Nhân quả

Nhân quả 1

Nhân quả

Khải Thiên


A-
Dẫn nhập

Héraclite,
một triết
gia Hy Lạp cổ đại, bảo rằng: “Không ai có thể đặt chân hai lần
trên
cùng một dòng nước”. Ðiều đó đã nói lên sự chuyển biến
liên tục của con người và thế giới sự vật hiện tượng. Tất cả
hiện hữu ấy đều là hiện hữu của tương duyên, chúng luôn diễn ra
trong vòng nhân quả. và cũng chính trong mối tương quan nhân quả
này mà vấn
đề luân lý đạo đức Phật giáo được đặt ra dưới tên gọi của
nghiệp thiện và ác. Do đó, nói đến nhân quả – nghiệp báo là
nói đến một tiến trình tạo tác của con người, và từ đó hình thành
đời sống an lạc hoặc khổ đau cho mỗi con người; trong đó, mỗi tư
duy
và hành động cụ thể là một nguyên động lực kiến tạo nên trạng
thái tâm lý an hay bất an, kiến tạo nên cuộc sống hạnh phúc hay
bất
hạnh. Tất nhiên, trong suốt tiến trình tạo tác (nhân quả – nghiệp
báo)
đó, con người luôn luôn đóng vai trò trung tâm và chủ động. Ở đây,
theo lời Ðức Phật dạy, không hề có bất kỳ một sự chi phối nào bởi
một
quyền năng, bởi một đấng tạo hóa, thần thánh v.v… trong tiến
trình
tạo tác ấy, mà chỉ có con người và các hành động tâm lý của nó mà
thôi.

B/-
Nội dung

I-
Ðịnh nghĩa

Các tôn giáo nói
chung đều có quan
niệm khác nhau về nhân quả. Ở đây, chúng ta chỉ tìm hiểu
thuần túy về nhân quả theo quan niệm của Phật giáo.

Nhân là nguyên
nhân, quả
kết quả. Trong thế giới tương quan duyên sinh, mỗi sự vật, hiện
tượng đều có những nguyên nhân của nó. Nguyên nhân của một sự thể
(pháp) gọi là nhân, và hiện hữu (pháp) của sự thể đang tồn
tại là quả. Trong mối tương quan nhân quả này, mỗi hiện hữu
vừa là nguyên nhân vừa là kết quả như sự tuần hoàn của mây, mưa,
nước, hơi nước… Nguyên nhân chính (trực tiếp) của một hiện hữu
gọi là nhân, nguyên nhân phụ (gián tiếp) có ảnh hưởng đến
quả gọi là duyên (hay các điều kiện phụ thuộc); do đó,
nếu nói đủ là nhân – duyên – quả.

II-
Nội dung

Trong tương quan nhân
quả, như đã đề
cập, còn có các yếu tố duyên (trung gian) xen vào; do đó, sự thành
tựu
một quả hẳn là còn tùy thuộc vào các duyên. Vì thế, ở đây chúng ta
cần ghi nhận một số điểm như sau:

* Trong giáo thuyết
nhân quả, một nhân
không thể đưa đến một quả, hay một quả không thể chỉ có một
nhân. Và nhân quả thường là đồng loại. Ví dụ: trứng gà chỉ nở ra
con gà,
chứ không thể có trường hợp trứng gà nở ra con vịt. Như thế là
không có sự lẫn lộn trong đồng loại.

* Nhân quả tuy cùng
một giống (đồng loại),
nhưng do các duyên trung gian xen vào, cho nên có thể quả cùng
loại với
nhân nhưng vẫn khác với nhân. Ví dụ: một nắm muối nếu bỏ vào tô
canh
thì mặn, nhưng nếu bỏ vào hồ nước mênh mông thì không mặn. Sự khác
biệt này tùy thuộc vào các duyên (thuận hay nghịch) và theo đó mà
quả
hình thành.

* Nhân quả – nghiệp
báo là sự hiện
hữu của các mối tương quan thiện-ác, chánh-tà v.v…, nó thuộc
pháp hữu
vi sanh diệt vốn là hiện thân của ý niệm phân biệt; do đó,
với tâm thanh tịnh và xả ly thì vấn đề nhân quả – nghiệp báo không
còn được bàn đến.

III- Phân loại
nhân quả

Thông thường, một quả
khi hình thành nó
cần có đầy đủ nguyên nhân chính và các nhân duyên phụ, cho nên
nhân quả
được xét đến qua nhiều góc độ như thời gian, không gian, vật
lý, tâm lý v.v…

1- Phân loại 1
(theo thời gian):

a- Nhân quả đồng
thời:
Là loại nhân
quả mà từ nhân đi đến quả rất nhanh. Ví dụ: ăn thì no, uống nước
thì
hết khát, tức giận thì buồn phiền v.v…

b- Nhân quả khác
thời
: Là loại nhân
quả mà thời gian đi đến quả có một khoảng thời gian. Và khoảng
thời gian
đó được chia làm 3 loại như sau:

* Hiện báo: Nghĩa
là nghiệp nhân
trong đời này đưa đến quả báo ngay trong đời này. Ví dụ: tuổi
nhỏ lo
học hành chăm chỉ nên lớn lên trở thành người có tri thức.

* Sinh báo: Nghĩa
là tạo nhân trong đời này
nhưng đến đời sau mới thọ quả báo. Ví dụ: kinh Ðịa Tạng bảo rằng
ai hay trêu chọc người, đời sau sẽ thác sinh vào loài vượn, khỉ.

* Hậu báo: Nghĩa là
tạo nhân trong đời này
nhưng đến các đời sau mới thọ quả báo (xem Truyện tiền
thân, Bổn Sinh, Bổn Sự
).

Ba thời nhân quả này
vì có một thời gian
tương đối ổn định (có khoảng cách), do đó chúng được xếp vào loại
định nghiệp. Cũng có trường hợp do các nhân duyên trung gian can
thiệp
mạnh vào làm cho nghiệp quả trở nên khó xác định về thời gian và
chủng loại. Trong trường hợp này, chúng được gọi là bất định
nghiệp. Ba thời nhân quả, đồng thời cũng là câu trả lời tại sao
(một số
trường hợp) có người làm lành trong đời này lại gặp những điều bất
hạnh, và ngược lại, người làm việc ác lại gặp may mắn.

2)- Phân loại 2
(theo vật lý và tâm
lý):
Cách phân loại này nhằm chỉ đến sự biểu hiện của
nghiệp quả thông qua thái độ tâm lý tiếp thọ nghiệp, đồng
thời nói lên những khoảng cách khác nhau của nghiệp quả giữa tâm

và vật lý, giữa nội tâm và ngoại cảnh.

a- Nội tâm và
ngoại giới
: Nhân quả
biểu hiện ở trong tâm lý của con người được gọi là nhân quả
nội tâm (nội giới) và ngược lại là ngoại cảnh (ngoại giới).

Như trường hợp một vị
sư bị vu khống phải
ở tù, thân vị ấy ở trong tù nhưng tâm vị ấy thì an định, ly thủ,
giải
thoát. Như thế, nghiệp quả chỉ biểu hiện ở thân chứ không
biểu hiện ở tâm.

b- Tâm lý và vật
: Sự
biểu hiện khác nhau của nhân quả trên cùng một con người được chia
thành hai phần: tâm lý và vật lý.

Như một người có thân
thể (thể
chất vật lý) xấu xí, khó nhìn, nhưng tâm thì thông minh và sáng
suốt,
hiền từ, độ lượng và tu tập tốt (tương tự như vậy đối với các
trường hợp ngược lại).

Tuy nhiên, cũng có
trường hợp được phước
báo cả hai mặt thân và tâm, hoặc ngược lại.

IV-
Các phạm trù nhân
quả

Có thể nói rằng, nhân
quả là giáo
lý gắn liền với đời sống tu tập của hàng Phật tử, gắn liền với
các vấn đề luân lý đạo đức của con người; và nhân quả đã nghiêm
túc đặt ra vấn đề trách nhiệm của con người đối với chính tự thân
cũng như xã hội. Bởi lẽ, Ðức Phật dạy rằng: “Con người là chủ nhân
của nghiệp, là kẻ thừa tự nghiệp” (Tăng Chi II, HT Thích
Minh
Châu, Viện Phật học Vạn Hạnh, 1982, tr.101). Từ đó, nhân quả được
bàn đến thông qua các phạm trù cơ bản của đời sống con người.

1- Nhân
quả – vấn đề luân
lý đạo đức Phật giáo:
Trước hết, giáo lý nhân quả dạy
con người thức tỉnh trong các hành động tạo tác của mình để xa
lánh
các việc ác và nỗ lực làm các việc lành nhằm đem lại sự an vui,
thanh bình cho cuộc sống. Giáo lý nhân quả chú trọng đến vấn
đề thiện ác, tức là vấn đề luân lý đạo đức của con người
nói chung và của hàng Phật tử nói riêng. Tuy nhiên, vấn đề trọng
yếu của giáo lý nhân quả là ở chỗ nó đặt ra trách nhiệm cá
nhân của mỗi con người đối với các điều kiện sống của con
người ấy. Do đó, không thể quy ước giáo lý nhân quả – tức luân
lý đạo đức Phật giáo – theo khuôn mẫu ước lệ như luật pháp được
ban hành trong xã hội. Chẳng hạn, một người phạm tội, luật pháp sẽ
trừng
phạt y khi hành vi phạm tội được xác định – nghĩa là y đã thực
hiện
điều tội lỗi, Trong khi, với đạo đức và luân lý, anh ta sẽ có
tội ngay khi những ý niệm tội lỗi (xấu ác) phát sinh trong tâm của
y, mặc dù đó chỉ là ý niệm chứ chưa phải là hành vi. Do đó, trách
nhiệm cá nhân theo giáo lý nhân quả, ở đây, là trách nhiệm cao
nhất đối với thái độ tâm lý đạo đức của mỗi con người, mà không
phải là trách nhiệm theo quy ước luật pháp trong xã hội.

Trong một số trường
hợp, những người khôn
ngoan có thể chạy trốn pháp luật, nhưng với luân lý đạo đức, họ
không thể chạy trốn lương tâm của chính mình. Vì thế, nếu đứng
trên phương diện giáo dục, giáo lý nhân quả thực là một phương
pháp giáo dục vô cùng lành mạnh và tích cực. Vì ngay từ đầu, tinh
thần
nhân quả đã đưa con người về với chính nó. Con người phải hoàn
toàn
chịu trách nhiệm về những tư duy và hành động của chính mình. Hạnh
phúc hay khổ đau là do mình tự tạo cho mình. Ở đây không hề có một
sự trừng phạt hay ban thưởng nào, cũng không có một giáo điều hay
tín
lý nào có thể thiết lập trên cơ sở nhân quả của Phật giáo. Một
nền luân lý đạo đức như thế, nhân bản và tích cực như thế,
trí tuệ và đầy tình người như thế, nếu được áp dụng vào
mỗi con người, gia đình, học đường và xã hội; ắt hẳn sẽ đưa
đến một cuộc sống an lạc, hạnh phúc.

2- Nhân
quả – khởi điểm của
tiến trình giải thoát:
Như đã đề cập, giáo lý nhân quả
đặt trọng tâm vào vấn đề thiện-ác, chánh-tà, , tốt-xấu v.v…,
tức là các vấn đề liên quan đến đời sống đạo đức của con người.
Tuy nhiên, đó cũng là điểm khởi đầu của con người để đi vào
đạo. Nhưng đối với Phật giáo, sự giác ngộ và giải thoát không chỉ
dừng
lại ở lĩnh vực nhân quả-thiện ác, mà nó còn đi xa hơn nữa, đó là
đi
ra khỏi thế giới phân biệt, đối đãi giữa thiện-ác (thực tại
giải thoát).

Vì lẽ, Ðức Phật dạy
các pháp là vô ngã.
Do đó, mọi sự phân biệt thiện-ác, chánh-tà… đều là sản
phẩm của ý niệm vốn sanh khởi từ sự có mặt của ngã tưởng. Ở
đây, điều tối quan trọng là hãy nỗ lực tư duy và nhận ra rằng
không hề có mặt bất luận một ngã tưởng nào thực sự hiện hữu; tất
cả là vô ngã. Khi nhận ra điều này nghĩa là đã bước lên đường
để đi vào thế giới thực tại giải thoát – một thế giới vượt lên
trên mọi ý niệm phân biệt, mọi ngã tưởng điên đảo,
thế giới của sự thanh tịnh, xả ly và vô niệm. Tại đây, thần chết
sinh tử của nhân quả không còn nữa, vì rằng khi ngã tưởng được
buông bỏ
thì tham ái và chấp thủ sẽ tiêu tan, và khi ngã tưởng, tham ái và
chấp thủ
bị đoạn diệt thì trụ cột của thế giới tương quan nhân quả của
nghiệp báo thiện ác đã bị sụp đổ; đây là ý nghĩa của Niết
bàn tối thượng.

V-
Một số nhận định
về giáo lý nhân quả

Qua các phần được
trình bày ở trên, nhân
quả có vị trí rất quan trọng trong việc giải thích sự khác biệt
nghiệp quả ở mỗi con người, và sự thiết lập nên một nền tảng
đạo đức luân lý Phật giáo rất nhân bản và tích cực. Nhân quả theo
Phật giáo không phải là định mệnh, cũng không mang tính chất tiền
định cố hữu. Bởi lẽ, sự hiện hữu của con người không đơn giản chỉ
tùy thuộc vào các nhân đã gieo trong đời sống quá khứ, mà nó còn
tùy
thuộc ngay nơi các hành động (nghiệp mới) tạo tác trong hiện tại.
Ðiều này cũng khai phóng cho con người một lối đi năng động, tích
cực
để vượt qua mọi trở ngại của nghiệp quả, thậm chí có thể
chấm dứt dòng sinh tử khổ đau ngay tại cuộc đời này. Thực ra, theo
lời Ðức
Phật dạy, tất cả nghiệp quả (của vô lượng kiếp quá khứ) đã tập
trung vào thân năm uẩn này rồi, vấn đề còn lại là hành vi tạo tác
(xúc) giữa thân căn và thế giới, nói cụ thể là những nghiệp mới
được tạo tác thông qua sự giao tiếp giữa 6 căn, 6 trần để ý
thức (hay 6 thức) cảm thọ vui, buồn, khổ, lạc hoặc không khổ,
không lạc
mà thôi. Từ đó, lối đi của giải thoát chân thực, thực sự không
phải là
nghiệp quả của năm uẩn, mà chính là hành vi tạo tác của năm uẩn.
Cho
đến khi nào chúng ta ngộ được rằng năm uẩn là vô ngã, chúng không

tự tánh và không còn tham ái và chấp thủ năm uẩn là ta, là của ta,
là tự
ngã của ta; ngay lúc đó, nhân quả – nghiệp báo sẽ không còn hiện
hữu.

Trong kinh điển,
thảng hoặc có nói
về nhân quả xuất thế gian, nhưng thực ra, nếu ngay tại thế gian
này mà phiền não, lậu hoặc đã được đoạn tận thì xuất thế chính
là tại thế, cũng như hoa sen đã vươn lên khỏi mặt nước và nở rộ
giữa
hư không vô tận.

C-
Kết luận

Nhân quả – nghiệp báo
là pháp duyên
sinh, do đó không có lý do gì mà nó thường trụ vĩnh hằng. Vấn đề
là nỗ lực tận dụng năng lực của trí tuệ soi sáng bóng mờ của tự
ngã để đi vào chân trời thực tại như thực; đó chính là hình ảnh
của
bậc A La Hán đã chấm dứt dòng sinh tử luân hồi ngay trên mảnh đất
trần
thế này.

Và đối với người Phật
tử, cần phải
hiểu rõ nhân quả, xây dựng niềm tin trên cơ sở của nhân quả, để
từ đó kiến tạo cho mình một đời sống thanh bình, an lạc. Kinh Pháp
Cú,
Ðức Phật dạy rằng: “Ý dẫn đầu các pháp, ý làm chủ tạo tác,
đối với ý nhiễm ô, nói năng hay hành động, khổ não bước theo sau,
như
xe (đi) theo chân vật kéo, … đối với ý thanh tịnh, an lạc bước
theo sau,
như bóng không rời hình”
./.

-oOo-

Xem thêm: https://www.phaphay.com/phat-phap/

Nguồn: https://www.niemphat.vn/

Add Comment