Niệm Phật & niệm Bụt

Niệm Phật & niệm Bụt 1

Tại sao tôi niệm Phật? Vì tôi muốn nhớ và nói đến những
lời dạy cao quý và tốt đẹp của Đức Phật trong đời sống hàng ngày; vì tôi
muốn tập làm theo hạnh nguyện cao đẹp của Đức Phật, để cho những hành
động của tôi không đẩy tôi đi vào con đường xấu ác và khổ đau; và vì tôi
muốn nghĩ đến những gì cao thượng và tốt đẹp mà Đức Phật đã nghĩ, để
cho những ý nghĩ không lành mạnh, không dễ thương của tôi được chuyển
hóa, được thắp sáng bởi những ý nghĩ cao quý và tốt đẹp của Đức Phật. Vì
vậy mà tôi niệm Phật mỗi ngày.

niemphat.gif

Niệm Phật và niệm Bụt khác nhau thế nào?

Ý nghĩa không khác nhau, chỉ khác nhau về cách phát
âm. Phật và Bụt đều là cách phát âm của người Việt từ chữ Buddha. Cách
phát âm chữ Phật có trong ngôn ngữ Việt Nam, ít nhất là trải dài 2.000
năm và cách phát âm chữ Bụt có trong ngôn ngữ Việt Nam, nhưng người Việt
ít sử dụng. Khái niệm Bụt trong thực tế đã bị “dân gian hóa” trở thành
một kiểu thần tiên cứu nạn (thấy rõ trong các truyện dân gian) chứ không
còn là hình ảnh vị Phật từ bi giác ngộ. Chữ Phật đọc trực tiếp từ chữ
・ナ hay ・ナ ・ノ của Trung Hoa. Người Trung Hoa, chính xác là vào đời Hán,
dùng những chữ này để phiên âm chữ Buddha và đọc theo âm riêng của họ,
nhưng người Việt chúng ta lại tự mô phỏng theo đó để hình thành hệ thống
ngữ âm riêng của mình gọi là âm Hán-Việt, đến nay vẫn tồn tại, trong
khi ngữ âm gốc của Trung Hoa thì đến các đời Đường, Tống… đã thay đổi
rất nhiều. Ngữ âm Phật (của người Việt) đã trở thành định âm của truyền
thống người Việt và đã được phổ cập trong mọi thành phần xã hội Việt Nam
từ tín ngưỡng, đạo đức tâm linh đến văn hóa giáo dục và ngay cả các văn
bản pháp quy thuộc các tổ chức hành chánh xuyên suốt mọi thời đại.
Người Trung Hoa ngày xưa phát âm Buddha là Bột-đà hay Bột-tha và ngày
nay tiếng Trung Hoa (phổ thông) phát âm Buddha là Fó. Vì vậy, Phật hay
Bụt đều là cách phát âm của người Việt có tính cách độc lập với ngữ âm
Trung Hoa.

Ta niệm Phật hay niệm Bụt với tâm không chuyên nhất,
với tâm cầu kỳ lập dị, tranh chấp mới cũ, đúng sai, bản ngã phình to,
thì cho dù ta niệm Phật hay niệm Bụt cũng chẳng có hiệu quả gì.

Trái lại, có những người chẳng niệm Phật, niệm Bụt gì
cả nhưng họ sống với tâm khiêm tốn, nhiệt tình đối với hết thảy công
việc bằng tâm vô cầu, nói cười đứng đi trong giác niệm và tĩnh lặng nên
thành tựu vô lượng công đức, được sanh vào cõi Phật ngay trong hiện
tiền.

Vì vậy, nếu ta niệm Phật hay Bụt với tâm khiêm tốn,
không lập dị, cầu kỳ, không liên hệ mới cũ, không thiên chấp đúng sai,
bỉ thử, thì phước đức cho ta và lợi ích cho muôn loài biết mấy!


Tây phương Tịnh độ và Phật A Di Đà

Có những quan niệm cho rằng Tây phương Tịnh độ của
Phật A Di Đà (Amitābha) là không có thật, như vậy có đúng không? Không
đúng! Tây phương Tịnh độ không có là đối với người không có đức tin Tịnh
độ, chứ không phải là không có đối với những người có đức tin ấy.

Không có sao được! Đối với không gian, đã có Đông thì
phải có Tây, đã có Nam thì phải có Bắc, đã có phương Trên thì phải có
phương Dưới. Trong không gian đã có các phương hướng như thế, thì sao
lại bảo rằng không có phương Tây? Nên nhớ, các phương hướng Đông, Tây,
Nam, Bắc, Trên, Dưới đối với người mù, thì họ hoàn toàn không thấy gì
hết. Tuy người mù không thấy, chứ không phải các phương hướng ấy không
có.

Phật A Di Đà cũng vậy, đối với người không có
Tín-Hạnh-Nguyện, ít thiện căn phước đức thì Ngài không có đối với họ,
chứ không phải Ngài không có đối với những ai có thiện căn phước đức và
nhân duyên đối với Ngài.

Trong các kinh điển thuộc văn hệ Āgama và Nikāya có
nói chi tiết về sự tu tập, chứng đạo và hành hóa của 6 Đức Phật quá khứ
như: Phật Tỳ-bà-thi (Vipaśyin), Phật Thi-khí (Śikhin), Phật Tỳ-xá-phù
(Viśvabhū), Phật Câu-lưu-tôn (Krakucchanda), Phật Câu-na-hàm-mâu-ni
(Kanakamuni), Phật Ca-diếp (Kaśyapa), cũng như Phật Thích-ca Mâu-ni
(Śākya-muni) đời hiện tại và Phật Di-lặc trong đời vị lai. Như vậy, đã
có một Đức Phật, hai Đức Phật, ba Đức Phật… thì cũng có thể có vô số
Đức Phật. Và đã có nhiều Đức Phật như vậy, tại sao lại không có Phật A
Di Đà!

Nên nhớ, Phật A Di Đà không phải là Phật quá khứ mà
là Đức Phật hiện tại đang giáo hóa ở cõi Tịnh độ phương Tây, cũng như
Đức Phật Thích-ca hiện tại đang giáo hóa cõi Ta-bà (Sahā) này. Và Bồ tát
Di-lặc cũng sẽ giáo hóa cõi Ta-bà này ở thời vị lai. Cũng vậy, Bồ tát
Quán Thế Âm và Bồ tát Đại Thế Chí sẽ là những vị giáo hóa cõi Tịnh độ
phương Tây thay cho Phật A Di Đà trong tương lai. Và cũng nên biết rằng,
không phải chỉ có một thế giới Tịnh độ của Phật A Di Đà ở phương Tây mà
còn có vô số thế giới Tịnh độ của chư Phật khác nữa.

Kinh A Di Đà bản Hán dịch của ngài La Thập và ngay cả nguyên bản tiếng Phạn cũng nói cho ta biết được điều này. Kinh Pháp Hoa, Hoa Nghiêm, Bi Hoa… cũng đều có nói về thế giới Tịnh độ của Phật A Di Đà.


Phật và Tổ

Có người cho rằng kinh A Di Đà không do Đức
Phật Thích-ca nói, mà do chư Tổ về sau kết tập. Có phải vậy không? Việc
chư Tổ kết tập là đúng, còn bảo không do Đức Phật Thích-ca nói là sai,
vì không có căn cứ. Nhưng không chỉ riêng một kinh A Di Đà do chư Tổ về
sau kết tập, mà tất cả kinh điển hiện nay ta được biết đều do chư Tổ về
sau kết tập cả, bao gồm cả các kinh điển được gọi là “Nguyên thủy” như
Āgama và Nikāya. Những hiểu biết về mặt lịch sử hiện nay cho ta biết như
thế.

Phật chỉ nói kinh, còn việc kết tập kinh điển là của
chư Tổ. Và với trí tuệ Toàn giác, với trí tuệ Chánh biến tri, với trí
tuệ Minh hành túc, với trí tuệ Thế gian giải, nên không có điều gì cần
thiết cho sự tu tập đạo giải thoát mà Đức Phật Thích-ca không giảng dạy
cho đệ tử của Ngài một cách tường tận khi còn tại thế. Ngài đã từng
giảng dạy về những hạnh nguyện mà Ngài và chư Phật đã từng tu tập trong
quá khứ, từ một đời cho đến nhiều đời, từ một kiếp cho đến nhiều kiếp,
từ một thế giới cho đến vô số thế giới và những tri kiến cũng như những
sở hành không thể nghĩ bàn của chư Phật, và các kinh điển ấy đã được chư
Tổ kết tập qua nhiều thời kỳ khác nhau, trong đó có cả các kinh điển mà
Đức Phật Thích-ca giảng dạy về Tịnh độ của chư Phật, khiến cho ta ngày
nay có được các văn hệ kinh điển như Āgama, Nikāya, Bản sanh, Bản sự, Nhân duyên, Vị tằng hữu, Vô vấn tự thuyết
Đọc lịch sử các tôn giáo lớn trên thế giới ta cũng thấy như vậy, các vị
Giáo chủ của các tôn giáo chỉ thuyết giảng, còn những vị kế thừa về sau
mới viết lại, khai triển và hệ thống hóa giáo lý của những vị Giáo chủ.
Ngay cả các sách Nho giáo như Dịch, Lễ, Thi, Thư đều không phải do Khổng Tử viết và nói ra, mà chỉ san định và hệ thống lại. Và ngay cả Cựu ước của Do Thái giáo, Tân ước của Thiên Chúa giáo La Mã, Koran của Hồi giáo, cũng đều do những người kế thừa san định.

Cũng vậy, trong Phật giáo, Đức Phật Thích-ca chỉ
giảng dạy kinh điển, còn việc kết tập, san định kinh điển là việc làm
của chư Tổ về sau vậy.


Phật và Tổ khác nhau thế nào?

Quốc sư Thông Biện đã trả lời ý nghĩa về Phật và Tổ
cho Thái hậu Ỷ Lan đời Lý như sau: Thường trú thế gian, không sinh không
diệt gọi là Phật. Hiểu rõ tâm tông của Phật, làm và hiểu hợp nhau thì
gọi là Tổ. Phật Tổ là vậy. Ấy bọn lạm xưng học giả tự dối, nói có hơn
thua vậy. Vả lại, Phật nghĩa là giác ngộ. Và sự giác ngộ ấy xưa nay vắng
lặng thường trú. Hết thảy hàm linh đều cùng một nguyên lý ấy. Chỉ bởi
bụi lòng che khuất, theo nghiệp nổi trôi mà chuyển nên các cõi. Đức Phật
vì lòng từ bi, nên thị hiện sinh ở Tây Trúc, bởi nó là nơi được gọi là
trung tâm của trời đất. Ngài 19 tuổi xuất gia, 30 tuổi thành đạo. Ở đời
thuyết pháp 49 năm, mở bày các phương tiện, dạy cho người, khiến họ ngộ
nhập được đạo. Ấy gọi là sự hưng khởi của một thời đại kinh giáo.

Khi sắp Niết bàn, sợ người sau mê chấp sinh tệ, nên
Phật bảo Văn Thù rằng: Suốt 49 năm, Ta chưa từng nói một chữ, sao lại
bảo có điều để nói? Rồi, Ngài cầm một cành hoa đưa lên, mọi người đều
ngơ ngác. Chỉ riêng Tôn giả Ca-diếp mặt mày rạng rỡ, miệng nở nụ cười
mỉm. Đức Phật biết Ca-diếp đã tỏ ngộ, liền đem Chánh pháp nhãn tạng trao
cho. Ấy là vị Tổ thứ nhất. Đó gọi là “tâm tông truyền riêng ngoài giáo
điển” (Thiền uyển tập anh).

Như vậy, qua sự trả lời về ý nghĩa Phật và Tổ của Quốc sư Thông Biện cho Thái hậu Ỷ Lan được ghi lại trong Thiền uyển tập anh
đời Trần đã cho ta thấy, Phật và Tổ đồng thể với nhau về mặt giác ngộ,
nhưng khác nhau về mặt trao truyền. Nghĩa là Phật tự thân Ngài giác ngộ,
Tổ cũng giác ngộ như Phật, nhưng sự giác ngộ của Tổ lại được Phật ấn
chứng và trao truyền. Vì vậy, ý nghĩa này giúp cho ta nhận ra rằng:
“Những gì chư Tổ nói là nói từ tâm tông, yếu chỉ của Phật”.

Lại nữa, chư Tổ là Tăng. Phật Pháp Tăng ở trong ngôi
Tam bảo, danh xưng thứ tự có trước sau, nhưng đồng một bản thể giác ngộ.
Do đó, từ nơi bản thể giác ngộ mà Phật vận khởi tâm từ bi để nói kinh
và cũng từ nơi bản thể giác ngộ ấy, mà chư Tổ vận khởi tâm từ bi để kết
tập kinh điển. Ấy là ý nghĩa Phật và Tổ, mà những người đệ tử Phật cần
phải hiểu, đừng để rơi vào tình trạng như Ngài Thông Biện nói: “Ấy bọn
lạm xưng học giả tự dối, nói là có hơn thua”.


Dựng xây Tịnh độ

Niệm Phật, khiến cho đời sống của ta tương ưng với
đời sống Tịnh độ và có khả năng thiết lập quê hương Tịnh độ cho ta và
cho hết thảy chúng sanh với bất cứ ở đâu và lúc nào.

Nên, niệm Phật là điều kiện quý báu nhất, giúp ta
tiếp xúc trực tiếp được với chư Phật mười phương và ba đời, và là điều
kiện gọi mời hay đánh thức Đức Phật trong tâm ta đản sanh hay thị hiện
giữa cuộc đời, để giúp chúng sanh thoát khỏi khổ đau và cùng nhau dựng
xây Tịnh độ.

Ta niệm Phật như vậy, mỗi ngày đi qua đời ta là mỗi
ngày đưa ta đi về với sự giác ngộ, với quê hương đích thực rộng lớn, tự
do và bình an.

Vậy, muốn chuyển hóa những khổ đau trong đời sống và muốn có tự do,
muốn có một quê hương đích thực rộng lớn và bình an cho tất cả chúng ta,
thì hãy cùng nhau niệm Phật!

THÍCH THÁI HÒA

Xem thêm: https://www.phaphay.com/phat-phap/

Nguồn: https://www.niemphat.vn/

Add Comment