Nhân Thừa & Bồ Tát Thừa

Nhân Thừa & Bồ Tát Thừa 1

Hôm
nay chúng tôi sẽ nói về hai vấn đề, một là tu bằng cách nào để đem lại
sự an lạc cho tất cả mọi người đời này và đời sau, hai là tu bằng cách
nào để được giải thoát sanh tử.

Vấn đề thứ nhất, tu bằng cách
nào để chúng ta được an lạc trong đời này và đời sau. Điều này trong
kinh có nhắc đến nhiều, nhưng ở đây tôi chỉ nói thu gọn cho Phật tử dễ
nhớ. Giáo lý của đạo Phật có chia ra Ngũ thừa phật giáo, tức là năm bậc.

Bậc thứ nhất là Nhân thừa, tức lợi ích thiết thực ngay trong
đời này và cả đời sau. Thứ hai là Thiên thừa tức giáo pháp dạy chúng ta
tu để được sanh về cõi trời. Thứ ba là Thanh văn thừa, thứ tư là Duyên
giác thừa, hai giáo pháp này đều dạy chúng ta tu để giải thoát sanh tử.
Thứ năm là Bồ tát thừa, tức giáo pháp dạy chúng ta tu vừa lợi mình vừa
lợi người, cuối cùng đều đi đến giác ngộ giải thoát.

Ở đây tôi
chỉ nói hai bậc là Nhân thừa và Bồ tát thừa thôi. Nhân thừa là tu thế
nào để được an lạc cho chúng ta ngay trong đời này và đời sau. Bồ tát
thừa và tu cách nào để được giải thoát sanh tử cho mình, cho người. Hai
vấn đề này là hai vấn đề then chốt mà tất cả người tu chúng ta cần phải
biết.

Trước khi muốn giải thoát sanh tử, chúng ta phải biết sanh
tử có bao nhiêu đường. Nhà Phật dạy luân hồi trong Lục đạo là: địa
ngục, ngạ quỷ, súc sanh, người, a-tu-la, trời. Chúng sanh còn sanh tử
luân hồi sẽ đi trong sáu đường này. Giáo pháp Phật dạy tu để tránh địa
nguc, ngạ quỷ, súc sanh; kế đó lên làm người, chư Thiên, sau cùng dạy
chúng ta tu giải thoát sanh tử.

Chúng ta thường nghe nói về ba
đường khổ là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Địa ngục, ngạ quỷ khổ thế nào
ta không thấy, nhưng súc sanh thì sự khổ nhan nhãn ở trước mắt ai cũng
thấy. Cho nên đã là người quy y Tam bảo , nghĩa là quy y Phật, quy y
Pháp, quy y Tăng. Quy y Phật rồi khỏi đọa địa ngục, quy y Pháp rồi khỏi
đọa ngạ quỷ, quy y Tăng rồi khỏi đọa súc sanh. Tại sao quy y Phật rồi
khỏi đọa địa nguc? Vì địa nguc là chốn u minh tăm tối, quy y với Phật là
Bậc Giác Ngộ sáng suốt thì làm gì xuống chỗ u minh tối tăm. Tu là tránh
những đường khổ như thế. Tại sao quy y Pháp khỏi đọa ngạ quỷ. Ngạ quỷ
là loài quỷ đói. Với con mắt của Phật, Ngài thấy rõ trong thế gian này
có những loài quỷ đói sống lang thang khổ sở, chúng không có gì ăn. Nên
Phật dạy chư Tăng Ni mỗi chiều nên cúng cô hồn, tức cho các loài quỷ đói
ăn.

Có một lần ngài Mục Kiền Liên nhìn thấy trong hư không có
những loài quỷ đói lang thang, khổ sở kêu khóc. Ngài xót xa bạch với
Phật, Phật bảo : ‘Ta cũng thấy như vậy nhưng Ta không có nói”. Thế thì
loài quỷ đói cầu xin mình, chớ không phải ta cầu xin nó. Vậy mà ngày nay
nhiều người cúng ma quỷ cầu xin nó hộ độ cho mình, thật là quá sai lầm.
Biết thế rồi ta chỉ thương chớ không sợ ngạ quỷ vì nó khổ hơn mình.

Do
nhân nào đọa làm quỷ đói? Phật dạy những người đời trước ôm lòng tham
lam, bỏn sẻn, hiểm độc sẽ sanh vào loài quỷ đói. Vì tham lam nên cái gì
cũng vơ vét hết, được mình mà hại người cũng chẳng từ nan. Do tâm bỏn
sẻn nên gặp người khổ không giúp, dù mình rất dư dả. Do hiểm độc nên
thường bày mưu này kế nọ để hại người. Bây giờ mình tu theo Phật rồi,
phải có lòng từ bi, rộng lượng, không được tham lam bỏn sẻn hiểm độc.
Như vậy nhờ tu theo Phật, chúng ta đã chận được các đường khổ.

Tại
sao quy y Tăng rồi khỏi đọa súc sanh. Phật dạy người đời trước do si mê
nên đời này đọa làm súc sanh. Si mê thế nào? Si mê là không biết rõ thế
nào là thiện, thế nào là ác, thế nào là tội, thế nào là phước, thế nào
là tà, thế nào là chánh. Người không phân biệt rành rõ thiện ác, tội
phước, tà chánh gọi là si mê. Si mê nên chết phải đọa làm loài súc sanh.

Khi quy y xong quý thầy có bổn phận giảng trạch rành rõ cho quý
Phật tử biết, thế nào là thiện, thế nào là ác thế nào là tội, thế nào
là phước, thế nào là tà, thế nào là chánh. Làm đau khổ cho người là ác,
đem lại lợi lạc cho người là thiện. Chẳng những người mà đối với các
loài khác cũng thế. Nói chung làm lợi lạc cho người và chúng sanh gọi là
thiện, làm đau khổ gọi là ác.

Thế nào là tà, thế nào là chánh?
Tà chánh ở đây có nhiều lối. Thứ nhất   chúng ta là đệ tử Phật mà đi cầu
cúng miếu bà miếu ông là tà. Tại sao? Bởi vì do lòng tham nên tới cầu
xin, mà không biết người mình đang cầu xin đó thế nào. Phật dạy chúng ta
lý nhân quả chớ không dạy cầu xin. Gieo nhân tốt thì gặt quả tốt, gieo
nhân xấu thì chịu quả xẩu. Mình làm mình chịu, nếu cầu xin được thì
không có lý nhân quả. Song lý nhân quả là chân lý ở trên thế gian, không
thể chối cãi được. Lẽ thực chúng ta không làm, lại làm theo tưởng tượng
hư dối nên gọi là tà. Đó là tà đối với chánh.

Ngoài ra, quan
niệm tà trong đạo Phật cần phải hiểu cho tường tận, nếu không khéo chúng
ta cũng sẽ bị lạc vào đó Phật dạy ba thứ độc là tham sân và si. Nếu ta
tham mà bị ai ngăn trở thì nổi sân, cho nên tham và sân gốc từ si mà ra.
Nhưng Phật tử bây giờ đi chùa có tham không, tham cái gì? Tham cầu xin.
Quý thầy cô tụng kinh cũng cầu nguyện, như vậy có tham không? Quý thầy
cầu nguyện cho tất cả chúng sanh đều sớm thức tỉnh, quốc thới dân an,
mọi nguời đều được ấm no hạnh phúc thì không phải tham. Còn Phật tử đến
chùa cúng có một dĩa quả mà xin thôi là xin, thứ nào cũng to hết. Đó
chưa phải là chánh. Người hiểu đạo cầu nguyện thế này, nguyện cho gia
đình con sớm thức tỉnh, mọi người cũng biết thức tỉnh, tất cả đều được
bình an, như vậy đâu có tội tham. Ngược lại nếu chỉ cầu cho mình không
thôi đó là tham. Đã tham thì thuộc về tà chớ không phải chánh.

Chúng
ta phải phân biệt tà chánh rành rõ mới khỏi đọa vào đường dữ. Người
biết rõ thiệc ác, tội phước, tà chánh bảo đảm đời sau không đọa làm súc
sanh. Chư Tăng là những vị giúp cho Phật tử biết rõ những đều này nên
chúng ta phải quy y Tăng. Khi bắt đầu quy y Tam bảo, là chúng ta đã
thoát khỏi ba nhân ác địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh rồi. Trên đường tu
chắc chắn không đọa lạc vào ba đường ác chịu nhiều đau khổ. Nhưng làm
sao được tới đường lành? Đường lành là người, a-tu-la và trời.

Muốn
được trở lại làm người tốt thì phải giữ năm giới. Giữ năm giới gọi là
tu Nhân thừa Phật giáo. Giới thứ nhất không sát sanh, tức không giết
người thì đời này được bình an, đời sau sinh ra tuổi thọ lâu dài. Giới
thứ hai không trộm cướp thì đời này không bị tù tội, đời sau sanh ra có
nhiều của cải. Giới thứ ba không tà dâm thì đời này nghiêm trang tề
chỉnh, có phẩm chất tốt, đời sau sanh ra đẹp đẽ trang nghiêm. Giới thứ
tư không nói dối thì đời này được mọi nguời tin tưởng, đời sau sanh ra
nói năng lưu loát, ai cũng quý cũng tin. Giới thứ năm không uống rượu
mạnh, uống say, không hút á phiện xì ke ma túy, thì đời này được tỉnh
táo sáng suốt, đời sau sanh ra thông minh trí tuệ. Chỉ tu năm giới thôi
đời này là một con người đứng đắn trong xã hội, không ai dám khinh rẻ,
đời sau sanh ra lại càng tốt đẹp hơn. Như vậy có phải đời này được an
lạc, đời sau càng an lạc hơn không?

Việc tu có lợi ích thiết
thực, chớ không phải chuyện huyễn hoặc mơ hồ. Quý Phật tử kiểm điểm lại,
giả sử trong một xóm có cả trăm gia đình tu theo Phật, giữ tròn năm
giới thì xóm đó có lo sợ gì không? Không lo sợ gì cả, không sợ người ta
hại mình, không sợ người ta trộm cắp của mình , không sợ người ta phá
gia can của mình, không sợ người ta dối gạt mình, không sợ người ta say
sưa phá phách mình, xóm làng đó bình an vô cùng. Sống như vậy là thực
hiện cuộc sống an lạc cho mình và cho mọi người. Đây là hiệu quả thiết
thực của người tu Phật. Tu giúp cho bản thân chúng ta tốt, gia đình được
bình an, mà cả xã hội cũng tốt đẹp nữa. Đạo Phật đem lại bình an cho
mọi người, đem lại sự tốt đẹp cho xã hội, mà rất tiếc Phật tử tu theo
đạo Phật lại không biết mình đang làm gì, kết quả ra sao.

Chúng
ta tu đúng theo lời Phật dạy, khi tuổi thọ sắp mãn có người tới hỏi:
“Anh chị theo đạo Phật, tu cư sĩ tại gia, vậy khi chết đi đâu?” Quý Phật
tử sẽ nói “Bảo đảm tôi trở lại làm người tốt hơn bây giờ”. Cho nên bỏ
thân này không tiếc, không sợ chết, yên lòng ra đi vì nắm chắc tương lai
sáng sủa hơn, đẹp đẽ hơn. Rõ ràng việc tu có công hiệu vô cùng. Còn kẻ
không biết ngày mai nhắm mắt mình sẽ ra sao, tương lai mù mịt thì rất sợ
chết. Việc này rõ ràng như thế không nghi ngờ gì cả. Như vậy chúng ta
thấy giá trị của sự tu, an lạc đời này và đời sau. Đó là một lẽ thực
vậy.

Kế đến nói về tu để được giải thoát. Phần này hơi khó một
chút. Chúng ta thường tụng kinh Bát Nhã, trong đó Phật muốn đưa mình từ
con người si mê tiến lên con người trí tuệ sáng suốt để giải thoát sanh
tử. Nhưng rất tiếc Phật tử tụng thì tụng mà hiểu thì không hiểu. Chỉ câu
đầu thôi “Quán Tự Tại Bồ tát hành thâm Bát-nhã ba-la-mật-đa thời, chiếu
kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách” nghĩa là sao ? Bồ tát
Quán Tự Tại khi thực hành sâu trí tuệ Bát-nhã, Ngài soi thấy năm uẩn đều
không, nên vượt qua hết tất cả khổ nạn. Một câu đó quý Phật tử có thấm
chưa, có hành chưa? Có lẽ quý vị tụng cho Phật nghe nhiều hơn là để thấm
để hành.

Một câu này đủ để thấy giá trị siêu thoát trong đạo
Phật rồi. Đây là bài kinh trí tuệ, mà trí tuệ này là trí tuệ của Phật
siêu xuất thế gian, chớ không phải trí tuệ thế gian. Chiếu kiến là dùng
trí tuệ soi xét thân năm uẩn đều không, tất cả mọi khổ ách sẽ không còn.
Hết sức giản đơn, chỉ một câu thôi chúng ta vượt qua tất cả khổ ách.
Nhưng chúng ta đã tụng Bát-nhã cả trăm biến, ngàn biến mà hết khổ ách
chưa? Còn nguyên. Đó là vì chưa hiểu tinh thần Bát-nhã.

Trong
Bát-nhã có chia ra ba phần : Văn tự Bát-nhã, Chiếu kiến hay Quán chiếu
Bát-nhã và Thật ướng Bát-nhã. Văn tự Bát-nhã giống như con thuyền. Ngồi
trên thuyền mà không chịu chèo, không chịu bơi thì chừng nào mới qua
sông. Cho nên Văn tự rồi phải Quán chiếu. Có chèo bơi mới đến nơi, tức
học hiểu quán chiếu tu tập rồi mới qua hết khổ ách, đi tới Thật tướng
Bát-nhã là lên bờ. Chúng ta chỉ tụng đọc mà không soi xét tức chỉ làm
việc ban đầu Văn tự Bát-nhã. Nếu dừng ngang đó, thì chừng nào tới phần
thứ hai, thứ ba. Mục đích chánh là đến bờ, mà ta cứ ngồi trên thuyền
hoài, chắc thuyền mục luôn, chớ không tới bờ bên kia được. Đó là chỗ đa
số chúng ta hiện giờ đang mắc kẹt.

Chữ “giai không” này rất
nhiều người hiểu lầm. Cho nên trong nhà Phật có câu: “Thà là chấp có
bằng núi Tu Di, không nên chấp không bằng hạt cải”, chấp không là tai
họa đáng sợ. Nghe nói chiếu kiến ngũ uẩn giai không người ta tưởng đó là
chấp không. Thật ra không phải vậy. Điều này tôi sẽ dẫn chứng cụ thể để
tất cả chúng ta thấy rõ ý nghĩa chữ Không của Bát-nhã.

Như tôi
đưa bàn tay lên, co năm ngón lại. Khi co năm ngón lại thì có nắm tay.
Bây giờ chúng ta phải nhận cho ra nắm tay là thật hay không thật. Đang
thấy nắm tay nói không sao được, nhưng nếu nói nó thật thì khi tôi buông
năm ngón tay ra, nắm tay có không? Còn co thì có, buông ra thì không.
Như vậy nói thế nào cho đúng nghĩa của nắm tay. Nói không không được,
nói có cũng không được. Chúng ta không có quyền nói nắm tay thật có vì
đó là sai lầm, cũng không có quyền nói thật không vì mắt đang thấy rõ
ràng.

Ở đây tôi chia ra ba thời. Thời thứ nhất trước khi tôi co
năm ngón lại có nắm tay không? Không có nắm tay. Thời thứ hai khi tôi
đang co năm ngón lại, nhưng nếu nhìn trên từng ngón phân tích đây ngón
cái, ngón trỏ, ngón giữa… mỗi ngón riêng biệt thì có nắm tay không?
Không có nắm tay. Đó là đang lúc có mà cũng là không. Thời thứ ba khi
buông năm ngón ra, có nắm tay không? Cũng không có nắm tay. Như vậy ba
thời trước giữa và sau hay quá khứ, hiện tại và vị lai, nắm tay bản tánh
là không. Đợi năm ngón co lại là duyên hợp mới có, đã là duyên hợp thì
phải tan chớ không thể còn hoài được. Phàm những gì có hợp có tan thì
không thể gọi là thật. Nắm tay bản tánh nó là không, đợi duyên hợp mới
có. Duyên hợp mới có nên có là giả có chớ không phải thật. Đây là một lẽ
thật.  

Đi xa hơn, tất cả mọi thứ chung quanh ta đều là duyên
hợp tánh không, giả có. Tánh không này không rời các pháp, như ngay nơi
nắm tay, ta biết rõ tánh nó là không. Nắm tay là sắc tướng mà ta thấy
tánh không nên kinh nói “sắc tức thị không”. Không ở đây không phải
không ngơ, mà không là tánh  không ngơ, mà không là tánh không. Rồi
“không tức thị sắc” là từ tánh không, duyên hợp nên có sắc. Như vậy từ
hình sắc giả tướng thấy được tánh không, từ tánh không duyên hợp nên có
hình sắc. Hiểu như vậy là hiểu được Bát-nhã.

Trở lại thân chúng
ta đây là thật hay giả? Giả. Nếu giả khi bị ai nhéo một cái hoặc mắng
một câu có giận không? Đây là chỗ thiết yếu của sự tu Chúng ta thấy đúng
như thật rồi ứng dụng tu, phải thấy chớ không thể tưởng tượng. Thân này
gồm sắc uẩn tức hình sắc do đất, nước, gió, lửa hợp lại thành. Nếu phân
tích sâu hơn nữa, Phật nói trong thân có vô số vi trùng “nhân thân chi
nội hữu vô số vi trùng tại trung di trú” Vi trùng chia làm hai loại: hộ
trùng là loại trùng bảo vệ thân này và hoại trùng là loại trùng phá hoại
thân này. Y học ngày nay gọi là tế bào. Có những tế bào phá hoại, có
những tế bào bảo vệ mình. Bốn thứ không thể thiếu một, đất hoại cũng
chết, nước cạn cũng chết, gió dưng cũng chết, hơi ấm tan hết cũng chết.

Trong
kinh Phật dùng ví dụ, nếu càng nghĩ ta càng thương xót mình. Phật nói
như người đem cái lồng bắt bốn con rắn độc bỏ vào đó. Chúng cự lộn hoài,
ông chủ vừa lo cho nó ăn vừa can gián cho nó đừng cắn nhau rất cực. Giữ
gìn đáo để một thời gian, cái giỏ lủng mỗi con chạy mỗi góc, ông chủ
nhà lẽ ra phải mừng, nhưng đằng này ông lại buồn, vội vã sắm cái giỏ mới
rồi tiếp tục tìm bốn bốn con rắn khác về nuôi nữa. Cứ như vậy mà nuôi
rắn, đời này nuôi rắn, đời sau nuôi rắn, tiếp tục mãi mãi nuôi rắn cực
khổ như vậy. Chúng ta nghĩ ông chủ đó có đáng thương không? Thật là đáng
thương, tội gì làm như vậy. Đức Phật bảo chúng sanh cũng thế rất đáng
thương xót. Đất nước gió lửa là bốn con rắn độc. Thiếu nước thì cho ly
nước, thiếu gió thì kiếm chỗ nào không khí trong lành hít thở, thiếu đất
thì kiếm cơm, thiếu ấm thì kiếm áo, ít bữa đất lấn nước hoặc nước lấn
đất, thế là bệnh tật phát sanh. Ít bữa gió thổi mạnh quá, đất rung rinh
cũng sanh bệnh. Cho nên khi trúng gió thì phải cạo gió, đuổi ra. Khi
nóng thì phải kiếm đồ mát uống vô. Lúc nào cũng can thiệp, dòm chừng
hoài. Cả đời lo nuôi nó, can thiệp cho nó hòa hợp. Vậy mà khi nó sắp
hoại mất thì hoảng sợ tiếc nuối, tìm đủ mọi cách để giữ nó lại, có đáng
thương không ?

Lẽ ra khi thân này sắp mất, ta phải thức tỉnh thôi
đừng nuôi nữa. Nhưng không, bỏ cái giỏ này làm cái giỏ khác chắc hơn để
nuôi những con rắn khác. Đó là vòng luân hồi lẩn quẩn của chúng ta.
Việc làm này giống như việc làm của con dã tràng, cứ se cát thành cát
cụm, một ngọn sóng ùa vô cuốn mất hết, nó lại tiếp tục làm cái khác.
Phật thương chúng sanh là vì vậy.

Bởi thấy thân này thật nên
những nhu cầu nó cần, phải đáp ứng cho nó thỏa mãn. Nó thèm thức ăn ngon
phải chạy tìm thức ăn ngon. Nó thích mặc đẹp phải tìm y phục đẹp. Càng
làm nó lại câng không thỏa mãn. Được một nó đòi hai, được hai nó đòi
bốn, cứ tăng lên hoài không bao giờ biết đủ. Nếu tất cả thế gian ai cũng
muốn thỏa mãn nhu cầu của thân xác thịt này, có đụng chạm quyền lợi
nhau không? Vì mình muốn thỏa mãn nhu cầu đó nên ai cũng muốn gom góp
tất cả về mình. Đó chính là nguyên nhân dẫn đến đấu tranh, gốc của mọi
thứ đau khổ.

Nếu chúng ta biết nó là giả,  không giành giựt với
ai hết, sống vừa đủ thôi. Lỡ mang thân này thì nuôi cho nó khỏe mạnh,
chừng nào hết duyên nó tan rã, không có gì quan trọng. Nhờ thế ta không
tham, không tham thì bớt khổ . Thấy được sắc uẩn không thật chúng ta sẽ
bớt tham, bớt khổ cho bản thân và mọi  người chung quanh. Đó là nói về
phần sắc thân.

Kế đến phần tâm. Hiện giờ tất cả chúng ta khi suy
nghĩ một việc gì rất kỹ, mình cho rằng suy nghĩ đó là đúng, nếu ai phản
đối bảo sai ta sẽ thế nào. Nổi giận ngay. Bởi vậy chỗ này chúng ta phải
đi sâu mới  thấy giá trị của nó. Suy nghĩ của mình không có gì bảo đảm
đúng cả.  Bởi suy nghĩ là tâm hư giả sanh diệt, không phải là chân lý.
Con người suy nghĩ là do kinh nghiệm, sự từng trải rồi kết luận như vậy
là đúng. Nhưng nếu kiểm tra lại, giả sử suy  nghĩ ấy có đúng cũng chỉ
đúng trong  một giai đoạn, một phạm vi nào thôi.  Qua giai đoạn khác,
qua hoàn cảnh  khác nó không còn đúng nữa.  Nhưng khi ta đã cho suy nghĩ
của  mình là đúng rồi, người khác nói  sai ta nổi giận nhiều ít. Chính
vì cái đúng sai đó mà trong gia đình,  ngoài xã hội xảy ra không biết
bao nhiêu sự buồn khổ. Chồng nghĩ một  đàng vợ nghĩ một ngả thì không
bao giờ có hạnh phúc, chỉ có chia ly thôi. Anh em ruột mà kẻ nghĩ thế
này, người nghĩ thế khác, luôn luôn ngược nhau thì không còn tình thân
nữa. Thậm chí cha với con  mà suy nghĩ khác cũng dẫn tới tai họa như
thương.

Thọ, tưởng, hành, thức cũng  thuộc về tâm. Thọ là cảm
giác vui buồn, thích hay không thích… Tưởng là tâm tưởng. Hành là suy
tư.  Thức là phân biệt. Tuy có bốn  nhưng nói gọn hơn là những suy tư
phân biệt của mình. Những suy tư  này không phải là chân lý, nó chỉ đúng
ở khía cạnh hoặc trường hợp  nào thôi. Vì vậy nó không thật,  không có
định. Đức Phật dạy:  “Người tôn trọng chân lý là khi nghĩ điều gì, thì
nói đây là cái nghĩ của  tôi , đừng thêm chữ đúng. Không có chữ đúng thì
không cãi nhau, bởi vì ai cũng có quyền nghĩ riêng của mình. Hiểu như
vậy là tôn trọng chân lý. Nếu ta nói đúng mà người  không nghe thì mình
phản bác lại. Đó là bệnh độc tài.  

Sắc uẩn và tâm uẩn, chúng ta
biết hai thứ này không thật là độ tất cả khổ ách rồi. Vì vậy lời Phật là
lời vàng. Chỉ một câu nếu chúng ta khéo tìm hiểu thấu đáo, ứng dụng  tư
hành thì sẽ vượt qua hết các khổ nạn. Người học đạo phải có cái nhìn
tường tận, chớ không phải đọc thuộc lòng lời Phật dạy là đủ. Nhìn tường
tận rồi ứng dụng trong cuộc sống mới là tu. Như thấy thân  không thật,
tâm suy nghĩ không thật nên hết khổ. Đó là ta đã sống an lành tự tại vì
không giành giựt nhau trên vật chất, không độc tài trên tinh thần.

Đạo
Phật đặc biệt ở điểm dạy chúng ta tu, chớ không bắt chúng ta phải tin
theo. Điều này hết sức rõ ràng. Như khi quý thầy giải thích năm giới rồi
hỏi lại Phật tử, giới thứ nhất suốt đời không được sát sanh, Phật tử
giữ được không?  Nếu giữ được, quý vị tự nói “Dạ, con giữ được”. Nếu giữ
chưa được  thì làm thinh, Phật không bắt buộc chi cả. Vì lợi ích cho
chúng ta Phật  phương tiện chế ra các giới luật như vậy, chớ không phải
ta giữ giới cho Phật. Hiểu thế mới thấy giá trị của đạo Phật.  

Bởi
chúng ta mê chấp thân, mê chấp tâm lăng xăng vọng tưởng nên quên mất
cái chân thật của chính mình. Khi ruồng dẹp hết hai thứ chấp đó thì cái
chân thật hiển lộ ra. Vì nó đã sẵn trong ta từ xưa đến nay nên nói được
không đúng. Cho nên Phật nói tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Vì chấp
lầm thân tâm nên ta không nhận ra, khi hết chấp thì tánh Phật hiện ra.
Bồ tát nương nơi đó mà xa rời những sợ sệt, những khủng bố, đến được cứu
kính Niết bàn. Ba đời chư Phật cũng nhờ trí tuệ đó mà đến chỗ giác ngộ
viên  mãn gọi lâ Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.  

Như vậy Phật
nhờ trí tuệ Bát nhã, ban đầu dẹp phá được các thứ chấp, sau mới thành
Phật. Bồ tát cũng thế. Tu một bài kinh Bát Nhã đủ cho chúng ta giải
thoát rồi. Các Tổ luôn luôn thấy nó quan trọng vậy, nên tụng kinh gì
không bỏ qua Bát Nhã. Nhưng tội cho chúng ta tụng mà không thấy được
điều này. Tụng cả năm này tháng kia mà không phá được chút chấp nào
hết,  vì vậy việc tu không tiến.

Như vậy trí tuệ thế gian với
trí tuệ của Phật khác nhau xa hay gần?  Rất xa. Nếu ai cũng học được
Phật và có trí tuệ như vậy thì thế gian này không còn khổ nữa, mọi người
thương nhau không hết, có đâu giành giựt. Vì vậy đạo Phật lâ đạo của từ
bi và trí tuệ, chúng ta trải lòng thương tất cả và an ủi chúng sanh
cùng trong cõi khổ của mình. Ta tự tu tập và giúp cho mọi người cùng tu
tập bớt khổ, tỉnh sáng không còn  lầm mê nữa. Đó là mục đích chủ yếu của
đạo Phật.

Xem thêm: https://www.phaphay.com/phat-phap/

Nguồn: https://www.niemphat.vn/

Add Comment