Một cõi tịnh trong mỗi con người chúng ta

Một cõi tịnh trong mỗi con người chúng ta 1

Dagpo Rimpoché là vị Lạt-ma đầu tiên đến Pháp và lưu ngụ từ năm
1960.
Hiện nay Ngài đang quản lý một trung tâm Phật giáo trong vùng
Paris.
Theo Ngài thì nếu muốn đến gần hơn với Niết bàn và xa lánh cõi
Ta bà
thì cần phải dựa vào sự tu tập thiền định lâu dài để vượt lên
trên ảo giác của cái ngã.

 

Vài lời giới thiệu của người dịch:

 

                Nguyệt san “Le
Monde des Religions
” chuyên đề về tôn giáo, thuộc một tổ hợp báo chí
uy tín của nước Pháp, trong số 41 (tháng 5 và 6, 2010) đã mang chủ đề “Hạnh
Phúc thật sự
” ra bàn thảo. Những quan điểm về hạnh phúc của các vị
sáng lập ra các tôn giáo lớn cũng như của các triết gia từ đông sang tây, từ
nhiều ngàn năm trước cho đến gần đây hơn gồm có : Đức Phật, Lão tử, Socrate,
Platon, Aristote, Epicure, Qohelet, Jésus, Epictète, Mohammed, Montaigne,
Spinosa, Schopenhauer đều đã được nêu lên. Hình của Đức Phật được trình nơi
trang bìa và theo thứ tự thì Đức Phật cũng được nêu lên trước các vị kia, nhưng
bài báo phỏng vấn Ngài Dagpo Rimpoché về hạnh phúc theo
quan điểm Phật giáo thì lại được xếp vào những trang cuối cùng. Tất cả những bài
viết đều do các học giả lỗi lạc phụ trách. Càng đọc càng say mê trước trí thông
minh đa dạng thúc đẩy bởi ít nhiều xung động trong lòng của từng vị. Các xung động
ấy được hiển lộ qua những cách nhìn khác nhau, từ thực tế, khôn ngoan, khéo léo,
sâu xa, lạc quan, yếm thế, hoặc mang ít nhiều mê tín hay đôi khi cũng phảng phất
một chút từ tâm nào đó về nhân loại trong thế giới này. Tuy nhiên khi đọc đến những
dòng đàm thoại với Ngài Dagpo Rimpoché thì dường như chúng ta đi lạc vào một thế
giới khác của tôn giáo, của triết học và khoa học, người ta có cảm giác dường như
các bài viết trình bày trong các trang trước là có dụng ý làm nổi bật hơn bài đàm
thoại với Ngài Dagpo Rimpoché (?).

                Khi bước vào thế kỷ XXI này, chúng
ta đều phải công nhận là các hệ tư tưởng lớn, các chủ thuyết chính trị không tưởng,
kể cả các hệ thống kinh tế toàn cầu đều sụp đổ. Tư bản chủ nghĩa cứng rắn cũng
như Cộng sản chủ nghĩa dưới hình thức tập thể đều bị lỗi thời. Như vậy thì những
gì sẽ còn lại cho chúng ta hôm nay ? Có phải chăng là một sự giải thoát cá
nhân? Có phải là một thứ hạnh phúc mà chính chúng ta phải tự tạo lấy cho mình
hay không ?

                Nếu đúng như thế thì mỗi người
phải biết quan tâm đến cái Hạnh phúc của chính mình. Có nhiều loại hạnh phúc :
có những thứ hạnh phúc ở những nơi rất cao xa và còn phải chờ đợi, có những thứ
hạnh phúc dựa vào sự khôn ngoan và khéo léo, và cũng có những thứ hạnh phúc phải
bịt mắt lại mới thấy… Vậy thì cái Hạnh phúc nào sẽ được Ngài Dagpo Rimpoché trình
bày qua bài chuyển ngữ dưới đây ?

 Bìa
tạp chí “Le Monde des Religions” số tháng 5 và 6 năm 2010.

 
             Dagpo Rimpoché sinh vào tháng 2 năm
1932 tại tỉnh Kongpo thuộc vùng đông-nam Tây tạng. Khi Ngài chưa đầy một tuổi
thì vị Đạt-lai Lạt-ma thứ XIII là Thoupten Gyatso (1875-1933) đã xác nhận Ngài
là hóa thân của đại sư Bamtcheu Rimpoché sống vào hậu bán thế kỷ XIX. Khi được
sáu tuổi thì Ngài xuất gia. Đến hai mươi bốn tuổi thì Ngài được đưa đi tu học tại
một tu viện đại học rất lớn là Drépoung thuộc miền trung Tây tạng. Tại đây Ngài
đã được thụ giáo với nhiều vị thầy thuộc học phái Cách-lỗ (Guelougpa) và đã lưu
lại nơi này cho đến ngày người dân Tây tạng nổi lên khởi nghĩa vào năm 1959.
Sau tám năm sống dưới ách cai trị của Trung quốc, Ngài tìm cách vượt Hy-mã Lạp-sơn
và đã may mắn đến được đất Ấn.       Tại Ấn
độ Ngài gặp được một số giáo sư đại học người Pháp đã sang đây và những vị này
đã mời Ngài hợp tác trong các công cuộc nghiên cứu và dịch thuật mà họ đang thực
hiện. Nhờ thế Ngài đã sang Pháp từ năm 1960 và là vị Lạt-ma Tây tạng đầu tiên lưu
lại xứ sở này. Ngài dạy ngôn ngữ và văn minh Tây tạng tại Viện ngôn ngữ học và
văn minh Đông phương tại Paris. Hiện nay thì Ngài quản lý viện Ganden Ling tại
Veneux-les-Sablon thuộc vùng Paris một nơi gần với tỉnh Fontainebleau, và tại đây
Ngài phụ trách nhiều khóa giảng dạy về Phật giáo. Ngoài ra Ngài còn thiết lập
được nhiều trung tâm Phật giáo khác tại Pháp, Hòa lan, và cả ở vùng Đông nam Á,
nhất là tại Ấn độ, nơi mà Ngài thường xuyên quay về để giảng dạy tại tu viện do
Ngài thành lập trước đây.

 

Hạnh phúc đối với Phật giáo là gì ? 

 

            Trong tư tưởng Phật giáo thì màu sắc
của hạnh phúc gồm nhiều sắc thái đậm nhạt khác nhau, từ những thể dạng tạm bợ
cho đến tối hậu. Dầu sao đối với ý nghĩa trọn vẹn của nó thì hạnh phúc
“đích thực” phải được hiểu như là một thứ hạnh phúc hiện hữu trong một
tư thế thăng bằng và bền vững. Vì thế “hạnh phúc thực sự” rất khác biệt
với các thứ “hạnh phúc thông thường” chỉ gồm có những cảm nhận mang tính
cách thích thú hay hân hoan và đó chỉ là những gì thật biến động và phù du. Chu
kỳ hiện hữu của chúng ta lệ thuộc vào vô số điều kiện và cái chu kỳ ấy cũng
chính là thế giới Ta bà. Trong cái thế giới đó thì sự sinh và cái chết đều thoát
ra ngoài tầm chủ động của chúng ta và do đó chúng ta không thể nào tìm ra được
hạnh phúc tối thượng – tức là một thứ hạnh phúc vĩnh cữu.

            Ý thức được điều đó sẽ khiến phát
sinh trong chúng ta niềm ước vọng vượt thoát ra khỏi vòng ràng buộc của thế giới
Ta bà. Đó là giải pháp hữu hiệu duy nhất vì hễ còn tiếp tục hiện hữu dựa vào một
cơ sở do những thứ “cấu hợp bằng điều kiện mà có”, tức là một thân
xác và một tâm thức còn khiếm khuyết, thì bất cứ thứ hạnh phúc nào dù lớn lao cách
mấy đi nữa thì đến một lúc nào đó cũng sẽ làm phát sinh ra khổ đau, tức là đưa
đến mất mát và thất vọng.

 

Vậy những thăng trầm và biến động là gì ?

 

            Sống
trong thế giới Ta bà có nghĩa là phải gánh chịu sự chi phối của các thứ nghiệp ô
nhiễm và cả những xúc cảm bấn loạn (klesha)
: tức là những yếu tố gây ra rối loạn tâm thần, chẳng hạn như thù ghét hoặc bám
víu, là những thứ luôn tìm cách để hành hạ ta. Hãy nhìn thẳng vào thực tế : có
phải vì chúng mà ta đã bị lệ thuộc và mất hết tự do hay không ? Hãy lấy một thí
dụ, có phải lúc nào ta cũng muốn tạo ra một ấn tượng tốt đẹp với kẻ khác hay
không. Và cũng chính vì thế mà chỉ cần một chút gì đó thật nhỏ nhoi : một ánh mắt,
một lời nói là cũng đủ làm cho ta nổi giận. Một con người vừa mới đây thật khả ái
bỗng vụt mất hết tự chủ và trở nên hung bạo, có thể nói là đáng kinh sợ nữa.
Con người ấy có thể không kìm hãm được những lời phát ngôn mà chính họ cũng phải
hiểu là không nên thốt ra.

            Trên thực tế, khi nào ta vẫn còn bị
chi phối bởi những yếu tố bấn loạn thì khi đó ta vẫn chưa có thể nào tạo ra được
cho mình một thể dạng hạnh phúc. Các yếu tố bấn loạn sẽ xô đẩy ta vào những hành
động mà đáng lý ra ta không nên làm, kể cả trên phương diện thể xác, ngôn từ và
tâm thức. Những hành động đó sẽ mang lại cho ta những nghiệp “ô nhiễm”
tức là những nghiệp sẽ đưa tới sự tái sinh trong thế giới Ta bà, rơi vào những
thể dạng bất hạnh mà ta khó tránh khỏi. Sự xô đẩy ấy hết sức là nghiệt ngã. Phật
giáo xác định một cách rõ rệt là ngoài những đau đớn đơn thuần còn có hai thứ
khổ đau khác nữa rất tinh tế. Trước hết là sự kiện phải “khổ đau vì sự đổi
thay”, nó ẩn nấp phía sau những cảm giác thật thích thú để sau đó đưa ta vào
những khổ đau phát sinh từ sự bất toại nguyện và mọi sự mất mát. Kế tiếp là sự
“khổ đau tự tại nơi sự hiện hữu trói buộc” của chính mình, nó phát
sinh từ những cảm giác trung hòa. Vì loại khổ đau này vượt ra khỏi ý nghĩa thông
thường cho nên khó để gọi nó là một thứ khổ đau. Lý do vì chúng là những thể dạng
tâm thần thấm đượm những nghiệp thích hợp để làm phát sinh ra những cảm giác thú
vị hay khó chịu. Chính vì thế mà các giác cảm trung hòa hiện ra như một cơ sở
tiếp nhận hai thứ khổ đau tinh tế trên đây phải được xem đúng thực là một thứ “khổ
đau”.

            Dầu sao thì cũng phải công nhận một
cách minh bạch rằng Phật giáo không phủ nhận cũng không hề gạt bỏ những thứ hạnh
phúc thuộc vào thế giới Ta bà. Hơn thế nữa Phật giáo còn chỉ dạy phải làm thế nào
để có thể tạo ra những thứ hạnh phúc đó. Phật giáo cho rằng những thứ hạnh phúc
này vẫn còn tốt hơn là phải chọn những thứ khổ đau thô thiển, tuy nhiên Phật
giáo cũng nhận thấy rằng những thứ hạnh phúc đó còn thiếu sót, không phải là những
thứ hạnh phúc trọn vẹn. Một cách vắn tắt, không phải vì chúng là những thứ hạnh
phúc thiếu sót mà ta phải chối bỏ chúng. Đó chỉ là cách để nhắc nhở chúng ta
không nên đòi hỏi quá đáng những gì mà chúng không thể nào mang lại cho ta được.
Sự nhắc nhở đó kêu gọi chúng ta nên thực tế, khách quan : những thứ hạnh phúc
thông thường có những mục tiêu hạn hẹp và phù du.

 

Vậy phải sử dụng phương tiện nào đây để thoát
ra khỏi thế giới Ta bà,

để tìm thấy hạnh phúc của sự giải thoát nơi
cõi Niết bàn ?

 

            Phải quay ngược về những nguyên nhận
đã tác tạo ra thế giới Ta bà và tất cả những gì bất lợi do nó sinh ra : đó là
những yếu tố bấn loạn trong tâm thức của mỉnh. Bấn loạn này làm phát sinh ra bấn
loạn kia : đấy chính là vô minh làm cho ta không hiểu được chính mình là gì. Đó
là sự cảm nhận tuy rất tự nhiên nhưng lại rất sai lầm của chính mình : “nắm
bắt lấy cái ngã” và nhận thức một cách sai lầm để xem đấy chính là
“ta”, chính là “cái tôi”. Cách nắm bắt một cá thể như thế là
một khả năng đặc thù của vô minh, ta phải hủy diệt sự nắm bắt đó để tự giải thoát
mình ra khỏi thế giới Ta bà. Bởi vì chính từ sự nắm bắt đó đã làm phát sinh ra
tất cả mọi thứ khác.

            Muốn thực hiện được điều đó không phải
chỉ cần lập đi lập lại như một con két  rằng
“cái tôi không hề hiện hữu, cái tôi không hề hiện hữu,…”. Phương tiện
duy nhất theo chúng tôi là phải đẩy sự suy luận ngày càng sâu sắc hơn để tìm hiểu
cái ta, cái tôi được cấu tạo như thế nào, để dần dần nhận thức được phương cách
hiển hiện của một cá thể. Tất nhiên là một cá thể hiện hữu, nhưng chỉ hiện hữu
một cách tương đối, lệ thuộc vào đủ mọi hiện tượng khác.        Khi sự nhận thức về hiện tượng tương liên
ngày càng minh bạch hơn thì đồng thời nó cũng sẽ làm yếu dần đi sự nắm bắt sai
lầm về một cái ngã, và từ đó sự cả tin vào một cái ngã cũng sẽ giảm đi. Rồi đến
một lúc nào đó, mọi sự sẽ trở nên thật hiển nhiên, vâng quả đúng như thế, một cá
thể hiện hữu nhưng mà nó lệ thuộc. Đến khi đó, vô minh tức là sự nắm bắt sai lầm
về một cái ngã sẽ không còn tác hại được nữa. Nó sẽ bị sự hiểu biết về cái mà
người ta gọi là tánh không hủy diệt nó – nên hiểu “tánh không” không phải
là hư vô, mà chỉ có nghĩa là không có một thực thể tuyệt đối.

 

Sự hiểu biết đó có cần nhờ vào sự tu tập thiền
định hay không ?

 

            Vô minh làm cho ta tin rằng cá thể đang
tạo ra ta hàm chứa những đặc tính riêng biệt, tự nó tác tạo ra cho nó một cách
tự tại. Tuy nhiên, điều này hoàn toàn không đúng. Thật rõ ràng không thể nào
thay đổi từ căn nguyên phương cách suy nghĩ của ta một cách đột ngột được. Không
phải chỉ cần đạt được một sự hiểu biết duy lý mang tính cách trí thức về tánh
không là đủ để quét sạch sự nắm bắt của cái tôi. Chuyện đó phải thực hiện tuần
tự từng bước một.

            Trong giai đoạn đầu, sự hiểu biết
duy lý sẽ làm suy yếu đi sự nắm bắt cái ngã ; nói một cách khác là làm cho cái
ngã bị ốm đau. Vô minh khi đã yếu đuối sẽ mất đi khả năng thúc đẩy ta tích lũy
những nghiệp hướng ta vào thế giới Ta bà, tuy nhiên không phải làm được như thế
là đã thắng cuộc. Chính vì vậy mà phải cần đến thiền định. Tóm lại thiền định là
tập cho tâm thức cảm nhận mọi sự dưới một góc cạnh mới ; trong trường hợp trên đây
là sự vắng mặt của một thực thể cá biệt. Điều đó sẽ phá bỏ thói quen của ta về
sự quán thấy sai lầm một cái tôi mang tính cách thực thể.

            Vây thì từ khởi điểm, sự hiểu biết
nhất định còn mang tính cách duy lý, nhưng đến một lúc nào đó nó sẽ trở nên thật
hiển nhiên. Và tình trạng ấy có nghĩa là đạt được vô ngã một cách trực tiếp. Cái
trí tuệ đó là một công cụ vô cùng quý giá, một phương tiện duy nhất đủ khả năng
làm bật gốc và hủy diệt sự nắm bắt cái tôi, sự nắm bắt đó mặc dù là một cảm nhận
sai lầm nhưng trên thực tế nó bám rất chặt vào ta. Tuy nhiên, nếu muốn cho sự
hiểu biết về tánh không có đủ sức mạnh cần thiết thì nó phải được phát sinh từ một
tâm thức thật thăng bằng. Do đó cần phải tập luyện về sự chú tâm để đạt được sự
“tĩnh lặng tâm thần” (shamatha)
: tức là một mức độ chú tâm giúp vượt lên trên và hóa giải mọi sự xao lãng tinh
tế nhất.

            Nếu muốn đạt đến cấp bậc tĩnh lặng tâm
thần, thì trước đó ít nhất phải khắc phục được sự xao lãng dưới mọi hình thức
thô thiển nhất, nếu chưa thực hiện được việc đó thì đừng mong gì có thể bước vào
giai đoạn chú tâm. Vì thế nhu cầu cấp bách và tiên khởi nhất là phải tuân thủ một
mức độ tối thiểu về đạo đức : khi nào tâm thức còn “xao lãng” có nghĩa
là dao động, gây ra bởi sự ham muốn sát sinh, cướp của, nói dối,… hoặc còn thích
ba hoa, thì khi đó ta vẫn chưa hội đủ khả năng để chú tâm.

            Tóm lại, đạo đức trước hết là giúp
ta giữ kỷ cương để tránh không hành động sai lầm và sau đó là để tạo ra một nền
móng không thể thiếu sót giúp cho sự chú tâm vượt lên trên mọi hình thức tinh tế
nhất của sự xao lãng. Sự thăng bằng phát sinh từ sự chú tâm sẽ làm gia tăng thêm
sức mạnh cho trí tuệ để có thể thực hiện mọi sự suy luận. Từ đó sẽ phát sinh sự
hiểu biết trực tiếp về tánh không và sự hiểu biết ấy sẽ xóa bỏ vô minh liên
quan đến sự nắm bắt một cái tôi.

            Đức Phật dạy rằng nếu muốn tự giải
thoát ra khỏi thế giới Ta bà thì phải tuân theo ba lời giáo huấn tối thượng như
sau : đạo đức, chú tâm và trí tuệ. Khi nào biết noi theo ba lời giáo huấn ấy thì
ta sẽ đạt được sự giải thoát cá nhân mà ta hằng mong đợi, có nghĩa là trở thành
một vi a-la-hán (arhat) – tức là một chúng sinh tự do không còn bị trói buộc. Trong
trường hợp khác nếu ta áp dụng phương pháp ba lời giáo huấn ấy trong mục đích
giúp cho tất cả chúng sinh đạt được giải thoát, thì kết quả đạt được sẽ là thể
dạng của một vị Phật.

 

Khi đã đạt được thể dạng giải thoát thì sẽ
không còn tái sinh nữa. Nhưng mà nếu không quay lại Địa cầu này nữa và không
còn sự nhận biết một cái ngã nữa, thì “ai” sẽ hạnh phúc và ở nơi nào
?

 

            Trong cả hai trường hợp giải thoát, dù
là sự giải thoát cá nhân hay là bằng thể dạng Giác ngộ tối thượng của một vị Phật,
thì trong cả hai trường hợp, nhận thức cho rằng ta bị hủy diệt là hoàn toàn sai
lầm. Không phải một cá thể bị hủy diệt mà là cách nhìn sai lầm về một cá thể bị
hủy diệt. Một cá thể thì vẫn hiện hữu sờ sờ ra đó đấy chứ. Chỉ có một sự khác
biệt duy nhất là hắn đã lột bỏ được cái vô minh của hắn và những hậu quả liên hệ
của nó mà thôi. Hắn sẽ không còn phải gánh chịu khổ đau nữa dù là dưới bất cứ hình
thức nào. Hắn được giải thoát có nghĩa là hắn không còn bị bắt buộc phải tái
sinh vào cái thế giới thấp này nữa tức là cái thế giới Ta bà này để phải chịu đựng
mọi thứ nghiệp và những xúc cảm bấn loạn.

            Tuy nhiên còn tùy vào hắn, nếu hắn
mong muốn và nếu hắn nhận thấy đấy sẽ là một điều hữu ích, thì hắn cứ tái sinh
trở lại với những con người chưa được giải thoát, nhưng riêng phần hắn thì hắn
vẫn cứ tiếp tục hưởng thụ cái hạnh phúc lâu dài phát sinh từ sự giải thoát của hắn.
Tuy là nói như thế, nhưng khi Đức Phật thuyết giảng thì Ngài luôn luôn chọn lựa
những lời giảng huấn thích nghi với người nghe. Do đó mà sinh ra đến bốn hệ thống
triết học Phật giáo khác nhau. Theo hệ thống Tỳ bà sa luận (Vaibhashika) thì Niết
bàn đơn thuần và giản dị chỉ là một sự tắt nghỉ, tuy nhiên các hệ thống khác không
hoàn toàn đồng ý với cách giải thích như thế. Vậy thì trong các trường hợp đó
Niết bàn ở đâu ?

            Chẳng có ở đâu cả bên ngoài một cá
thể. Niết bàn chỉ là một thể dạng cảm nhận của tâm thức mà thôi. Bên ngoài thì
chuyện đó [Niết bàn] nhất định
là không có.  Niết bàn không phải là một
thế giới thật xa, hay là một thế giới siêu nhiên, nơi đó có các vị siêu phàm đã
được giải thoát sống quay quần với nhau và hoàn hoàn toàn cách biệt với con người
thường tình. Thật ra khi một người đã đạt được Giác ngộ thì sẽ tự tạo ra cho mình
và trong lòng mình một mảnh đất tinh khiết [Tịnh độ], cũng có thể gọi đấy là một “thiên đường”
của riêng mình và chính mình đang an trú trong đó. Tuy nhiên hắn [người đó] vẫn tiếp tục giữ một đặc tính cá thể nào đó.
Sự “hòa nhập” ấy [tức là giữa cá thể
và cõi Tịnh độ] mang ý nghĩa bình đẳng – trên phương diện phẩm
tính, sự hiểu biết, v.v… – nhưng không phải là một sự “thẩm thấu” [tức là không phải “nhập” vào cõi Tịnh độ mà chính mình là
cõi Tịnh độ].

 

Vậy thì chính Ngài, Ngài đã từng tập luyện tâm
thức thì Ngài đã tìm thấy một thứ hạnh phúc bền vững hay chưa ?

 

            Trong kiếp sống này, tôi may mắn gặp
nhiều cơ hội thuận lợi để học hỏi về Phật giáo và tôi cũng có một cái may mắn thật
đặc biệt là được hội ngộ với nhiều vị thầy thật vĩ đại đã ban cho tôi những lời
giảng dạy quý giá. Cũng như tất cả những người trong chúng ta đây, tôi cũng phải
gặp nhiều khó khăn. Còn lâu thì tôi mới đạt được cái hạnh phúc vững bền, tuy
nhiên cho đến nay tôi chưa bao giờ bị khổ đau nghiền nát tôi cả. Có thể biết
đâu cũng là vì tôi chưa bao giờ gặp hoàn cảnh phải gánh chịu những khổ đau thật
sự ? Tuy nhiên cũng có thể đấy chính là kết quả của một sự hình thành nào đó mà
tôi được thụ hưởng.

            Trên phương diện thể xác, khi một sự
đau đớn phát sinh, tôi vẫn nhận thấy sự đau đớn đó, tuy nhiên tôi vẫn ý thức được
rằng đấy là hậu quả của những nghiệp xấu của chính tôi và tôi không để cho nó
nghiền nát tôi. Tôi vẫn giữ được trầm tĩnh để suy nghĩ. Trên phương diện tinh
thần, đôi khi tôi vẫn có những mối lo lắng, chẳng hạn như có những sự việc không
xảy ra như ý tôi muốn, tuy nhiên và đồng thời tôi lại nghĩ rằng đấy chẳng qua là
hậu quả của những nghiệp không tốt. Tôi không nghĩ rằng đấy là một sự dửng dưng
vô tình, mà đúng hơn là một thái độ sáng suốt trước những gì đang xảy ra. Vì thế
tại sao phải bất mãn ? Những gì đang xảy ra đâu phải là một sự “bất công”,
đấy chỉ là một thứ gì thật bình thường : khi mọi nguyên nhân hội đủ, hậu quả sẽ phát sinh. Ít ra thì tôi cũng không phải
là một kẻ ích kỷ từ bản chất để không cảm thấy liên hệ đến những biến cố đang xảy
ra ?…

            Để kết luận, thiết nghĩ cũng nên nhấn
mạnh đến một điều là tất cả mọi người không phải ai cũng sẵn sàng hướng về những
thứ hạnh phúc tối thượng của sự giải thoát. Những phương pháp giúp đạt được các
thứ hạnh phúc trong cõi Ta bà cũng có nêu lên trong Phật giáo. Tốt hơn là số đông
mọi người nên khởi sự bằng những thứ hạnh phúc này. Những thứ hạnh phúc đó sẽ
giúp cho họ thăng tiến dần dần, theo nhịp độ thích nghi của từng người, rồi đến
một ngày nào đó ai mà biết được thì người ấy sẽ trở nên tinh tấn hơn để đạt đến
mức độ mà họ biết thích nghe đàm luận về sự giác ngộ.

 

Buổi đàm thoại được ông Frédéric Lenoir

và bà Jennifer
Schwarz
ghi chép.

Hoang
Phong
chuyển ngữ

(Bures-Suy-Yvette, 10.07.10)

Xem thêm: https://www.phaphay.com/phat-phap/

Nguồn: https://www.niemphat.vn/

Add Comment