Pháp thoại đầu xuân

Pháp thoại đầu xuân 1

Mỗi độ xuân về, Phật tử chúng
ta thường làm lễ Cầu an. Cầu an là mong cho mọi việc trong một
năm được bình an, như ý.

Theo tục lệ Việt Nam, thì nửa đêm
ngày 30 ÂL, đầu ngày mồng một năm
mới, tất cả chúng ta đều cử hành lễ Giao thừa. Theo tục lệ thế
gian tin rằng, lễ Giao thừa là Ngọc Hoàng Thượng Đế mỗi năm có sai một vị thần thị sát. Vị
thần năm này mãn nhiệm kỳ thì qua năm
mới giao lại cho một vị thần khác. Một bên thì giao, một bên
thì thừa (nhận) cho nên gọi là Giao thừa.

Phật tử chúng ta ở trong phong tục tập quán của dân tộc Việt Nam,
chúng ta cũng làm lễ Giao thừa. Đồng
thời, trong những giờ phút đó, chúng ta cũng làm lễ Kỷ niệm vía
của một đức Phật đương lai. Đó là
ngày đản sinh của đức Phật Di-lặc. Hễ nói
đến đức Phật, thì tất cả chư Phật
đều có đầy đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp. Ví dụ như đức Phật Thích-ca,
đức Phật Di-đà, đức Phật Dược-sư
hay đức Phật Di-lặc đều có tướng hảo quang minh, trí tuệ viên
mãn và từ bi vô lượng giống nhau. Nhưng ở
đây, tại sao chúng ta thấy đức Phật Di-lặc lại không có hình
tướng đó? Ngài là một vị Phật có
bụng lớn, miệng luôn luôn cười, xung quanh có trẻ con chọc nách, xoi
tai, móc mũi… như thế có ý nghĩa gì? Như lịch sử cho chúng ta biết đức Di-lặc là một vị Phật sẽ thay
thế đức Thích-ca giáng sinh trong thế
giới Ta-bà, để hóa độ chúng sinh vào
một kiếp sau này. Tượng đức Di-lặc mà
chúng ta thường chiêm ngưỡng trong các chùa thì hiện Ngài chỉ mới là
một vị Bồ-tát bổ xứ; nghĩa là một vị Bồ-tát sắp sửa làm Phật, một vị
Phật tương lai; cũng như đức Thích-ca là
vị Phật hiện tại, Phật Di-đà là vị
quá khứ. Chúng ta thờ tượng đức Di-lặc
với bụng lớn, miệng cười là thờ hóa thân của đức Di-lặc. Tương truyền kể rằng: Đời
trước Ngài hóa thân làm một vị Hòa thượng ở Trung Quốc có tên
là Thế Thử. Nhưng tên Thế Thử ấy, thiên hạ ít biết. Thông thường mọi
người chỉ biết Ngài với cái tên là “Bố
Đại Hòa thượng”, bởi vì Ngài thường mang một đẫy vải rất lớn, đi nơi này nơi
khác, ai cho thứ gì Ngài đều bỏ hết vào
trong đẫy đó. Khi đầy đẫy rồi, Ngài
thường đến chỗ có cây im bóng mát, quy tụ
trẻ con lại,dạy bảo điều hay lẽ phải và cho chúng những thức ăn mà Ngài vừa xin được.

Chuyện kể rằng: Có một lần, Ngài gặp một vị Sư. Vị này đi trước, Ngài chạy theo và xoa
xoa sau lưng. Vị Sư đó xoay lưng lại, Ngài
nói: “Cho xin một đồng”. Vị Sư ấy đáp: “Nói được thì sẽ cho”. Ngài liền hạ đẫy vải xuống. Vị sư đó hỏi: “Chỉ
có thế thôi sao?” Ngài liền quảy đẫy vải
bỏ đi. Đây là một lối khai thị của Ngài theo truyền thống Bắc
tông. Người ta chỉ biết Ngài như thế, nhưng không ai biết Ngài là ai
cả, cũng không biết đó là hoá thân
của Ngài Di-lặc.

Một ngày nọ, trước khi thị tịch, Ngài có để lại bốn câu thơ:


“Di-lặc chơn Di-lặc,

Thiên bách ức hóa thân,

Thời thời thị thời nhân

Thời nhân thường phất thức”.

(Di-lặc đúng thật là Di-lặc đây, hóa thân trăm ngàn ức, thường
thường chỉ thị cho mọi người, mà mọi người không biết được).

Lúc ấy người ta mới biết đó là đức Di-lặc và mới tạc tượng để thờ. Khi tạc tượng người ta mới tạc
tượng hình dáng bụng lớn, miệng cười… Vậy thì bụng lớn, miệng
cười này có nghĩa gì? Có một câu đối để
diễn tả cái bụng lớn và miệng cười của Ngài như thế này: “Đại
đỗ năng dung, dung thế gian nan dung chi sự. Hàm nhan vi tiếu,
tiếu thế gian nan tiếu chi nhân”. (Cái bụng lớn có thể dung chứa những
việc mà người đời không dung chứa được.
Miệng nở nụ cười mĩm với những điều mà người đời khó có thể cười được).

Trước hết cắt nghĩa cái bụng lớn. Bụng lớn đó là
để tiêu biểu cho tâm lượng hỷ xả bao dung của Ngài. Ngài có một
lòng từ bi hỷ xả bao dung rộng lớn; chứ không phải như tâm lượng của
chúng ta hẹp hòi, không bao dung được. Ai
cho mình, ai giúp mình thì mình thương; ngược lại, ai không
thương mình, không giúp mình, thì mình xa họ; ai chê mình thì mình
ghét, mình không bao dung được. Ai lỡ
đụng một chút thì mình giận, giận mãi giận hoài, không bao dung được. Thấy ai đói, thấy ai nghèo,
mình cũng nhắm mắt bỏ qua, không bao dung
được. Ngược lại, Ngài có một tấm lòng từ bi hỷ xả bao dung hết
thảy. Bao dung những khó khăn, khổ não,
buồn vui của tất cả chúng sinh. Cho nên tượng Ngài với một cái bụng to
như vậy là tiêu biểu cho một tấm lòng bao dung, chứ không phải chỉ là
một cái bụng mỡ không! Tục ngữ ta có câu: “Chín bỏ làm mười”. Đó cũng là ý nghĩa của tâm lượng
bao dung.

Hai nữa là ý nghĩa của cái miệng cười. Miệng cười của Ngài là một
nụ cười hoan hỷ. Hoan hỷ của Ngài là cái hoan hỷ từ trong lòng phát
ra, chứ không phải từ bên ngoài vô. Chúng ta thì hoan hỷ từ ngoài vô,
chứ ít khi có được cái hoan hỷ từ trong
tâm ra.

Hoan hỷ từ bên ngoài vôâ là nghĩa thế nào? là khi người ta đem đến cho mình một món quà gì,
thì mình hoan hỷ. Trái lại, khi người ta giựt một món quà từ trong tay
mình, thì mình không hoan hỷ nữa. Khi mình được trúng số độc đắc, thì mình
hoan hỷ, nhưng khi mình bị người khác ăn
cắp tiền thì không hoan hỷ nữa. Thành cái hoan hỷ của mình chỉ
như một cái bong bóng. Khi có ai thổi vào thì nó phình lên. Khi không
có người thổi thì nó xẹp xuống. Như vậy thì cái hoan hỷ của mình nó
tùy thuộc theo ngoại cảnh không thật.

Trái lại sự hoan hỷ của đức Di-lặc là
sự hoan hỷ từ trong nội tâm mà ra. Đó là
một sự hoan hỷ đánh dẹp kẻ giặc phá phách
trong lòng mình, làm cho mình đau
khổ triền miên trong luân hồi sinh tử như tham, sân si, kiêu
mạn, tật độ, ngã mạn, cống cao…;
những thứ giặc ấy, Ngài đã dẹp hết
cho nên Ngài hoan hỷ. Cái hoan hỷ từ bên trong cho nên nó lâu bền, chứ
không phải hoan hỷ giờ trước rồi giờ sau buồn. Đầu năm làm lễ vía đức Di-lặc, nhìn lên tượng hoan hỷ
của Ngài để chúng ta học lấy cái tâm hoan
hỷ, bao dung của đức Phật. Khi biết bao dung hoan hỷ, thì tất
cả mọi người đều là bạn thân, đều là thiện tri thức. Do đó có thể nói, nếu chúng ta không biết
hoan hỷ, không biết bao dung, thì khi ấy tất cả mọi người xung
quanh ta đều trở nên xa lạ với
chúng ta. Phật dạy: có hoan hỷ là có an lành, hoan hỷ là nền tảng của
hạnh phúc. Phật tử chúng ta cầu an là cầu sự hoan hỷ, mong làm sao
thân và tâm được hoan hỷ. Thân an lạc thì
tâm mới an lạc, và ngược lại tâm an lạc thì thân mới an lạc được. Cho nên khi cầu an, Phật tử
chúng ta phải cầu thế nào để cho thân an
lạc mà tâm cũng phải an lạc.

Cầu cho thân tâm an lạc không chỉ là cầu mong sự gia hộ của đức Phật, mà còn phải vâng theo
lời dạy của đức Phật mới có thể viên
mãn được sự cầu nguyện đó. Phật tử chúng
ta trong khi cầu đức Phật gia hộ cho chúng ta được an lành, thì đồng thời, chúng ta cũng phải vâng theo
lời Phật dạy, tự sửa lấy mình và dìu dắt những người thân của
mình đi theo con đường tốt, lương thiện
thì mới là sự cầu an tốt nhất. Hay nói cách khác, cầu an là cầu
cho thân an và tâm an như Phật tử chúng ta thường chúc nhau bằng câu
“Thân tâm an lạc”. Đó là ý nghĩa
của sự cầu an mà Phật tử chúng ta mong ước.

Nhưng cầu an cũng có nhiều
cách: chúng ta lễ Phật để cầu an, tụng kinh để cầu an, bố thí để
cầu an, hiếu để với cha mẹ để cầu an, làm lành tránh dữ cũng
để cầu an… tất cả mọi sự đều có thể cầu
an được hết. Theo tục lệ ngày xưa, khi chưa hiểu biết giáo
pháp
của đức Phật, chúng ta đi cúng sao giải
hạn. Vì sao phải cúng sao giải hạn? Tất cả sao hạn cũng là tùy
theo nghiệp của chúng ta. Nghiệp của chúng ta lành hay dữ là
do chính
chúng ta tạo ra; còn sao hạn, nếu có chăng,
thì cũng chỉ là phụ. Cho nên muốn cầu được an thì chính chúng
ta phải
cầu cho có được nhiều nghiệp lành,
tránh nghiệp dữ, tức là an. Không thể nào an được khi chúng ta
muốn không ai đánh mình,
mà mình cứ thích đánh người ta. Mình đánh kẻ khác thì người
khác đánh lại, thế thì làm sao an được! Mình mắng kẻ khác thì kẻ
khác mắng lại, không sao an được!

Lại nữa, có những oan nghiệt
sâu xa, chẳng hạn như : có những loại
bệnh tật mà ngày nay chúng ta hay con cháu chúng ta vấp phải,
hoặc vì
nuôi dưỡng thiếu thốn nên tứ đại bất hòa
mà sinh bệnh tật. Lại cũng có những thứ bệnh tật vì oan
nghiệt, sinh
ra là đã bệnh tật rồi. Theo luật
nhân quả thì đó là một loại bệnh
oan nghiệt do chúng ta đã gây oan
nợ đối với ai đó trong dĩ vãng
hoặc với kẻ khuất mặt, bây giờ chúng ta phải trả. Nhưng họ là
ai, mình
không biết được. Khi đã có nhân
thì có quả: đã gây oan với họ thì
họ trả oan, không làm sao tránh khỏi. Vậy trong trường hợp đó,
chúng ta phải làm gì? Chúng ta
nên đến trước đức Phật để cầu nguyện hoặc
tụng kinh, hầu đem lời dạy của đức Phật để giải hòa, để sám
hối, để nhờ đức Từ bi của Phật mà được an. Muốn những oan khiên dĩ
vãng của mình được sạch hết để cho mình được an, thì trong
hiện tại, mình
cũng phải tránh gây ra sự oan khiên với người khác.

Thành thử, nói cầu thì phải cầu một cách cho thực tế. Nghĩa là
nguyện với đức Phật làm lành,
tránh dữ, không gây oan nghiệt với một ai hết, thì lúc ấy mới được an. Nhớ như vậy, để chúng ta hằng ngày
khi cầu an, phải nghĩ đến trên nhờ đức Phật gia hộ, đồng thời cũng phải vâng
theo lời Phật dạy, đem thân tâm của mình an trú vào chỗ tốt thì
mới an lành được. Chứ chỉ cầu Phật gia hộ
cho mình được an lành, mà
mình lại làm những việc không an lành, thì làm sao mà an lành được. Đó là ý nghĩa cầu an.

*

Hôm nay, nhân ngày khai kinh Pháp Hoa
đầu năm, các Phật tử đi chùa lễ Phật, nghe pháp để cầu cho thân tâm được an. Vì
vậy tôi cũng xin góp mấy ý trong việc nghe pháp.

Trước khi tụng kinh, mỗi lần mở kinh ra, câu đầu tiên mà chúng ta đọc lên là “Như thị ngã văn”,
có nghĩa là “Như vậy tôi nghe” hoặc “Tôi nghe như vầy”. Bốn chữ này có
nghĩa như thế nào? khi đức Phật mới thành đạo, Ngài phân vân không muốn
thuyết pháp, vì thấy rằng: “Những Pháp mà Ta chứng ngộ quá cao siêu,
huyền diệu, vượt ngoài lý luận. Còn chúng sinh ở giữa này thì ích kỷ,
hẹp hòi, tham dục lạc, làm sao mà nghe
được đạo lý đó?” Cho nên Ngài không muốn thuyết pháp.

“Nhưng sau khi quán sát, thấy
chúng sinh cũng như những cây sen ở
trong hồ: có cái còn ở dưới nước, có cái vừa lên lưng chừng
nước, có
cái đã lên khỏi mặt nước, và có
cái đã vươn mình ra khỏi mặt nước để đón ánh nắng trổ hoa và
đem hương thơm lại cho đời. Chúng sinh
cũng như vậy: có kẻ căn tánh thấp kém, có kẻ căn tánh vừa,
nhưng cũng
có kẻ căn tánh lanh lợi, chỉ chờ người khai mở là có thể hiểu
được giáo pháp. Cùng lúc đó có Phạm thiên Sahampathi cầu
thỉnh ba lần, nên đức Phật hứa sẽ thuyết
pháp: cửa bất tử mở ra, ai có tai hãy lắng nghe và dứt bỏ vô
minh tà kiến của mình.”

Khi tuyên bố như vậy rồi thì đức Phật
bắt đầu đi thuyết pháp. Lần thuyết pháp đầu tiên là tại vườn
Nai cho 5 anh em Ông Kiều Trần Như. Và từ
đó Ngài tiếp tục thuyết pháp trong 45 năm,
khi chỗ này, khi chỗ khác, Ngài
đều thuyết pháp cho chúng sinh, không ngày nào nghỉ chân.

Sau khi đức Phật nhập Niết-bàn
rồi, các hàng Thánh đệ tử của Phật, sợ
những lời dạy của Ngài bị rơi rớt, bị quên mất, lâu ngày không
ai còn nhớ được. Và trong lúc đức Phật còn sinh tiền đi giáo
hóa, đến chỗ này Ngài
thuyết bài kinh này, đến chỗ khác Ngài
thuyết bài kinh khác; có người nghe được,
có người không nghe được. Người thì nghe được bài kinh ở chỗ
này mà không
nghe được bài kinh ở chỗ khác;
Người thì nghe được bài kinh ở chỗ
khác mà không nghe được bài kinh ở
chỗ này. Nên Tôn giả Đại Ca-diếp mới tập
trung các hàng đệ tử Phật hôi họp
lại, làm một cuộc kết tập, thâu góp những lời đức Phật dạy
trong lúc sinh tiền, để cho
tất cả đại chúng ai nấy cũng đều được nghe, được nhớ. Đại hội
này
gọi là đại hội kết tập kinh điển. Trong
đại hội có thỉnh Ngài A-nan đọc
lại lời kinh của đức Phật dạy. Bởi ngài A-nan hầu Phật tới 25
năm,
khi nào ngài A-nan cũng thân cận bên Phật, cho nên dầu Phật
thuyết pháp ở chỗ nọ, chỗ kia, chỗ này, chỗ khác, ngài A-nan
luôn luôn được nghe. Đó là lý do đại chúng thỉnh ngài A-nan tuyên
lại lời Phật thuyết cho đại chúng nghe.
Khi mỗi câu kinh, mỗi bài kinh do Tôn giả A-nan đọc lên, mà
đại chúng xác nhận rằng Phật quả có nói
như vậy, tất cả đồng chấp nhận, thì câu kinh đó trở thành một
câu kinh cố định; bài kinh đó trở thành bài kinh cố định và tất cả Đại
chúng phải vâng theo, phải chấp nhận
đó là lời của đức Phật dạy. Do đó
câu “Như thị ngã văn” là
câu của Ngài A-nan đọc lên ở trước đại chúng rằng tôi có nghe
như vầy: một
lúc nọ đức Phật ở tại Tinh xá Kỳ Hoàn, hay ở tại Linh Thứu, ở
tại Kỳ-xà-quật, Ngài nói những bài pháp, những bài kinh sau
đây v.v… Thành ra, bốn chữ “Như
thị ngã văn” đó là những lời của Ngài A-nan nói
lên ở trước đại chúng: Như vậy tôi nghe”,
Phật ở chỗ đó, nói như thế này,
thế này v.v… Hoặc tôi nghe như vầy, Phật ở chỗ nọ nói như thế
này, thế
này v.v… Nhờ đó mà sau này ba tạng
Kinh điển của Phật được chép thành
văn. Nếu như không có cuộc kết tập của
chúng đệ tử sau đức Phật diệt độ, thì sau này liệu kinh văn
của Phật có còn đến ngày
nay cho chúng đọc nữa hay không!

Ngày nay chúng ta đọc lại lời Phật. Mở
đầu kinh, chúng ta cũng đọc lại “Như thị ngã văn”
thì “Ngã văn” đây không còn là của Ngài A-nan
nữa, mà “Ngã văn” đây chính là tôi nghe, chúng ta
nghe như vậy. “Ngã văn” ngày xưa
là chính Tôn giả A-nan nghe, mà “Ngã văn”
ngày nay là chính chúng ta nghe. Nhưng cái ta nào nghe? Thường thì
chúng ta có rất nhiều cái ta. Tuy nói ta, nhưng thực tình ra, trong sự
diễn tiến của những hành động hàng
ngày, chúng ta có rất nhiều cái ta. Khi nổi sân lên nói “Ta đánh mi chết”, cũng là ta. Khi
khác, “Cho tôi xin một chén nước” cũng là ta. Khi tham lam cũng là ta,
khi kiêu mạn, tật đố cũng là ta.
Khi thương người giúp vật cũng là ta; khi mở rộng lòng vô ngã vị tha
cũng là ta.

Thế thì, “Như vậy tôi nghe” là
cái ta nghe. Nhưng chúng ta đem cái ta nào để nghe? Đem cái ta sân si
nghe? Đem cái
ta tật đố nghe? Đem cái ta tham lam, ích kỷ hẹp hòi nghe? Đem
cái ta vô ngã vị tha nghe? Hay đem cái ta từ bi hỷ xả nghe? Vậy chúng ta
đem cái ta nào để nghe đây?

Theo tôi, cái ta nào cũng có
thể nghe
được hết được. Nhưng, nếu đem cái ta sân si, kiêu mạn, tật đố
mà nghe thì cái ta đó nghe không lọt lời kinh Phật. Bởi vì,
cái ta tham lam tật đố, cái ta ngã
mạn cống cao, cái ta nhỏ mọn ích kỷ, chính những cái ta đó đi
ngược lại với lời kinh Phật, nên
tuy có nghe mà không nghe được. Đem những
cái ta đó mà nghe thì không có kết quả. Ngược lại, nếu đem cái
ta từ bi, cái ta hỷ xả, cái ta
thiết tha cầu pháp, chân thật nghe pháp, mong nghe pháp để tu
hành
thì mới có thể nghe lọt tai được. Cho nên
khi nói ta nghe thì cũng nên phân biệt cái ta nào nghe đây.
Nếu đem cái ta “thử nghe thầy
này nói xem có hay không” thì cái ta đó
sẽ không nghe được. Hoặc đem cái ta “để
xem thầy nọ nói có lý không”, thì cái ta đó cũng không nghe
được. Tóm lại, chỉ có
đem cái ta chân thật, thiết tha cầu pháp, thì mới có thể nghe
được.

Đó là mới nói đem cái ta mà
nghe, chứ còn phải nghe như thế nào nữa mới gọi là nghe. Nghe cũng có
nhiều loại: nghe tiếng cũng là nghe, nghe pháp cũng là nghe, nghe lại
lòng mình cũng là nghe.

Nghe tiếng là như nghe ca hát, kịch nhạc, đàn
địch; là những cái nghe của thế gian, họ cốt thưởng thức cái
khoái cảm về âm thanh du dương trầm bổng mà họ mong đợi.

Nghe Pháp cũng là nghe, nhưng mà nghe nghĩa lý của câu nói. Như các
Phật tử nói sáng nay tôi lên chùa nghe pháp, chính là để nghe nghĩa lý của lời Phật. Nghe như
vậy cốt để tu mà giải thoát.

Nhưng cũng có trường hợp không nghe tiếng, không nghe Pháp, mà chỉ
nghe lại lòng mình, lắng lòng lại để nhớ
lời đức Phật dạy mà mình từng được
nghe, mình từng được đọc. Cái nghe
đó chính từ nơi lòng mình chứ không đâu xa, cái nghe đó là thật nghe,
cái nghe bất động, chân thật. Thiền tông
nói cái nghe đó là Phật tức tâm, tâm tức Phật.

Vậy thì, “Như vậy tôi nghe” là tôi nghe cái nào đây? Nghe tiếng, có phải là nghe
không? Không phải là nghe. Bởi vì chỉ nghe tiếng không, thì các Phật
tử chỉ nghe nói tiếng của vị giảng sư đó
nói sao mà ấm quá; tiếng của thầy
đó sao mà thanh tao quá, hoặc lủng củng quá. Thế thì cũng không
khác nào chỉ như nghe một bản nhạc: bản nhạc này hay, bản nhạc đó dở. Đó chỉ là nghe tiếng, chứ
không phải nghe pháp.

Vì thế, cũng có những Phật tử đi chùa
nghe pháp rất nhiều mà nhớ không được bao
nhiêu. Bởi nhiều khi nghe mà cái tâm chỉ để nơi tiếng chứ không phải để nơi pháp.
Tâm để nơi pháp là phải lắng lòng nghe nghĩa lý của từng câu
nói, nghe đạo lý trong từng âm thanh. Đó
mới là nghe pháp.

Có trường hợp không nghe tiếng, không nghe pháp, mà chỉ ngồi lặng

thinh để trầm tư lại, lắng lòng
lại, bỏ hết những điều tạp niệm riêng
tư, ôn lại lời của đức Phật dạy. Khi đó
trong tự đáy lòng mình nghe lại lời của đức Phật dạy phát ra âm thanh. Đó cũng là
nghe. Cái nghe này cao hơn, vi diệu hơn.

Vì có nhiều cách nghe như vậy, cho nên chúng ta có thể phân biệt ra
có bốn loại nghe:


1. Không nghe mà không nghe:
là không nghe gì hết. Đây chính là trường hợp của những
người ở trong hội chúng, trong đạo tràng để nghe Pháp, nhưng kỳ thật là
ngồi ngủ gục chớ không nghe được gì.
Thành thử, Pháp đã không nghe,
tiếng cũng không nghe mà tâm cũng không nghe. Tóm lại họ không nghe được gì, mặc dù họ có ngồi trong
hội chúng.


2. Nghe mà không nghe: tức trường hợp chỉ nghe tiếng chứ không
nghe Pháp. Chỉ nghe từng câu nói, chỉ nghe âm thanh, chứ không nghe
Pháp. Đạo lý của lời Phật, lời Pháp đó
nói như thế nào, cũng không nghe thấy; ý nghĩa gì trong âm
thanh đó, không nghe thấy. Cái nghe đó
cũng như nghe một bản nhạc. Chỉ nghe tiếng ngân nga lên xuống
rồi qua đi, chứ không biết bản nhạc nói
cái gì trong đó. Đó là chỉ
nghe tiếng, chứ không nghe Pháp, tức nghe mà không nghe.


3. Nghe mà nghe: trường hợp này là vừa nghe tiếng mà cũng vừa
nghe Pháp. Nghe tiếng rõ ràng, âm thanh lên xuống, nhưng đồng thời cũng hiểu rõ, cũng thấm
thía được đạo lý và ý nghĩa ở
trong đó. Cho nên vừa nghe tiếng
mà cũng vừa nghe Pháp, đó là một
lối nghe trọn vẹn.


4. Không nghe mà nghe: không nghe tiếng mà chỉ nghe lại lòng
mình, tức chỉ nghe Pháp thôi:

Ngày xưa, trong một Tinh xá nọ, có một vị Tăng
trúng kỳ đi thuyết pháp. Trong Đại chúng có lệ phải thay phiên
nhau đi thuyết pháp hay đi trai tăng tại
nhà thí chủ mời. Hể cứ tới kỳ có ai mời, trúng người thứ nhất
thì người thứ nhất đi, trúng người thứ
hai thì người thứ hai đi, trúng
người thứ ba là người thứ ba đi.
Tóm lại, hễ tới phiên ai là người
đó phải đi thuyết pháp. Bửa đó, có một vị Tăng chỉ chuyên tu
thôi, chứ vấn đề thuyết pháp thì
không lưu loát, nếu ra giữa chỗ đông
người thì không được bình
tĩnh lắm.

Ngày kia, có hai vợ chồng một gia đình
nọ dự định làm lễ về nhà mới, họ
lên Tinh xá thỉnh thầy về làm lễ chú nguyện và thuyết Pháp cho gia đình
được phước. Trong khi làm lễ chú nguyện, thầy vẫn hành lễ đầy đủ và rất trang nghiêm. Khi lễ
Phật xong Thầy ngồi vào bàn thuyết Pháp. Hai vợ chồng quỳ gối, chắp
tay lắng nghe. Trước khi thuyết pháp Thầy niệm: “Nam Mô Bổn Sư Thích
Ca Mâu Ni Phật”, thì thấy cả hai vợ chồng chắp tay thành tâm lắng
nghe. Khi thầy bắt đầu thuyết, nhìn
kỷ hai vợ chồng vẫn nhắm mắt lắng nghe. Thấy vậy thầy cũng không sao
thuyết được, vì họ đang thành tâm quá nên không nhìn
thầy và thầy cũng mừng vì nghĩ họ đang
niệm Phật nên thầy im lặng nhè nhẹ rút lui về tinh xá. Họ quỳ
khá lâu, đến khi mở mắt, thì Thầy
không còn đó nữa. Hai vợ chồng hoảng quá,
không biết làm sao, liền chạy đến
Tinh xá tìm thầy mà tạ tội.

Thầy biết chắc hai vợ chồng sẽ tìm đến
Tinh xá để gặp Thầy, nên thấy hai vợ chồng người đó ở đâu là Thầy tránh mặt không
ra tiếp vì biết cái tâm lý tự ti mặc cảm của mình.

Hai vợ chồng đến Tinh xá xin gặp, Thầy
không chịu tiếp, Tăng chúng bảo ra cho người ta gặp một chút, Thầy
cũng không chịu. Hai vợ chồng không biết làm sao, đành tạm thời trở về, bửa sau lên
lại.

Ngày hôm sau lên lại. Hai vợ chồng cứ
đợi mãi đợi hoài, Thầy vẫn
không chịu tiếp. Bị đại chúng thúc ép:
thôi thì Thầy ra cho người ta gặp, chớ làm gì mà cứ tránh né
như thế. Thầy đành phải ra tiếp. Đại chúng động viên: Thầy đã thuyết Pháp cho họ bây giờ gia
chủ biết ơn, thành tâm xin lên cảm tạ, chớ có gì phải mắc cở đâu mà Thầy phải tránh né như vậy!
Nhưng tâm trạng của Thầy khi đến nhà
gia chủ thuyết Pháp nửa chừng rồi rút lui thì trong Đại chúng đâu có biết! Vì vậy mà
trong Đại chúng có người cầm tay kéo Thầy
ra cho được. Thầy đi ra, nhưng trong bụng vẫn cứ phân vân: không biết
hai vợ chồng sẽ trách móc mình cái gì đây? Cho nên đi ra mà Thầy cứ rụt rè, bẻn lẻn.

Thầy vừa đi ra. Cả hai vợ chồng gặp
được Thầy rồi, sụp đầu bái lạy, cung kính vô cùng, họ quỳ xuống
tác bạch: Chao ôi! Vợ chồng chúng con xin thành tâm cảm tạ Thầy. Chúng
con đã có một ngày thật hết sức
hạnh phúc, hoan hỷ. Ngày qua, Thầy về làm lễ vào nhà mới cho chúng
con, Thầy đã thuyết một bài pháp
cho chúng con thật thâm thúy quá. Chúng con thật sung sướng vô cùng!
Chúng con đã có một ngày mà thân
tâm nhẹ nhàng và an lạc! Từ lâu nay con nghe pháp cũng đã nhiều. Nhưng chưa có lần nào
sung sướng cho bằng lần này, con nghe Thầy thuyết Pháp! Cho nên chúng
con xin cảm ơn Thầy.

Nhưng kỳ thật Thầy có thuyết
gì đâu?
Thầy chỉ niệm Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật rồi thì Thầy
đi thôi, thế mà lại được cám ơn! Nghe khen như vậy Thầy cũng
làm thinh thôi, chứ vô lẽ nói tôi không thuyết gì hết à? Như
thế thì kỳ quá! Thôi, họ đã nói
vậy thì thầy cũng làm thinh vậy.

Đến khi họ đi rồi, Chúng Tăng xúm đến hai bên vợ chồng mà
hỏi: Anh này, chị này, ngày hôm qua Thầy
đó nói gì mà anh chị khen hay dữ thế? Thầy ấy nói cái gì mà làm
cho hai anh chị sung sướng hơn các buổi thuyết Pháp khác. Hai vợ chồng
trả lời: thưa quý Thầy, hôm đó chúng con
thành tâm nghe Thầy thuyết Pháp. Thầy nhắc lại lời Phật dạy:
“Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành; tịnh kỳ chí ý, thị chư Phật
giáo” Thầy cắt nghĩa từng câu, từng chữ sao mà hay quá, thấm thía quá:
Các điều ác chớ làm, các điều lành gắng làm, giữ tâm ý
trong sạch; đó là lời chư Phật
dạy. Thầy nhắc lại bốn điều đó. Thầy cắt
nghĩa chu đáo, súc tích, rõ ràng cho nên chúng con nghe sung
sướng và giờ phút đó thật là khinh
an vô cùng. Cho nên chúng con đến cám ơn
Thầy.

Nghe thế. Chúng Tăng mới kéo đến Thầy
và nói: cha, bấy lâu nay Thầy có tài thuyết pháp hay như thế mà
lại dấu nghề! Này Thầy có phương pháp như thế nào mà giảng hay thế?
Bửa đó thầy giảng bài pháp đó như thế nào? bửa nay Thầy bày
cho chúng tôi với?

Khi đó, Thầy mới nói: dạ không, bửa đó
tôi có giảng gì đâu! Tôi nói thật
với quý Thầy, chứ ngày hôm đó tôi
cũng hoảng quá. Tôi vốn đã không có khiếu nói Pháp nên khi thấy
hai vợ chồng quá thành tâm, nên tôi cũng không dám ngồi lâu nữa. Khi
niệm Phật xong, tôi run quá, nên tôi nhè nhẹ rút lui, chớ tôi có nói
và giảng gì đâu!

Thầy không giảng gì cả mà đệ tử vẫn
nghe. Thế thì họ nghe cái gì? đó
chính là nghe Pháp, chứ không nghe tiếng: nghe chính từ trong
lòng mình chứ không từ lời thầy giảng. Đó
chính là không nghe mà nghe. Nhưng muốn đạt đến mức không nghe mà nghe,
thì trước hết phải có nghe mà nghe đã.
Phải nghe mà nghe rồi mới đạt đến không
nghe mà nghe được. Chứ nếu như
không có trải qua thời gian nghe, là nghe tiếng; rồi đến nghe mà nghe, là vừa nghe
tiếng vừa nghe Pháp, thì không làm sao có thể đạt đến không nghe mà nghe được.

Cho nên các Phật tử, mỗi lần nghe Pháp như thế này, lắng lòng lại,
nếu chúng ta đem cái ta sân si, ích kỷ,
nhỏ mọn, tật đố, để mà nghe pháp thì chắc không có kết quả;
trái lại nếu đem cái ta rộng rãi,
hỷ xả, cầu Pháp mà nghe Pháp, thì các Phật tử sẽ nhận được lời Pháp của đức Phật dạy. Khi các
Phật tử nhận được lời Pháp của đức Phật dạy, nó gắn chặt vào
tâm tư của mình, đi đâu mình cũng
nghe được bài Pháp đó hết. Dầu không nghe vẫn nghe; dầu
không ai thuyết mà vẫn nghe. Cũng như câu niệm Phật, khi mình
nhờ người khác niệm cho mình nghe (hộ niệm), là chỉ khi nào cơ thể
mình quá yếu, không đủ sức, nên
mới nhờ người xung quanh hộ niệm để mình
nghe. Nhưng khi đủ sức, câu niệm Phật gắn
chặt trong lòng rồi, thì mình phải tự niệm. Chính cái tâm tự
niệm đó mới là Phật, là Phật thật,
Phật chắc chắn. Mà khi mình có được tâm
niệm Phật thật đó, thì chắc chắn
được vãng sanh, chứ còn miệng mình niệm Phật mà tâm không có
chút nào là Phật hết thì không làm sao vãng sanh được.

Trong pháp môn niệm Phật được vãng
sanh có hai trường hợp: Trường hợp nhất tâm bất loạn vãng sinh. Trường
hợp vãng sanh này gọi là Thượng phẩm thượng sanh, tức sinh lên hoa sen
cao nhất, sinh lên Tịnh độ là được thấy Phật nghe Pháp liền. Trường hợp
thứ hai là đới nghiệp vãng
sanh. Tuy nghiệp còn nặng, nhưng nếu mình nhất tâm niệm Phật, thì dầu
còn mang nghiệp nặng, nhưng nhờ nhất tâm niệm Phật, nên được Phật tiếp dẫn vãng sanh. Sự
vãng sanh này tuy khi mới vãng sanh, thì sinh về hoa sen thấp, nhưng
sau một thời gian không xa, nhờ thấy Phật và nghe Pháp thì sẽ sinh lên
Thượng phẩm thượng sanh. Cả hai trường hợp nhất tâm bất loạn vãng sinh
và đới nghiệp vãng sanh, thì tâm
niệm Phật đó phải có, phải có Phật ở
trong tâm. Cho nên khi nhờ người khác hộ niệm, thì sự niệm Phật
giúp đó có ý nghĩa gì? Có nghĩa là
giúp sức để nhắc cho mình nhớ
Phật, mà loại bớt những tạp niệm lăng
xăng bên ngoài. Cũng như một người bệnh, đi một mình không vững, phải nhờ
người khác dìu. Nhưng để đi được thì
ít nhất người đó phải gượng dậy để đi.
Nếu không gượng dậy đi, mà lại nằm liệt ra đó, thì làm sao mà đi được! Người đó có được người khác dắt
cũng không đi được. Người đó chỉ có để lên trên xe mà đẩy thôi, chứ không đi được.

Suy cho cùng, việc gì cũng có nhân và duyên của nó. Cái nhân là cái
chính tự bên trong, cái duyên là cái phụ lực bên ngoài. Khi mình có
cái nhân niệm Phật ở trong lòng rồi, thì bên ngoài, sự niệm Phật của
thiện hữu tri thức, của chư Tăng hộ niệm
làm cái duyên giúp thêm, khi ấy đủ
cả nhân cả duyên thì sự vãng sanh Cực lạc được dễ dàng quyết định và mau chóng được thành tựu.

Như vậy là tôi đã nói qua việc
niệm Phật để các Phật tử hiểu thêm
ý nghĩa của việc nghe Pháp. Nếu như mình nghe câu “Nam Mô A Di Đà Phật” rồi bỏ qua, không dính gì
trong lòng, như vậy câu niệm Phật đó
không đưa đến kết quả gì cho mình thì làm sao vãng sanh Cực lạc được. Nghe câu niệm Phật đó cũng như nghe
tiếng ca, hát mà tâm không dính, thì làm sao có kết quả! Cho
nên chính câu “Nam Mô A Di Đà
Phật” cũng là một lời Pháp, cũng là một bài thuyết Pháp, chính câu
niệm Phật đó làm cho tâm mình được yên lặng, được trong sạch, được sáng suốt thì
tâm mình là Phật, Phật là tâm mình, như Thiền tông thường nói: Tâm tức
Phật, Phật tức tâm.

Cho nên các Phật tử, mỗi khi đến chùa,
nếu không có việc gì cần làm, thì nên ngồi yên lặng định tâm, không nên chuyện trò
nhiều. Vì sao? Bởi vì những giờ phút mình
đến chùa là những giờ phút hiếm hoi. Ở nhà ta bị lắm chuyện đời chi phối, làm cho lòng mình
không yên được. Đến chùa, thấy
Phật là một việc tốt để cho lòng
mình được yên. Cho nên khi đến chùa dầu chưa tụng kinh đi nữa, mình cũng nên ngồi yên
lặng, lắng lòng, tưởng nhớ đến Phật, các
vị Bồ-tát, bỏ hết ưu tư, lo lắng như tham lam, tật đố, sân si, ngạo
mạn, những cái lăng xăng ra khỏi lòng mình, để cho lòng được yên tĩnh. Khi lòng được yên tĩnh thì mới sáng suốt.
Lòng được thanh tịnh thì thân mới
an. Lòng không yên tĩnh, không thanh tịnh thì thân chắc không được an. Mà không có an thì không
có hạnh phúc. Không có hạnh phúc chân thật thì dù có giàu đến mấy đi nữa, cũng chỉ là hạnh
phúc giả mà thôi. Cái hạnh phúc an lạc chân thật phải là cái hạnh phúc
an lạc từ ngay chính trong nội tâm của mình. Có những trường hợp ta
thấy những cặp vợ chồng ngồi trong chiếc xe hơi sang và bóng loáng vô
cùng, ta cứ nghĩ: “Ồ, cặp vợ chồng đó
hạnh phúc chưa kìa!” một trăm
người thì chắc chắc hết chín mươi chín người nói cặp vợ chồng đó hạnh phúc. Nhưng nếu có ai đó chịu khó
tìm hiểu thật sự họ có hạnh phúc không, thì chưa chắc cặp vợ
chồng đó ngồi trong chiếc xe hơi đẹp ấy đã
có hạnh phúc. Mà biết đâu, họ ngồi trong
chiếc xe đẹp nhưng lại trừng nguýt nhau, ghen tuông nhau cũng không
chừng. Vậy thì ngồi trong chiếc xe
đẹp mà trừng nguýt nhau thì thử hỏi có hạnh phúc không? Khi ấy
chỉ có chiếc xe hạnh phúc, chứ hai con người đó không có hạnh phúc gì hết. Đó là hạnh phúc của chiếc xe, chứ
không phải là hạnh phúc của hai người đó.

Từ đó mà suy ra, nếu như chúng
ta có được thân xác lành mạnh, bề
ngoài thật sang trọng, đẹp đẽ như hai vợ
chồng ngồi trong chiếc xe đó, mà trong lòng đầy những mối ưu tư, sầu muộn, thì
thử hỏi có hạnh phúc không? Nếu nói là hạnh phúc, thì chỉ là hạnh phúc
của cái thân chứ tâm không có gì hạnh phúc cả. Chỉ có sự an lành của
cái thân, chứ không có sự an lành của cái tâm. Mà không có sự an lành
của tâm, thì sự an lành đó chỉ là
sự mong manh, giả dối, tạm bợ không chắc thật, và như thế thì cũng đồng nghĩa với việc không có an lành
gì hết. Cũng như người có thân hình đẹp,
sống trên chăn ấm nệm êm,
có máy điều hòa, ti vi tủ lạnh đủ thứ, không thiếu món gì, mà lúc
nào cũng cứ gát tay lên trán suy tư, tức tối… thế thì đâu có hạnh phúc gì. Như vậy họ
thân cũng không hạnh phúc, vì trong lòng bất an.

Cho nên cầu an là cầu cho thân an mà tâm cũng được an. Chúng ta đến chùa niệm
Phật, tụng Kinh là cốt để cầu cho thân và
tâm được an. Cầu an ở đây là theo
nghĩa rộng, là cầu cho chúng ta và cầu cho mọi người, cho thế giới đều được bình an. Còn cầu an theo
nghĩa tâm an là phải cầu cho lòng mình
được an. Mà muốn được an thực sự
thì chúng ta phải: một mặt cầu Phật gia hộ cho chúng ta, nhưng
một mặt khác chúng ta phải cầu cho mọi người cũng được an như chúng ta. Muốn vậy chúng ta
phải vâng lời Phật dạy là đừng đem
thân tâm chúng ta và mọi người đi
vào chỗ bất an, trái lại phải đem
thân tâm của chúng ta và mọi người
đi vào chỗ an lạc, thì tất nhiên chúng ta sẽ được thân an, tâm an mọi người và
thế giới đều an. Đầu năm chúc tất cả
chúng ta đều được an lạc.

-ooOoo-

Xem thêm: https://www.phaphay.com/phat-phap/

Nguồn: https://www.niemphat.vn/

Add Comment