Nhập môn thiền quán

Nhập môn thiền quán 1

Tuyển tập này rút từ những lời dạy của HT. Sayādaw U Janaka
khi ngài tổ chức khóa tu tại trung tâm Thiền học Phật giáo Malaysia
(Malaysian Buddhist meditation centre) ở Penang năm 1983. Lúc đầu tuyển
tập này một phần được Thượng tọa Sujīva, rút từ các pháp thoại buổi tối
do HT thuyết giảng, còn lại chủ yếu từ các buổi trình pháp của thiền
sinh tại khóa tu.

CÁCH TU TẬP

Vipassanā có nghĩa là Thiền quán (hoặc
là Thiền Minh sát tuệ). Trên hết, đó là một quá trình thể nghiệm bằng
kinh nghiệm của chính mình, dựa trên sự phát triển tỉnh giác một cách có
hệ thống và thăng bằng. Nhờ cách quán sát và kinh nghiệm lộ trình biến
đổi của thân tâm từng sát na của thiền sinh từ nơi mà tâm dán vào, từ đó
tuệ giác phát sanh và soi rọi vào bản chất thực sự của đời sống. Với
trí tuệ đạt được nhờ tu tập thiền quán, hành giả có thể sống một đời
sống nhẹ nhàng, giảm thiểu được sự bám víu, sợ hãi và quờ quạng hơn với
thế giới xung quanh mình. Do đó, đời sống sẽ được định hướng bằng lòng
vị tha, từ ái và trong sáng hơn.

1. Tâm ghi nhận

Đây là phương pháp niệm phồng xẹp nhằm
để hướng tâm của thiền sinh vào hiện tượng của thân tâm, để từ đó hiểu
được bản chất thật của nó một cách đúng đắn hơn.

Kim chỉ nam của thực tập Thiền tuệ là
quán sát những gì sanh khởi ngay lúc nó xảy ra – nghĩa là chỉ ghi nhận
trong giây phút hiện tại, và do đó hành giả sống trọn với giây phút hiện
tại.

Nhập môn thiền quán 2Ghi
nhận một cách chăm chú và chính xác. Ghi nhận một cách cạn cợt có thể
khiến cho tâm bị phân tán dữ dội hơn. Khi định bị yếu, tâm có khuynh
hướng bỏ qua các sự vật hiện tượng đang xảy ra, thì lúc ấy các hành giả
có thể sử dụng phương pháp “dán” một nhãn hiệu cho hiện tượng đó. Sự
thật, những từ được dán vào bụng để định danh những gì đang xảy ra đó
thật sự không cần thiết, nhưng nó lại rất hữu ích trong giai đoạn đầu.
Cố gắng thực tập cách niệm ‘phồng, xẹp’ này dù cho ban đầu có thất bại,
cho đến khi khả năng ghi nhận tâm của hành giả trở nên nhạy bén hơn. Khi
hành giả cảm thấy cách ghi nhận qua cách niệm ‘phồng, xẹp’ trở thành
nặng nề cho sự tu tập, thì cách niệm này không cần thực tập nữa.

Thiền sinh sẽ nhận chân được mục tiêu
của thiền quán bằng khả năng quán sát của sự thực tập ghi nhận này. Tiến
trình này có thể giúp hành giả khám phá về bản chất thật của thân tâm
như thế nào.

2. Thiền tọa

Khi thiền tọa, thân và tâm của hành giả
phải được thư giãn đến mức tối đa mà hành giả có thể thư giãn được. Phải
duy trì tư thế ngồi một cách thăng bằng. Đừng thay đổi tư thế một cách
đột ngột và không chánh niệm trong thời thiền tọa. Nếu hành giả muốn đổi
tư thế, nên ghi nhận tác ý của mình trước rồi hãy thay đổi tư thế sau.

Để cho cân bằng trong thiền tập, thiền tọa một tiếng rồi thực tập thiền hành một tiếng.

Khi thay đổi tư thế thiền tập, dù là từ thiền tọa sang thiền hành hoặc ngược lại, hãy cẩn thận giữ niệm và định không gián đoạn.

Điểm khởi đầu trong thiền tọa là hành
giả phải thiết lập được tác ý trên các cảm thọ của vùng bụng khi nó
phồng xẹp. Điều này chỉ thực hiện được khi tâm ghi nhận hoặc khả năng
niệm phồng xẹp cùng với các kinh nghiệm cảm thọ đang xảy ra một cách
đồng bộ.

Một khi hành giả ghi nhận được sự phồng
xẹp của vùng bụng trở nên ngày một đều đặn và rõ ràng hơn, thì hãy gia
tăng khả năng ghi nhận ấy. Nếu thấy rằng các cảm thọ, phồng xẹp còn phức
tạp thì hãy ghi nhận chúng một cách tổng quát.

Nếu thấy có sự gián đoạn phồng-xẹp ở
vùng bụng, hãy ghi nhận thêm về trạng thái ‘đang ngồi’ và, hoặc ‘xúc
chạm.’ (ghi nhận ‘đang ngồi’ là một trạng thái tỉnh giác về các đặc tính
hỗ trợ của phong đại).

Đừng can thiệp vào hơi thở tự nhiên, tức
là đừng cố gắng thở mạnh hoặc thở sâu. Nếu thở mạnh hoặc thở sâu như
vậy sẽ làm cho hành giả mệt. Hơi thở nên giữ bình thường.

Khi đối tượng thứ hai xuất hiện và xâm
chiếm tâm mình, như là âm thanh, tư tưởng, cảm thọ, v.v… thì hãy ghi
nhận ‘nghe, nghe’, ‘suy nghĩ, suy nghĩ’, ‘cảm thọ, cảm thọ’ v.v và v.v…
Lúc đầu, thật không dễ dàng để ghi nhận toàn bộ các đối tượng đang xảy
ra, nhưng khi chánh niệm vững mạnh rồi thì hành giả có thể ghi nhận tất
cả. Do đó, khi đối tượng thứ hai được nhận diện là thứ hai, hành giả trở
lại ghi nhận đối tượng ban đầu, nghĩa là, sự phồng xẹp của vùng bụng.

Mặc dầu hành giả được hướng dẫn là hãy
bắt đầu bằng cách nhìn sâu sắc vào sự phồng xẹp ở vùng bụng, nhưng hành
giả không nên bám chặt vào đó. Vì đó cũng là một đối tượng trong những
đối tượng của Thiền quán mà thôi.

Chánh niệm về sự di chuyển lên xuống của
vùng bụng giúp hành giả có kinh nghiệm trực tiếp về phong đại, có nghĩa
là đặc tính chuyển động, sự rung động và đặc tính hỗ trợ của nó. Lúc
ấy, hành giả có thể hiểu biết đúng đắn về bản chất thật của phong đại,
do đó có thể đoạn trừ được sự sai lầm về bản ngã.

3. Thiền hành

Hãy thiền hành một cách nghiêm túc.
Thiền hành một cách đúng đắn và nghiêm túc mới có thể giúp hành giả phát
triển tỉnh giác một cách trọn vẹn, nghĩa là chứng được Thánh quả
A-la-hán.

Hành giả bắt đầu thực tập bằng cách tác ý
đến chân, tác ý một cách rõ ràng và ghi nhận từng bước một khi hành giả
di chuyển. Hãy ghi nhận ‘phải, trái’ khi hành giả di chuyển từng bước
chân.

Mở mắt vừa phải (mở một nửa) và dán nó
vào trước mặt khoảng 4 – 5 feet  (1 mét rưỡi đến 2 mét) trước mặt. Hãy
tránh nhìn dưới chân khi thiền hành nếu không tâm bị phân tán bởi chính
bước chân đó.

Nhập môn thiền quán 3Đừng để đầu nghiêng quá thấp bởi vì điều này sẽ khiến cho hành giả mau bị căng thẳng, khó chịu trong khi thiền hành.

Các đối tượng trong khi thiền tập cần
phải tăng dần. Điều đó có nghĩa là số lượng các động tác của chân được
quán sát cần phải tăng dần lên. Giai đoạn đầu của thiền hành, hãy ghi
nhận hai động tác khoảng 10 phút: ‘Trái, phải’ và ‘trái, phải’ mà thôi.
Sau đó hãy ghi nhận 3 động tác của chân: ‘Giở chân, đưa chân tới, thả
xuống.’ Giai đoạn cuối hãy gia tăng khả năng ghi nhận: ‘Tác ý, giở chân,
đưa chân tới, thả xuống, chạm đất, đạp đất.’

Hãy lưu tâm điều này. Tâm của hành giả
sẽ lang thang một vài lần trong một giờ thiền hành. Do đó, đừng có nhìn
xung quanh đó đây trong thời gian thiền hành ấy. Hành giả đã có nhiều
năm trong quá khứ để nhìn ngắm và cũng còn nhiều năm để ngắm nhìn nữa!
Nếu hành giả cứ lơ đãng cặp mắt trong thời gian tịnh tu, định của hành
giả khó mà thiết lập được. Mắt vọng động quả thật là một vấn đề trở ngại
đối với thiền sinh. Do đó, hãy hết sức lưu tâm và chánh niệm khi có ý
niệm nhìn mọi sự vật xung quanh.

Để thiền tập có hiệu quả, thiền sinh
phải dụng công ít nhất 6 tiếng thiền hành và 6 tiếng thiền tọa mỗi ngày.
Đây là điều mà thiền sư mong đợi!

4. Chánh niệm trong đời sống hằng ngày

Tỉnh giác trong các sinh hoạt hằng ngày
là điều vô cùng thiết yếu đối với thiền sinh. Một khi không có khả năng
quán sát các sinh hoạt hằng ngày của mình, hành giả đó đánh mất đời sống
của chính mình rồi. Điều đó nghĩa là vị ấy không còn là một thiền sinh
thực thụ nữa, bởi vì niệm, định và tuệ đều vắng mặt!

Muốn cho niệm căn được vững mạnh thì hãy tỉnh giác liên tục, không hề bị gián đoạn trong mọi sinh hoạt hằng ngày của mình.

Sự duy trì chánh niệm như vậy có công
năng phát sinh định, và chỉ khi ngang qua định như vậy hành giả mới có
thể nhận chân được bản chất cố hữu của hiện tượng thân tâm. Điều này dẫn
đến hành giả chấm dứt mọi khổ đau.

Không ghi nhận được các sinh hoạt hằng
ngày tạo nên khoảng trống lớn của thất niệm. Tiếp tục duy trì khả năng
ghi nhận rất cần thiết để tỉnh giác phát triển từng sát na này đến sát
na khác. Với cách thiền tập này hành giả sẽ khám phá nhiều điều mới lạ
ngay trong đời sống hằng ngày.

Suốt thời gian tịnh tu, điều mà các hành
giả cần phải làm, đó là chánh niệm. Không có gì phải vội vã. Hòa thượng
Mahāsī Sayādaw đã so sánh một hành giả thiền quán giống như một người
yếu đuối, một kẻ bệnh tật cần phải di chuyển rất chậm.

Làm mọi công việc chậm rãi giúp tâm của
hành giả được định. Nếu hành giả muốn thiền tập được phát triển, hành
giả phải tập quen dần chậm rãi mà thôi.

Khi quạt máy quay ở tốc độ nhanh, bạn
không thể thấy sự thật nó như thế nào. Nhưng khi nó được quay chậm lại,
bạn có thể thấy nó như thế nào. Do đó, hành giả cần phải làm chậm rãi
một cách có tác ý, từ đó mới thấy được lộ trình thân tâm thật sự như bản
chất của chúng.

Nhập môn thiền quán 4Khi
bạn đang bị đoanh vây bởi một nhóm người đang làm việc vội vã, bạn sẽ
lãng quên mọi thứ xung quanh. Thay vì như vậy, hành giả hãy tinh tấn ghi
nhận các hoạt động của thân tâm mình.

Nói chuyện là mối nguy hại lớn cho lộ
trình tu tập Thiền Quán. Năm phút nói chuyện có thể phá sạch thiền tập
niệm định của hành giả cả ngày!

5. Đau nhức và Kiên nhẫn

Đau là bạn hữu của hành giả. Đừng có trốn tránh nó. Nó có thể dẫn hành giả đến Niết-bàn (Nibbāna).

Đau không có thông báo hành giả nó sẽ
đến lúc nào. Nó có thể không chịu tan biến. Nhưng nếu nó như vậy, hành
giả rất có thể khóc vì nó. Một số thiền sinh đã rời trường thiền vì
những cơn đau!

Một khi đau được hành giả quán sát, không phải để nó mau chóng tan đi, nhưng để nhận chân được bản chất thật của nó.

Đau là chìa khóa mở cửa Niết-bàn.

Khi hành thiền có định, đau không phải
là một vấn đề. Nó là một quá trình tự nhiên. Nếu hành giả dụng công quán
sát nó, tâm hành giả sẽ thể nhập với nó và khám phá ra bản chất của nó.

Khi đau đến, hãy ghi nhận trực tiếp với
cơn đau ấy. Không để ý đến nó chỉ khi nào nó xâm chiếm hoàn toàn và liên
tục. Hành giả chỉ có thể vượt qua cơn đau nhờ an trú trong định, và
định là kết quả của chánh niệm liên tục.

Nếu quá đau sinh khởi trong thời thiền hành, thỉnh thoảng hành giả phải dừng lại và ghi nhận nó.

Hãy kiên nhẫn với bất cứ điều gì và mọi thứ có thể kích động đến tâm trí của hành giả.

Kiên nhẫn dẫn đến Niết-bàn (Nibbāna) – không kiên nhẫn dẫn đến địa ngục.

6. Ghi nhận các trạng thái tâm

Khi ghi nhận các trạng thái tâm hay các
trạng thái tình cảm, hãy ghi nhận nó nhanh chóng và chính xác, nhờ đó mà
tâm ghi nhận được liên tục và mạnh mẽ.

Khi nỗ lực tập trung tâm ý hành giả có
thể ghi nhận được các tư tưởng vọng động, bằng không hành giả đã bị đánh
bại rồi. Nếu tâm của hành giả có khuynh hướng vọng động, điều đó cũng
là dấu hiệu hành giả thật sự chưa đủ mạnh để ghi nhận được các tư tưởng.
Khả năng đòi hỏi để làm được việc này quả thật là cần yếu.

Nếu hành giả lưu ý đến nội dung của tư
tưởng, các tư tưởng đó sẽ có khuynh hướng tiếp tục. Nếu hành giả ý thức
được chính các tư tưởng đó, thì dòng tư duy đó có thể được chấm dứt.

Đừng dính mắc đến dòng tư duy và học
thuyết. Thiền định vượt ngoài thời gian và không gian. Do đó, đừng bị
cột trói trong tư duy và học thuyết. Tuệ giác sẽ phát sinh khi có định.
Tư duy có tính cách biện chứng và triết học sẽ đến khi tâm có định một
cách nông cạn.

Hôn trầm có thể vượt qua chỉ khi hành
giả gia công trong tu tập. Cách niệm ‘phồng xẹp’ liên tục quả thật có
tác dụng rất lớn. Ghi nhận buồn ngủ một cách liên tục. Nếu hành giả chấp
nhận sự lười biếng, có nghĩa là hành giả đã đi một nửa đoạn đường buồn
ngủ rồi!

Thật ra, khả năng ghi nhận luôn luôn có
mặt, nhưng điều chướng ngại là hành giả do dự để thực hiện điều đó. Thái
độ tâm lý vô cùng quan trọng. Do đó, đừng có bi quan. Nếu hành giả lạc
quan, hành giả sẽ cho mình một cơ hội. Hài lòng trong mọi tình huống sẽ
làm cho hành giả ít phân tâm hơn.

Con người có khả năng vô tận và có đủ
sức mạnh để làm được nhiều việc. Nếu hành giả muốn phát triển thiền tập
này cho đến mục tiêu tối hậu của nó là tỉnh giác hoàn toàn, hành giả cần
phải hạ quyết tâm khi dụng công. Nếu hành giả hạ quyết tâm trong công
phu như vậy, hành giả sẽ đạt được giải thoát tối hậu, thoát khỏi những
tập nhiễm của chấp thủ, sợ hãi và vô minh.

Theo: DPNN

Xem thêm: https://www.phaphay.com/phat-phap/

Nguồn: https://www.niemphat.vn/

Rate this post

Add Comment