấy mình không trong sạch, không cao
thượng như người

33. vô tham: gặp thuận cảnh không sinh lòng tham trước

34. vô sân: gặp nghịch cảnh không sinh lòng oán giận

35. vô si: sáng suốt, thấy biết đúng với sự thật

36. cần: siêng năng tu tập thiện nghiệp

37. khinh an: thư thái, nhẹ nhàng

38. bất phóng dật: không buông lung theo dục vọng

39. hành xả: tâm niệm bình đẳng, không vướng mắc, không chấp trước,
không so đo phân biệt

40. bất hại: không có ý làm thương hại người khác

(Tông Câu Xá liệt kê các tâm sở “thiện” này chỉ gồm có 10 tâm sở –
không có “vô sân”.)

D. Phiền Não:

Đây là các “phiền não gốc rễ”, khó diệt trừ; có 6
tâm sở:

41. tham: thấy gì vừa ý thì tham, muốn chiếm đoạt

42. sân: gặp điều không vừa ý thì oán giận

43. si: vô minh, không sáng suốt

44. mạn: kiêu mạn, tự cao

45. nghi: ngờ vực, do dự

46. ác kiến: thấy biết sai lạc – tức là “Năm Cái Thấy Sai Lạc”, như đã trình bày
ở trước.

(Tông Câu Xá gọi nhóm này là “đại phiền não”, và ngoại trừ “si” –  tức “vô minh”, 5 tâm sở kia hoàn toàn khác biệt,
gồm có: trạo cử, hôn trầm, bất tín, giải đãi, và phóng dật.)

E. Tùy Phiền Não:

Đây là các thứ “phiền não phụ thuộc” của các phiền não
gốc rễ ở trên, dễ diệt trừ hơn, gồm có 20 tâm sở; lại chia làm 3 nhóm nhỏ:

a)
Xấu nhẹ (tiểu tùy)
, có 10 tâm sở:

47. phẫn: nóng giận, bực tức, cộc cằn

48. hận: oán hờn

49. phú: che dấu tội lỗi

50. não: buồn phiền, bứt rứt, ẩn ức không yên

51. tật: ganh ghét

52. xan: bỏn sẻn, keo kiệt

53. cuống: dối gạt

54. siểm: nịnh hót, gièm siểm

55. hại: có ý làm thương hại người

56. kiêu: khoe khoang, tự kiêu, tự phụ

b)
Xấu vừa (trung tùy)
, có 2 tâm sở:

57. vô tàm: làm lỗi mà không biết tự xấu hổ

58. vô quí:
tài đức không bằng người mà không biết
tự thẹn

c) Xấu nặng (đại tùy), có 8 tâm sở:

59. trạo cử: chao động không yên

60. hôn trầm: mê muội, dật dờ, trì trệ

61. bất tín: đa nghi, không tin tưởng

62: giải đãi: biếng nhác, bê trễ

63. phóng dật: buông lung, buông trôi

64. thất niệm: lãng quên, không có chánh niệm

65. tán loạn: xao xuyến, rối loạn

66. bất chánh
tri:
hiểu lầm, biết không chính
xác

(Tông Câu Xá liệt kê các “tùy phiền não” có 12 tâm sở, gồm trong 2
nhóm: – “đại bất thiện”, có 2 tâm sở: vô tàm và vô quí; – và “tiểu phiền não”,
có 10 tâm sở: phẫn, hận, phú, não, tật, xan, cuống, siểm, hại, và kiêu.)

G. Bất Định:

“Bất định”
là những tâm sở không thuộc về thiện cũng không thuộc về bất thiện, hoặc giả,
chúng có thể là thiện mà cũng có thể là bất thiện; có 4 tâm sở:

67. hối: hối hận về sự việc đã làm

68. miên: ngủ

69. tầm: suy tư, tìm hiểu phần dễ thấy của sự lí

70. từ: suy tư, nghiên cứu, phân tích để hiểu rõ phần sâu sắc
của sự lí

(Tông Câu Xá
liệt kê nhóm “bất định” này, ngoài 4 tâm sở trên đây còn có thêm 4 tâm sở nữa:
tham, sân, mạn, nghi; tất cả là 8 tâm sở. – Như vậy, so với 51 tâm sở của tông
Pháp Tướng thì tông Câu Xá chỉ liệt kê có 46 tâm sở.)

 

IV. TÂM BẤT TƯƠNG ƯNG HÀNH PHÁP: những hiện tượng không
thuộc
(nhưng có liên hệ với) tâm, tâm
sở, hay sắc pháp
ở trên; có 24 pháp:

71. đắc: cái tính cách từ đó các pháp có được hình sắc và tính
chất của mình – ví dụ: nước có thể lỏng, không màu sắc, trong suốt, ướt, lưu nhuận
v.v…; đó cũng là cái năng lực làm cho một người có (đạt) được một vật – ví dụ:
tôi có (được) quyển sách, Tổ Điều Ngự Giác Hoàng đạt (được) quả vị giác ngộ
v.v…

72. mạng căn: tính cách từ đó sinh mạng được duy trì

73. chúng đồng
phận:
tính cách từ đó chúng sinh
trong mỗi loài có cùng chung một quả báo đồng nhất

74. dị sinh
tánh:
cái năng lực làm cho có bản
tính phàm phu, đầy tà kiến, khác với thánh nhân

75. vô tưởng định: sự tu tập vô tâm định để đạt được quả Vô-tưởng

76. diệt tận định: sự tu tập rốt ráo, vượt cả vô tâm định, không còn cả
thọ và tưởng, chứng đắc quả A-la-hán

77. vô tưởng quả: tính cách làm cho chúng sinh ở cõi trời Vô-tưởng, cả
tâm lẫn tâm sở đều tiêu mất

78. danh thân: các tên gọi để chỉ cho sự vật

79. cú thân: những lời nói để diễn tả sự vật

80. văn thân: văn tự dùng để ghi chép những gì thuộc về “danh thân”
và “cú thân” ở trên

81. sinh: tính cách từ đó các pháp được sinh thành

82. trụ: tính cách từ đó các pháp được tồn tại

83. lão (dị): tính cách từ đó các pháp bị biến đổi, suy hoại

84. vô thường
(diệt):
tính cách từ đó các pháp
bị tiêu mất

85. lưu chuyển: tính cách làm cho mọi loài cứ phải quanh quẩn trong
vòng luân hồi

86. thứ đệ: tính cách làm cho mọi sự vật có thứ lớp, có trật tự

87. định dị:
tính cách làm cho mọi sự vật dù khác biệt
nhau nhưng luật nhân quả tác động trên mỗi sự vật vẫn phân minh, không lộn xộn,
không hồ đồ

88. phương: phương hướng

89. thời: thời gian

90. tương ưng: tính cách làm cho các sự vật ăn khớp, tương ứng nhau,
liên hiệp hoạt động với nhau

91. thế tốc: tính cách làm cho vạn pháp sinh diệt tương tục từng
sát na, di chuyển theo vận tốc

92. số: tính cách làm cho sự vật có thể hay không thể đếm được

93. hòa hiệp
tánh:
tính cách làm cho sự vật
hòa hợp được với nhau

94. bất hòa hiệp
tánh:
tính cách làm cho sự vật
không hòa hợp được với nhau

(Tông Câu Xá
liệt kê nhóm “tâm bất tương ưng hành pháp” này gồm có 14 pháp – không có 11 pháp: dị sinh tánh, lưu
chuyển, thứ đệ, định dị, phương, thời, tương ưng, thế tốc, số, hòa hiệp tính, bất
hòa hiệp tính; nhưng thêm 1 pháp:
phi đắc, cái năng lực làm cho một vật không còn thuộc sở hữu chủ của nó nữa).

 

V. VÔ VI PHÁP: những hiện tượng không
bị lệ thuộc vào nhân duyên
; có 6 pháp:

95. trạch diệt
vô vi:
cảnh giới niết bàn đạt được
do sự dùng trí tuệ tiêu diệt tận cùng mọi phiền não

96. phi trạch
diệt vô vi:
thể tính tịch diệt vốn
đã hiển nhiên – không phải do sức trí tuệ tận diệt phiền não mà có

97. hư không vô
vi:
tính cách không làm chướng ngại
cho bất cứ pháp nào và cũng không bị bất cứ pháp nào làm cho chướng ngại, gần
giống
như tính chất của hư không – nói là “gần giống” vì hư không vẫn không phải là vô vi; hư
không còn có thể được trông thấy; tuy nó không làm chướng ngại cho mọi vật
nhưng lại bị mọi vật làm cho chướng ngại, như sức thấy của mắt, sức nghe của
tai v.v… đều có giới hạn, hơn nữa, hư không thường bị lồng vào các khuôn khổ
khác nhau như rộng, hẹp, vuông, tròn v.v…

98. bất động vô
vi:
thể tính của niết bàn là như
như, tĩnh lặng

99. tưởng thọ
diệt vô vi:
trạng thái của sự tận
diệt mọi tư tưởng và cảm thọ – cũng tức là niết bàn

100. chân như
vô vi:
bản thân của vạn pháp

(Tông Câu Xá
liệt kê chỉ có 3 pháp vô vi – không có 3 pháp vô vi bất động, tưởng thọ diệt,
và chân như.)

 

Trong 5 loại
của 100 pháp trên đây, 4 loại đầu (sắc,
tâm, tâm sở, tâm bất tương ưng hành)
thuộc về pháp hữu vi, và loại sau cùng
thuộc về pháp vô vi. “Hữu vi” là có tạo tác, có điều kiện sinh khởi, có các
tướng trạng sinh (sinh thành), trụ (tồn tại), dị (tiêu mòn), diệt (hủy
diệt), và tất cả đều có thể khái niệm được. “Vô vi”, hay chân lí, niết bàn,
pháp tính, pháp giới, đều là những tên gọi khác nhau của cùng một thể tính.
Đúng ra thì vô vi không thể được gọi là “pháp” vì nó không thể đạt được bằng
khái niệm, không thể dùng ý lự, ngôn từ để phân biệt, gọi tên, nhưng vì trí óc
chúng ta không thể nào đạt tới thế giới vô niệm, cho nên bắt buộc phải khái niệm
hóa vô vi, là sự giả lập gọi tên, là cánh cửa để đưa hành giả đi vào thế giới vô
niệm. Theo sự giả lập đặt tên đó, 5 pháp
vô vi đầu
đề cập đến tướng trạng
của pháp tính, còn pháp vô vi chót, chân
như
, đề cập đến tự thể của pháp
tính; hay nói cách khác, 5 pháp vô vi đầu, cả thể tính và tên gọi, đều chỉ vì
phương tiện mà giả lập nên, thực ra, cuối cùng chỉ có “chân như vô vi” là thể
tính của vạn pháp
mà thôi; nhưng ngay cả cái danh xưng “chân như” cũng chỉ là giả lập mà có.

(So với 100
pháp của tông Pháp Tướng thì tông Câu Xá liệt kê chỉ có 75 pháp mà thôi.)

  

108 PHIỀN NÃO (bách
bát phiền não)

Theo sự giải thích của tông
Thiên Thai, khi 6 căn tiếp xúc với 6
trần, mỗi căn đều có 3 cảm thọ (khổ,
vui và không khổ không vui); vậy, 6 căn có tất cả là 18 cảm thọ, đó là 18 loại
phiền não
. Lại nữa, vì mỗi căn có 3 loại cảm thọ cho nên sẽ sinh ra 3 tình cảm ghét, thương và không ghét không
thương; cộng 6 căn có tất cả là 18 loại tình cảm, đó cũng là 18 loại
phiền não
. Cộng 18 loại phiền não ở trên với 18 loại phiền não này, thì
có cả thảy là 36 loại phiền não; phối hợp với cả 3 đời (quá khứ, hiện tại và vị lai), có tất cả là 108
phiền não
.

 

1.250 VỊ TÌ KHEO (thiên
nhị bách ngũ thập nhân)

Ở đầu các kinh thường ghi rõ
con số 1.250 vị tì kheo luôn luôn theo Phật nghe pháp. Con số ấy gồm có:

Bạn bè của tôn giả Da Xá: 50
vị.
Sau khi thành đạo, đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã đến vườn Lộc-dã (ở ngoại
ô thành Ba-la-nại) chuyển bánh xe pháp đầu tiên hóa độ cho nhóm 5 vị sa môn do
Kiều Trần Như đứng đầu. Sau đó, Da Xá, con trai của một vị trưởng giả hào phú
trong thành Ba-la-nại, vì nhàm chán cuộc sống trụy lạc, một ngày nọ vào lúc nửa
khuya đã bỏ nhà ra đi tìm sự thanh thoát cho tâm hồn; và do duyên lành, chàng đã
vô tình đi tới vườn Lộc-giã, được đức Phật hóa độ, bèn xin xuất gia, trở thành
vị thánh tăng thứ sáu. Lúc ấy, 50 thanh niên (có nơi nói là 54 người) bạn thân
của Da Xá, nghe Da Xá đã xuất gia thì rất vui mừng, bèn cùng nhau tìm đến Lộc-dã,
xin theo Phật xuất gia. Bấy giờ, ngoài 6 vị thánh tăng (tức 5 vị tôn giả nhóm
Kiều Trần Như và tôn giả Da Xá), 50 thanh niên bạn của tôn giả Da Xá, đã trở thành
50
vị tì kheo đầu tiên
của giáo đoàn.

Đồ chúng của tôn giả Ưu Lâu Tần
Loa Ca Diếp:
500 vị.
Tôn giả Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp nguyên là vị lãnh đạo
của giáo phái thờ thần Lửa, mở đạo tràng dạy dỗ đồ chúng tại thôn Ưu-lâu-tần-loa,
thuộc nước Ma-kiệt-đà. Đức Phật ngự tại vườn Lộc-dã nửa năm để dạy dỗ chư vị đệ
tử. Khi xét thấy chư tăng trí tuệ và phạm hạnh đều vẹn toàn, đầy đủ khả năng hóa
đạo, Ngài bèn giao cho họ trách nhiệm hoằng truyền chánh pháp; rồi Ngài đi về
thăm lại thôn Ưu-lâu-tần-loa. Tại đây Ngài đã hóa độ cho đạo sĩ Ưu Lâu Tần Loa
Ca Diếp. Sau khi vị đạo sĩ này qui y Phật và xuất gia, thì tất cả 500 đồ đệ của
ông cũng đều xin xuất gia theo Phật, trở thành 500 vị tì kheo.

Đồ chúng của tôn giả Na Đề Ca Diếp:
250 vị.
Người em kế của tôn giả Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp là đạo sĩ Na Đề Ca
Diếp, cũng thờ thần Lửa, và đang hướng dẫn đồ chúng tu hành ở xứ Na-đề gần đó,
thấy anh mình đã xuất gia theo Phật, cũng đến Ưu-lâu-tần-loa xin Phật độ cho xuất
gia; và tất cả 250 đồ đệ của ông cũng đồng lòng xin xuất gia, trở thành 250 vị
tì kheo
.

Đồ chúng của tôn giả Già Da Ca Diếp:
250 vị.

Người em út của tôn giả Ưu
Lau Tần Loa Ca Diếp là đạo sĩ Già Da Ca Diếp, cũng thờ thần Lửa, và đang hướng
dẫn đồ chúng tu hành ở xứ Già-da gần đó, đã dẫn tất cả 250 đồ chúng của mình,
theo đạo sĩ Na Đề Ca Diếp cùng đến Ưu-lâu-tần-loa xin Phật độ cho xuất gia, trở
thành 250 vị tì kheo.

Đồ chúng của hai tôn giả Xá Lợi
Phất và Mục Kiền Liên:
200 vị.
Năm thứ hai sau ngày thành đạo, đức Phật
ngự tại tu viện Trúc-lâm ở ngoại ô thành Vương-xá. Bấy giờ ở gần thành Vương-xá
có hai vị đạo sĩ Bà-la-môn lỗi lạc là Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên, vừa là bạn
thân của nhau, vừa có cùng chung ý chí tìm cầu chân lí và con đường giải thoát đích
thực. Lúc ấy nhân duyên thuần thục, họ được gặp Phật ở Trúc-lâm, liền xin xuất
gia, và trở thành hai vị đệ tử hàng đầu của Phật. 200 đồ chúng đang tu học với
hai vị tôn giả này, thấy vậy, cũng cùng xin theo thầy đến Trúc-lâm xin xuất gia
theo Phật, trở thành 200 vị tì kheo.

Cộng 5 nhóm trên lại (50 +
500 + 250 + 250 + 200), có tất cả là 1.250 vị tì kheo; trong đó, ngoại trừ
50 thanh niên bạn bè của tôn giả Da Xá, số 1.200 vị còn lại, đều nguyên là các
sa môn ngoại đạo, tuy khổ công học đạo mà không đạt được thành quả gì thù thắng.
Đến khi được Phật giáo hóa, thì chỉ trong một thời gian ngắn, tất cả 1.250 người
ấy đều chứng thánh quả A-la-hán, giải thoát sinh tử. Vì cảm niệm ân đức sâu dầy
của Phật, họ nguyện luôn luôn tùy tùng Phật tham dự nghe pháp ở tất cả các pháp
hội, được gọi là “thường tùy chúng”.
Vì vậy mà ở đầu các kinh, phần giới thiệu thính chúng tham dự nghe pháp, thường
có câu: “1.250 vị tì kheo đều đầy đủ.”

 

3.000 ĐẠI THIÊN THẾ GIỚI (tam thiên thế giới – tam thiên đại thiên thế giới)

Nói đến “đại thiên thế giới”
thì lấy “tiểu thế giới” làm đơn vị căn bản để tính. Một tiểu thế giới là một hệ
thống thế giới gồm có: Ở trung ương là núi Tu-di, xuyên suốt qua biển lớn, đứng
sừng sững trên địa luân. Dưới địa luân là kim luân. Dưới nữa là thủy luân. Dưới
thủy luân là phong luân. Bên ngoài phong luân thuộc về hư không.

Núi Tu-di, phần giữa thì nhỏ,
phần trên và phần dưới đều lớn; cõi trời Tứ-vương ở bốn mặt sườn núi; cõi trời
Đao-lợi ở trên đỉnh núi. Chung quanh chân núi được bao bọc bởi bảy lớp núi vàng
và bảy lớp biển nước thơm – cứ một lớp biển thì một lớp núi, xen kẽ nhau. Ngoài
lớp núi vàng có biển mặn. Ngoài biển mặn có núi Đại-thiết-vi, vây tròn như lan
can, hình trạng gần giống như phần dưới của cái cối xay.

Tầng hư không ở phía trên các
cõi trời Tứ-vương và Đao-lợi, có các cõi trời Dạ-ma, Đâu-suất, Hóa-lạc và
Tha-hóa-tự-tại; đó là sáu cõi trời Dục giới. Trên nữa là mười tám cõi trời Sắc
giới và bốn cõi trời Vô-sắc giới. Trên không của biển mặn, ở mỗi phương Đông,
Nam, Tây, Bắc, đều có vô số tinh vân, trong đó có vô số thái dương hệ, vô số thế
giới. Tinh vân ở trên không phía Đông của biển mặn được gọi là châu Đông Thắng-thân;
phía Nam gọi là châu Nam Thiệm-bộ; phía Tây gọi là châu Tây Ngưu-hóa; phía Bắc
gọi là châu Bắc Câu-lô. Cả thảy chín núi, tám biển, bốn châu, sáu cõi trời Dục
giới như thế, lại thêm ba tầng trời của cõi Sơ-thiền bao trùm ở trên nữa, là một tiểu thế giới. Hợp lại 1.000 tiểu thế giới như thế, với 3
tầng trời của cõi Nhị-thiền
bao trùm ở trên, là một tiểu thiên thế giới.
Hợp lại 1.000 tiểu thiên thế giới, với
3 tầng trời của cõi Tam-thiền bao
trùm ở trên, là một trung thiên thế giới. Hợp lại 1.000 trung thiên thế giới, với 9
tầng trời của cõi Tứ-thiền và bốn cõi trời Không
bao trùm ở trên, là một đại
thiên thế giới
.

Đại thiên thế giới, trong đó
ba bội số ngàn, cho nên cũng được
gọi là “ba ngàn đại thiên thế giới” (tam thiên đại thiên thế giới),
hay ngắn gọn hơn là “ba ngàn thế giới” (tam thiên thế giới).

Như vậy, tam thiên thế giới
hay tam thiên đại thiên thế giới, không phải gồm có 3.000 thế giới, mà là:
(1.000 x 1.000 x 1.000 =) 1.000.000.000,
tức một tỉ thế giới.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

 

Con Đường Chuyển Hóa (Kinh Bốn Lĩnh Vực Quán Niệm). Nhất Hạnh dịch và chú giải.

Di Giáo Tam Kinh. Thích Thiện Huệ dịch và chú giải.

Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Thiển Thích (Hán). Tuyên
Hóa thượng nhân giảng thuật. Pháp Giới Phật Giáo Tổng Hội, Đài-bắc, 1986.

Đạo Phật Áp Dụng Vào Đời Sống Hằng Ngày. Huyền Quang và Nhất Hạnh. Lá Bối, Paris, 1981.

Đạo Phật Hiện Đại Hóa. Nhất Hạnh. Lá Bối, San Jose, 1985.

Đạo Phật Ngày Nay. Nhất Hạnh. Lá Bối, San Jose, 1985.

Đức Phật và Phật Pháp. Phạm Kim Khánh dịch. Chùa Khánh-Anh, Paris.

Đường Xưa Mây Trắng. Thích Nhất Hạnh. Lá Bối, San Jose, 1992.

Giới Tiếp Hiện Chú Giải. Nhất Hạnh. Lá Bối, Paris, 1985.

Hiện Đại Phật Giáo Văn Tuyển (Hán). Trương Man Đào. Đại Thừa Văn Hóa, Đài-bắc,
1982.

Kinh Bát Đại Nhân Giác. Nhất Hạnh dịch và giới thiệu.

Kinh Chuyển Pháp Luân (trích từ tạng Pali). Huỳnh Văn Niệm dịch.

Kinh Đại Bát Niết Bàn. Thích Trí Tịnh dịch.

Kinh Hoa Nghiêm. Thích Trí Tịnh dịch.

Kinh Pháp Ấn.
Nhất Hạnh dịch và chú giải.

Kinh Pháp Hoa.
Thích Trí Tịnh dịch.

Nẻo Vào Thiền Học. Nhất Hạnh. Lá Bối, Paris, 1980.

Những Bước Tu Thiền. Thích Thanh Từ. Suối Trắc-bá, Canada.

Phật Học Đại Từ Điển (Hán). Đinh Phúc Bảo. Thiên Hoa, Đài-bắc, 1984.

Phật Học Phổ Thông. Thích Thiện Hoa. Phật Học Viện Quốc Tế, California, 1987.

Phật Học Thường Kiến Từ Vựng (Hán). Trần Nghĩa Hiếu cư sĩ. Văn Tân, Đài-bắc, 1990.

Phật Học Từ Điển. Đoàn Trung Còn. Chùa Khánh- Anh, Paris, 1985.

Phật Quang Đại Từ Điển (Hán). Từ Di chủ biên. Phật Quang Văn Hóa Sự Nghiệp Hữu
Hạn Công Ti, Đài-bắc, 1997

Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức. Nhất Hạnh. Lá Bối, Paris, 1982.

Tam Tạng Pháp Số (Hán). Thích Nhất Như pháp sư.
Từ Vân Sơn Trang, Đài-loan, 1996

Tám Quyển Sách Quý. Thích Thiện Hoa. Thành Hội Phật Giáo TP. Hồ Chí Minh, 1990.

Thánh Giả Đích Cố Sự (Hán). Thích Thánh Nghiêm soạn. Đông Sơ Xuất Bản Xã, Đài-bắc,
1990.

Thiền Qua Tranh Chăn Trâu. Trúc Thiên và Tuệ Sỹ.

Trái Tim Mặt Trời. Nhất Hạnh. Lá Bối, Paris, 1982.

Trung Anh Phật Học Từ Điển (Hán – Anh). William Edward Soothill và Lewis Hodous.
Phật Quang, Cao-hùng, 1982.

Tu Học Phật.
Bổn Nguyên cư sĩ. Gia-định, 1973.

Vấn Đề Nhận Thức Trong Duy Thức Học. Nhất Hạnh. Lá Bối, Paris, 1978.

Việt Nam Phật Giáo Sử Luận II. Nguyễn Lang. Lá Bối, Paris, 1978.

 

Xem thêm: https://www.phaphay.com/phat-phap/

Nguồn: https://www.niemphat.vn/

Add Comment