Phật giáo là gì?

Phật giáo là gì? 1

Phật giáo là gì?

Phạm Kim Khánh dịch

24/04/2010 01:27 (GMT+7)

Kích cỡ chữ:  Giảm Tăng
Phật giáo là gì? 2

Giáo Pháp mà Như Lai đã chứng ngộ quả thật thâm diệu,
khó nhận thức, khó lãnh hội, vắng lặng, cao siêu, không nằm trong phạm
vi luận lý, tế nhị, chỉ có bậc thiện trí mới thấu hiểu.” — Trung Bộ
Kinh
Phật Giáo có phải là một Triết Học không?

Được tôn trí trọn vẹn trong Tam
Tạng Kinh, Giáo Pháp cao siêu đề cập đến những chân lý và những sự kiện
mà mọi người đều có thể trắc nghiệm và kiểm chứng xuyên qua kinh nghiệm
bản thân, Phật Giáo không hề liên quan đến những lý thuyết suông hay
những không luận có thể được chấp nhận ngày hôm nay là chân lý thâm diệu
mà qua ngày sau thì bị loại bỏ như một lầm lẫn. Đức Phật không truyền
dạy một lý thuyết triết học cách mạng, cũng không có ý định sáng tạo một
nền khoa học vật lý mới. Bằng những lời lẽ rõ ràng, không thể lầm lẫn,
Đức Phật giải thích những gì ở bên trong và những gì ở bên ngoài ta, có
liên quan đến sự giải thoát, vượt ra khỏi mọi hình thức khổ đau của đời
sống và Ngài vạch ra Con Đường.

Đức Phật cũng không truyền dạy tất cả những điều mà Ngài biết. Ngày kia,
trong cụm rừng nọ, Đức Phật bốc lên một nắm lá và dạy: “Nầy các Tỳ
Khưu, những điều mà Như Lai dạy các con có thể sánh với nắm lá này, còn
những điều mà Như Lai không dạy cũng như tất cả lá trong rừng [1].”


Đức Phật chỉ dạy những điều mà Ngài xét là cần thiết để gội rửa, thanh
lọc tâm, và không bao giờ bàn đến các vấn đề không liên quan đến nhiệm
vụ cao cả của Ngài. Mặc dầu vậy, trên nhiều điểm, Ngài đã đi trước các
học giả và các nhà khoa học hiện đại.

Heraclitus (500 năm trước D.L) tin rằng tất cả đều trôi chảy (pante
rhei) và vũ trụ luôn luôn đang trở thành. Ông dạy rằng không có cái chi
trường tồn, mọi vật đều đang trở thành cái gì khác. Chính ông đã thốt ra
câu nói trứ danh: “Không thể bước hai lần lên cùng môt chỗ trên dòng
suối”.
Pythagore (532 trước D.L) dạy thuyết chuyển sinh linh hồn.
Descartes (1596-1650) chủ trương cần phải quan sát mọi hiện tượng trên
nền tảng của sự hoài nghi hợp lý. Spinoza (1632-1677) vừa chấp nhận có
thực thể trường tồn vừa lập luận rằng tất cả những hình thức tồn tại đều
tạm bợ nhất thời. Theo triết gia nầy, muốn diệt trừ đau khổ phải tìm ra
một nguồn kiến thức không đổi thay, không xê dịch, trước sau như một,
trường tồn, vĩnh cửu. Berkeley (1685-1776) cho rằng cái được gọi nguyên
tử chỉ là một giả định của siêu hình học. Hume (1711-1776) phân tách
phần tâm linh của con người và kết luận rằng đó chỉ là những trạng thái
tinh thần luôn luôn biến chuyển. Theo Hegel (1770-1831): “toàn thể
hiện tượng là sự đang trở thành”.
Schopenhauer (1788-1860), trong
quyển “Thế Gian Xem Như Ý Chí và Tư Tưởng” diễn tả chân lý về sự đau khổ
và nguồn gốc của nó theo lối Tây Phương. Henri Bergson (1859-1941) chủ
trương thuyết vô thường và nhấn mạnh giá trị của trực giác. William
James (1842-1910) đề cập đến luồng tâm như một dòng nước và phủ nhận một
linh hồn trường cửu.

Trên 2500 năm về trước Đức Phật đã dạy những chân lý Vô thường (anicca),
Khổ (dukkha) và Vô ngã (anatta). Giáo huấn mà Đức Phật truyền dạy, dầu
có tánh cách luân lý hay triết lý, là để học hỏi, thực hành, và trên tất
cả, là để chứng ngộ bằng trí tuệ trực giác: “Giáo Pháp như chiếc bè đưa
ta qua đại dương của cuộc sống [2]”.

Vậy, một cách chính xác, Phật Giáo không phải là một triết học vì Phật
Giáo không phải chỉ là: “Sự yêu chuộng trí tuệ, lòng ham thích
thúc đẩy đi tìm trí tuệ” (Webster’s Dictionary). Phật Giáo cũng không
phải là “một lối giải thích căn cứ trên lý thuyết, cái không bao giờ
cũng được biết (như trong siêu hình học) hay cái được biết không rành
mạch (như trong triết học, luân lý hay chính trị)” [3].

Nếu hiểu triết học là “nghiên cứu, học hỏi, không phải chỉ một vài sự
kiện riêng biệt mà đặc tính căn bản của thế gian trong đó ta đang sống
và cuộc sống đáng cho ta sống trong thế gian nầy” [4] thì Phật Giáo có
thể gần với triết học, nhưng Phật Giáo hàm xúc hơn nhiều [5]. Triết học
đại để quan tâm đến sự hiểu biết và không chú ý đến phần thực hành,
trong khi đó Phật Giáo đặc biệt đặt trong tâm trên phần thực hành và
chứng ngộ. Phật Giáo có phải là một Tôn Giáo không?

Giáo sư Rhys Davids viết: “Religion (tôn giáo) là gì? Như người ta biết
rõ, danh từ ‘Religion’ (tôn giáo) không có trong những sinh ngữ không
liên quan đến tiếng Anh và căn nguyên của chữ nầy vẫn còn bất định.
Trong một đoạn, Ciceron phân tách danh từ nầy làm hai phần, dẫn xuất từ’
‘re’ và ‘logo’ và định nghĩa ‘religion’ (tôn giáo) là sự lập lại nhiều
lần những câu kinh, câu chú. Một lối giải thích khác, dẫn suất từ ‘re’
và ‘logo’ chủ trương rằng ý nghĩa đầu tiên là liên kết, trói buộc, là sự
hàn gắn, dính liền (chắc chắn đó là sự nối liền với Thần Linh). Lối
giải thích thứ ba, dẫn xuất từ ‘lex’, là sự ẩn náu trong luật pháp, là
sự thận trọng đặt tâm linh vào khuôn khổ [6]”.

Theo lối định nghĩa thông thường, một cách chính xác, Phật Giáo không
phải là một tôn giáo (religion) bởi vì Phật Giáo không phải là “một hệ
thống tín ngưỡng và tôn sùng lễ bái”, trung thành với một thần linh siêu
nhiên. Phật Giáo không đòi hỏi nơi tín đồ một đức tin mù quáng. Do đó
một niềm tin tưởng suông không thể có chỗ đứng. Thay vào đó là lòng tín
nhiệm căn cứ trên sự hiểu biết.

Trước khi đắc Quả Tu-Đà-Hườn (Dự Lưu), người Phật tử lắm lúc còn hoài
nghi Đức Phật, hoặc Giáo Pháp hoặc Tăng đoàn — gọi chung là Tam Bảo
(Phật, Pháp, Tăng). Đến khi thành đạt Đạo Quả cao thượng ấy rồi thì mọi
hình thức hoài nghi hoàn toàn chấm dứt và hành giả mới thật sự bước theo
chân Đức Phật [7].

Niềm tin mà người Phật Tử đặt nơi Đức Phật cũng giống như niềm tin mà
bệnh nhân đặt nơi một lương y trứ danh hay của trò đặt nơi thầy. Mặc dầu
tìm nương tựa nơi Đức Phật và tôn trọng Ngài là vị hướng đạo vô thượng,
là thầy dắt dẫn trên Con Đường Trong Sạch (Thanh Tịnh Đạo), người Phật
Tử không quy phục mù quáng như kẻ nô lệ, không tin rằng chỉ quy y Tam
Bảo hay chỉ có đức tin suông nơi Tam Bảo mà mình có thể trở nên trong
sạch. Không ai, dầu là Đức Phật đi nữa, có đủ quyền lực để gội rửa bợn
nhơ của người khác. Nói một cách chính xác, không ai có thể rửa sạch,
cũng không ai có thể làm hoen ố người khác. Đức Phật là vị Tôn Sư có thể
giúp đỡ bằng cách vạch ra con đường, nhưng chính ta phải lãnh lấy nhiệm
vụ gội rửa thân tâm của chúng ta.  Trong
kinh Pháp Cú, Đức Phật có dạy:

“Chỉ có ta làm điều tội lỗi, chỉ có ta làm cho ta ô nhiễm.
Chỉ có ta tránh điều tội lỗi, chỉ có ta gội rửa cho ta.
Trong sạch hay ô nhiễm là tự nơi ta.
Không ai có thể làm cho người khác trở nên trong sạch”.
— (Pháp Cú,
145)

Người Phật Tử không làm nô lệ cho một quyển sách hay một cá nhân, cũng
không hy sinh tự do tư tưởng của mình khi bước theo dấu chân của Đức
Phật. Người Phật Tử hoàn toàn tự do thực hiện ý chí, mở mang kiến thức
và phát triển trí tuệ cho đến ngày chính mình đắc quả Giác Ngộ, bởi vì
khả năng được giác ngộ nằm bên trong tất cả mọi chúng sanh. Lẽ dĩ nhiên,
người Phật Tử nhắc lại Phật ngôn như những chân lý bất di dịch, nhưng
chính Đức Phật dạy phải nên luôn luôn suy gẫm, không nên nhắm mắt tin
càng. 

Sự chứng ngộ có thể có trong hiện tại
không phải là tiêu chuẩn chân lý duy nhất trong Phật Giáo. Điểm then
chốt là Chánh Kiến (samma-ditthi), sự hiểu biết thuần lý. Đức
Phật khuyên dạy người đi tìm chân lý không nên chấp nhận điều gì chỉ vì
một người đáng tin cậy đã nói như vậy mà phải suy luận kỹ càng và thận
trọng xét đoán để biết rõ điều nào là đúng, điều nào sai.

Ngày nọ, dân xứ Kesaputta, thường được gọi là người Kalama, bạch với Đức
Phật rằng có nhiều vị tu sĩ và nhiều Bà La Môn đến đây giảng đạo. Người
nào cũng khuyến dụ dân chúng chỉ nên tin giáo lý của mình, không nên
tin lời dạy của các vị tu sĩ khác. Rốt cùng, người dân không còn biết
tin ai.

“Đúng như vậy, nầy hỡi người Kalama, các con hoài nghi là phải, các
con ngờ vực là phải. Trong trường hợp khả nghi thì sự ngờ vực phát
sanh”. 
Đức Phật dạy như vậy và khuyên nhủ người Kalama như sau — và
đây là những lời khuyên mà người theo chủ nghĩa duy lý hiện đại có thể
áp dụng giống như các vị đạo sĩ hoài nghi thời xưa:



“Hãy đến đây, người Kalama! Không nên chấp nhận điều gì chỉ vì nghe nói
lại (tỷ như nghĩ rằng ta đã nghe điều nầy từ lâu). Không nên chấp nhận
điều gì chỉ vì tập tục cổ phong truyền lại như thế (tỷ như nghĩ rằng
điều nầy đã được truyền lại từ bao nhiêu thế hệ). Không nên chấp nhận
điều gì chỉ vì có lời đồn đãi như vậy (tỷ như tin lời người khác mà
không suy xét). Không nên chấp nhận điều gì chỉ vì điều ấy đã được ghi
trong kinh sách. Không nên chấp nhận điều gì chỉ vì mình đã ức đoán như
vậy. Không nên chấp nhận điều gì chỉ vì mình suy diễn như vậy. Không nên
chấp nhận điều gì theo bề ngoài. Không nên chấp nhận điều gì chỉ vì
điều ấy hợp với thành kiến của mình. Không nên chấp nhận điều gì chỉ vì
điều ấy hình như có thể chấp nhận được (tỷ như nghĩ rằng điều nầy phải
được chấp nhận). Không nên chấp nhận điều gì chỉ vì nghĩ rằng vị tu sĩ
thốt ra điều nầy ta đã được kính trọng từ trước (và như vậy, lời nói
phải được chấp nhận). [8]

” Tuy nhiên, khi tự các con hiểu rõ rằng — những điều nầy không hợp
luân lý, những điều nầy đáng được khiển trách, những điều nầy bị các bậc
thiện trí thức cấm đoán, nếu thực hiện những điều nầy sẽ bị phá sản và
phiền muộn — thì hẳn các con phải từ bỏ, không nên làm điều ấy.

” Khi tự các con hiểu rõ rằng — những điều nầy hợp luân lý, những điều
nầy không đáng bị khiển trách , những điều nầy được các bậc thiện trí
thức tán dương, nếu thực hiện những điều nầy sẽ được an vui hạnh phúc —
thì hẳn các con phải hành động đúng như vậy”. [9]

Phật ngôn nầy được dạy trên 2500 năm trước đây, nhưng vẫn còn mãnh lực
và hiệu năng cho đến thời đại văn minh của thế kỷ hai mươi. Đức Phật dạy
các đệ tử nên tìm chân lý, chớ không nên chỉ nghe qua là tin liền, dù
người nói có nhiều uy tín đi nữa. Về sau, Kinh Jnanasara-samuccaya
lặp lại lời khuyên nầy với những lời lẽ khác và cho một thí dụ quen
thuộc với đời sống hàng ngày:

“Tapac chedac ca nikasat svarnam iva panditaih
Parikshhya blikshavo grahyam madvaco na tu gauravat”.

“Cũng như người thợ bạc sáng suốt thử vàng bằng cách đốt lên, cắt và cọ
xát trên hòn đá để thử vàng,

 


Cùng thế ấy, các con nên chấp nhận những lời của Như Lai sau khi thận
trọng xét đoán, chớ không phải chỉ vì tôn kính Như Lai”.


Bây giờ, đã chấp nhận rằng không có đức tin mù quáng trong Phật Giáo,
vậy có hay không một hình thức tôn thờ hay lễ bái tượng Phật hay những
thần tượng tương tự?

Người Phật Tử không cầu xin một ân huệ vật chất hay tinh thần nào khi
đảnh lễ tượng Phật, mà chỉ bày tỏ lòng tôn kính ngưỡng mộ của mình đến
lý tưởng siêu việt mà bức tượng tiêu biểu. Người Phật tử quỳ trước tượng
Phật, dâng bông và dâng hương, không phải dâng đến bức tượng bằng đá,
bằng gỗ, hay bằng giấy, mà là đến Đức Phật mà bức tượng là tượng trưng
Ngài.

Dâng bông, quỳ lạy, là biểu hiện ra bên ngoài niềm tri ân vô hạn sâu kín
trong lòng. Cùng lúc ấy người Phật tử suy gẫm về hồng đức của Đức Thế
Tôn và tánh cách vô thường của vạn pháp, xuyên qua những cánh hoa sớm nở
tối tàn. Người Phật tử hiểu biết tạo cho mình cảm tưởng đang tôn kính
quỳ trước mặt Đức Phật và nhờ đó phát sanh nguồn cảm hứng thúc giục mình
noi gương lành trong sạch của Ngài.

Đề cập đến các pho tượng triết gia trứ danh, bá tước Kaiserling, viết: “Trên
thế gian này tôi không biết còn cái gì vĩ đại hơn là chân dung của Đức
Phật. Đây là sự thể cách hóa toàn hảo một giá trị tinh thần trong thế
gian hữu hình”.



Người Phật tử cũng đảnh lễ cây Bồ Đề, nhưng không phải để tỏ lòng tôn
sùng thờ phượng cái cây, mà xem đó là chỉ tượng trưng của sự giác ngộ.
Dầu có nhiều nghi thức lễ bái trong các buổi lễ, người tín đồ Phật Giáo
không tôn sùng Đức Phật như một thần linh.

Tượng Phật, cây Bồ Đề và các hình thức lễ bái không phải tuyệt đối cần
thiết, nhưng rất hữu ích, vì giúp người hành lễ tập trung tư tưởng vào
đối tượng trong sạch. Người trí thức thuần thục có thể khỏi phải nhờ đến
những phương tiện ấy để gom tâm quán tưởng và hình dung Đức Phật.

Người Phật tử lễ bái Đức Phật để bày tỏ lòng tri ân ngưỡng mộ của mình
đối với Ngài, nhưng điều Đức Phật mong muốn không phải là người tín đồ
phải phục tùng vâng lời, mà nghiêm chỉnh thực hành giáo huấn của Ngài.

Trước giờ Đại Niết Bàn của Đức Phật, nhiều vị đệ tử đến đảnh lễ Ngài.
Nhưng có một vị không đến, ở luôn trong tư thất, chuyên chú hành thiền.
Khi câu chuyện được bạch lại Đức Phật, Ngài cho vời vị tỳ khưu đến và
hỏi lý do về sự vắng mặt này. Vị tỳ khưu bạch rằng:

“Bạch hóa Đức Thế Tôn, con được biết rằng Đức Thế Tôn sẽ nhập diệt
trong ba tháng nữa và con nghĩ rằng hình thức tôn sùng Ngài tốt đẹp nhất
là đắc Quả A La Hán trước ngày ấy”.

Đức Phật ngợi khen thái độ cao
quý của nhà sư chân thành và cần mẫn như sau:

“Lành thay! Lành thay! Ai thương Như Lai, hãy cố gắng noi gương vị tỳ
khưu nầy. Người tôn kính Như Lai nhất là người thực hành đúng Giáo Huấn
của Như Lai nhất”
[10].

Trong một dịp khác Đức Phật dạy: “Người nào thấy Giáo Pháp (Dhamma)
là thấy Như Lai”. [11]



Một đặc điểm khác nên được ghi nhận trong nghi lễ tụng niệm Phật Giáo:
câu kinh không phải là lời thỉnh nguyện, cũng không phải là lời cầu xin
chuyển đạt một nguyện vọng. Dầu ta có bỏ hết thì giờ để cầu xin cũng
không được gì. Đức Phật không khi nào và không thể nào ban bố những ân
huệ cho người cầu nguyện. Để được cứu rỗi người Phật tử không nên cầu
nguyện mà phải nhận lãnh trách nhiệm, cố gắng trau giồi đức hạnh, kiên
trì tu tập để tự thanh lọc và thành tựu giải thoát. Không nên lệ thuộc
người khác mà phải nương nhờ nơi mình, tự mình cố gắng. Đức Phật dạy:

“Tumhechi kiccam atappam akkhatar tathagata”
“Các con phải cố gắng, các đấng Như Lai chỉ là những vị thầy” [12].



Chẳng những cầu nguyện, van xin, là vô ích mà đó còn là thái độ nô lệ
tinh thần. Thay vì đọc kinh cầu nguyện [13], Đức Phật khuyên nên cố gắng
hành thiền để ghép mình vào kỷ luật, tự kiểm soát, tự thanh lọc tâm, và
giác ngộ. Thiền tập là liều thuốc bổ cho cả tâm lẫn trí.

Trong Phật Giáo không có Thần Linh vạn năng, bắt buộc tín đồ phải sợ hãi
cúi đầu vâng lệnh. Phật Giáo phủ nhận sự hiện hữu của một oai lực siêu
thế, quan niệm như chúng sanh toàn năng hay có năng lực vô cùng tận.
Không có tánh cách thần khải, không có người truyền đạt tin tức và những
lời sám của một Thần Linh từ đâu trên cao ban xuống đến cho con người.
Do đó người Phật Tử không quỳ lụy phục tùng một oai lực siêu nhiên cầm
quyền thưởng phạt và kiểm soát định mạng. Bởi vì không tin nơi thiên
khải Thần Linh. Phật Giáo không đòi hỏi độc quyền nắm chân lý và không
bài xích bất cứ tôn giáo nào khác. “Tánh thiên chấp là kẻ thù tệ hại
nhất của tôn giáo”.

Với đức tánh rộng lượng khoan
dung của Ngài, Đức Phật hằng khuyên hàng môn đệ không nên giận dữ, bất
mãn, hay không vui lòng , nếu có ai nói xấu Ngài, Giáo Pháp của Ngài hay
Giáo Hội mà Ngài sáng lập. Đức Phật dạy: “Nếu các con giận dữ, bất
mãn, hay không vui lòng, chẳng những các con tự đặt mình vào chỗ hiểm
nguy có thể mất cả nền tảng đạo đức tinh thần mà các con còn không thể
xét đoán đúng mức lời chỉ trích có giá trị hay không”.


Quả thật là sáng suốt! Để trả lời những điều chỉ trích bất công, vô căn
cứ, Đức Phật dạy: “Cũng như người kia ngửa mặt phun nước miếng lên
trời. Nước miếng không hẳn làm dơ trời, mà chỉ rơi xuống người ấy”.


Phật Giáo không ban hành những tín điều buộc người tín đồ phải nhắm mắt
tin theo, không có giáo điều buộc phải chấp nhận trước khi suy nghĩ,
không có nghi thức dị đoan vô lý và lễ tiết bắt buộc phải thực hành,
không có hiến tế và không có ép xác khổ hạnh để gội rửa tâm.

Như vậy, một cách chính xác, không thể gọi Phật Giáo là một tôn giáo bởi
vì đây không phải là một hệ thống tín ngưỡng và lễ bái. Phật Giáo cũng
không phải là hành động hay hình thức biểu hiện ra ngoài tỏ rằng con
người chấp nhận sự hiện hữu của một hay nhiều Thần Linh có năng lực chi
phối định mạng mình và mình có phận sự vâng lệnh, phục vụ và tôn sùng

Karl Marx nói: “Tôn giáo là linh hồn của những điều kiện không có
linh hồn, là trái tim của thế gian không có tim, là nha phiến của dân
chúng”.



Phật Giáo không phải là một tôn giáo như vậy, bởi vì những quốc gia Phật
Giáo đã vươn mình trưởng thành từ trong tổ ấm Phật Giáo, và những tiến
bộ văn hóa hiện đại của các quốc gia ấy phần lớn là do ảnh hưởng của
giáo lý nhà Phật.

Dầu sao, nếu hiểu rằng tôn giáo là giáo lý nhìn vào đời sống sâu hơn là
lớp vỏ bên ngoài, giáo lý nhìn ngay vào bên trong đời sống, thay vì chỉ
nhìn trên mặt, giáo lý cung hiến cho con người một thái độ sống phù hợp
với “cái nhìn sâu xa ấy, giáo lý giúp cho những ai cố gắng, có thể đối
phó mạnh mẽ với kiếp sinh tồn và trực diện cái chết một cách bình tĩnh
và yên lành [14]”, hay một hệ thống giúp giải thoát ra khỏi những hình
thức đau khổ của đời sống, thì chắc chắn Phật Giáo là tôn giáo của các
tôn giáo.

Phật Giáo và luân lý



Giáo lý của Đức Phật có phần luân lý tuyệt hảo dành cho cả bậc xuất gia
lẫn hàng cư sĩ. Tuy nhiên, Phật giáo không phải chỉ là một hệ thống giáo
huấn về luân lý thông thường.

Giới (Sila), hay luân lý, chỉ là giai đoạn sơ khởi, là phương tiện nhằm
đưa đến mục tiêu, chớ không phải chính nó là mục tiêu. Mặc dầu “giới” là
tuyệt đối cần thiết, nếp sống đạo hạnh riêng rẽ không thể dẫn đến giải
thoát hay hoàn toàn trong sạch. Vượt lên khỏi giới là Trí tuệ (panna).

Nền tảng của Phật Giáo là Giới. Tuệ là đỉnh tối cao. Giới với Tuệ đối
với hành giả như cặp cánh đối với loài chim. Với người, trí tuệ như mắt,
giới như chân. Một trong những danh hiệu của Đức Phật là “Vijjacarana
sampano” – Minh Hạnh Túc – người đầy đủ trí tuệ và đạo hạnh. Trong Tứ
Diệu Đế, nền tảng của Phật Giáo, ba đế đầu tiên là phần triết lý, đế
cuối cùng là phần luân lý căn cứ trên triết lý ấy.

Luân lý Phật Giáo không đặt nền tảng trên những lời dạy thần khải khả
nghi, do một thần linh truyền lại dưới hình thức sám truyền, cũng không
phải là sáng tác khéo léo của một bộ óc kỹ xảo, mà là những quy tắc hợp
lý và thực tiễn, căn cứ trên những sự kiện có thể kiểm chứng và trong
kinh nghiệm cá nhân. Theo giáo sư Max Muller, quy tắc Phật Giáo là một
trong những quy tắc toàn hảo nhất trên thế gian.

Giáo sư Rhys Davids nói: “Dầu là Phật tử hay không Phật tử, tôi
nghiên cứu từng hệ thống tôn giáo lớn trên thế gian, và trong tất cả,
tôi không tìm thấy trong tôn giáo nào có cái gì cao đẹp và toàn vẹn hơn
Bát Chánh Đạo của Đức Phật. Tôi chỉ còn có một việc làm là thu xếp nếp
sống cho phù hợp với con đường ấy”.

Theo Phật Giáo, có những hành động tốt và sấu, có những hành động không
tốt cũng không xấu, và những hành động có khuynh hướng chấm dứt mọi hành
động. Hành động tốt rất cần thiết để giải thoát, nhưng một khi thành
tựu mục tiêu tối thượng rồi thì hành giả đã vượt ra ngoài cái tốt và cái
xấu.

Đức Phật dạy [15]:

“Những pháp chân chánh (dhamma), hay thiện pháp, con cũng nên từ bỏ.
Càng phải loại bỏ hơn nữa, những pháp không chân chánh (adhamma), hay
bất thiện pháp”.
Hành động liên quan đến tham (lobha), sân (dosa)
và si (moha) là bất thiện pháp. Hành động liên quan đến không
tham (alobha), không sân (adosa) và trí tuệ (panna)
là thiện pháp.

Hành động của một vị A La Hán, người đã tận diệt mọi ô nhiễm, không còn
liên quan đến luân lý, bởi vì Ngài đã vượt ra ngoài cái tốt và cái xấu.
Như vậy không có nghĩa là Ngài thụ động. Một vị A La Hán vẫn tích cực
họat động. Nhưng hành động của Ngài hoàn toàn vị tha, hướng về sự trợ
giúp kẻ khác đi trên con đường mà chính Ngài đã trải qua. Hành động ấy
không có khả năng sáng tạo và khác với hành động của người thường, không
gây phản ứng, không tạo nghiệp. Phạn ngữ gọi hành động như vậy là
Kiriya (cơ năng, hay hành). Đã là vàng y thì không còn làm cho nó “y”
hơn nữa.

Những trạng thái tâm (tâm sở) của bốn loại tâm siêu thế: Sotapatti (Tu
Đà Hườn, Dự Lưu), Sakadagami (Tư Đà Hàm, Nhất Lai), Anagami (A
Na Hàm, Bất Lai) và Arahatta (A La Hán), mặc dầu là thiện (kusala)
không có khuynh hướng tạo nghiệp mới, trái lại, có chiều hướng chấm dứt
dần dần dòng nghiệp. Trong các loại tâm siêu thế, yếu tố trí tuệ (panna)
là quan trọng hơn tất cả, và trí tuệ có chiều hướng tiêu diệt nghiệp
căn. Trong các loại tâm tại thế, tác ý (cetana) – có chiều hướng
tạo nghiệp – là quan trọng.

Vậy, theo Phật Giáo, tiêu chuẩn của luân lý là gì? Câu giải đáp nằm
trong lời Đức Phật dạy Rahula (La Hầu La): “Nếu có điều nào con muốn
làm, nầy hỡi Rahula (La Hầu La), hãy nghĩ như vầy: Điều này có hại cho
ta hay cho kẻ khác hay điều nầy có hại cho kẻ khác và cho ta. Vậy, đó là
một hành động xấu, sẽ đem lại sự đau khổ. Con phải hết sức cố gắng
tránh làm điều ấy”.

“Nếu có điều nào con muốn làm, nầy hỡi Rahula (La Hầu La), hãy nghĩ như
vầy: Điều nầy không có hại cho ta, không có hại cho ai khác, hay điều
nầy không có hại cho ai khác và cho ta. Vậy, đó là hành động tốt, sẽ đem
lại hạnh phúc. Hành động ấy, con phải làm, và lặp đi lặp lại nhiều lần
[16]”.



Trong vấn đề luân lý, người Phật tử phải luôn luôn nghĩ đến mình và kẻ
khác, luôn cả loài thú. Trong Kinh Từ Bi (Kanariya Metta Sutta) Đức Phật
dạy:


“Cũng như người mẹ hiền hết lòng bảo bọc đứa con duy nhất của mình,
dầu có phải hiểm nguy đến tánh mạng đi nữa, cùng thế ấy, ta hãy luyện
tâm Từ vô lượng vô biên, bao trùm tất cả chúng sanh”.


Kinh Pháp Cú ghi: “Tất cả đều sợ hình phạt. Tất cả đều quý trọng đời
sống. Hãy lấy bụng ta suy bụng người, không nên sát hại, cũng không nên
làm tổn thương. [17]”

Muốn hiểu rõ nền luân lý đặc biệt cao thượng của người Phật tử thuần
thành, ta nên đọc cẩn thận các quyển kinh sau đây: Dhammapada,
Sigalovada Sutta, Vyagghapajja Sutta, Mangala Sutta, Metta Sutta,
Parabhava Sutta, Vasala Sutta, Dhammika Sutta v.v…
Về phương diện
luân lý, đó là những lời dạy vô cùng cao đẹp, nhưng cũng chỉ là bước
đầu, chớ không phải là mục tiêu của Phật Giáo.

Theo một lối hiểu, Phật Giáo không phải là một triết lý. Theo một lối
hiểu khác, Phật Giáo là triết lý của các triết lý. Theo một lối hiểu,
Phật Giáo không phải là một tôn giáo. Theo một lối hiểu khác, Phật Giáo
là tôn giáo của các tôn giáo. Phật giáo là gì?

Phật Giáo không phải là một con đường siêu hình, cũng không phải là một
con đường nghi thức. Phật Giáo không phải là một chủ nghĩa hoài nghi,
cũng không độc đoán.

Phật Giáo không chủ trương rằng đời sống là trường tồn vĩnh cửu, vô thủy
vô chung (thường kiến); cũng không chủ trương rằng sau kiếp sống nầy
không còn gì nữa, chết là hết (đoạn kiến).

Phật Giáo không dạy lối sống khổ hạnh, cũng không giáo truyền lối sống
lợi dưỡng. Phật Giáo không bi quan, không lạc quan, nhưng thực tiễn.
Phật Giáo không tuyệt đối tại thế, cũng không hoàn toàn siêu thế. Phật
Giáo là con đường giác ngộ duy nhất.

Danh từ Phạn Ngữ gọi Phật Pháp là Dhamma. Đúng căn nguyên, Dhamma
có nghĩa là nâng đỡ, hay giữ lại (nâng đỡ người hành động đúng theo
quy tắc, hay giữ lại, không để cho người hành động đúng theo quy tắc
phải rơi vào những trạng thái đau khổ).

Dhamma, Giáo Pháp, là cái gì thật sự là vậy, là thực tướng, Dhamma
là giáo lý của thực tế. Dhamma là phương tiện để giải thoát ra
khỏi mọi hình thức khổ đau. Dhamma chính là sự giải thoát.

Dầu chư Phật có ra đời hay không, Dhamma (Giáo Pháp) vẫn tồn tại
vĩnh cửu. Dhamma (Giáo Pháp) luôn luôn bị che lấp trước cặp mắt
vô minh của con người, cho đến lúc có một vị Phật ra đời, chứng ngộ và
truyền bá lại cho thế gian.

“Dầu chư Phật có thị hiện trên thế gian hay không, nầy các Tỳ Khưu,
có một sự kiện, một nguyên tắc nhất định, một định luật thiên nhiên, là
tất cả các vật cấu tạo đều Vô thường (Anicca), Khổ (Dukkha) và tất cả
đều không có linh hồn trường cửu (Vô ngã, Anatta). Như Lai đã chứng ngộ
và thấu triệt điều ấy. Như Lai quảng bá, truyền dạy, tuyên bố, xác định,
phân tách và chỉ dẫn rành mạch rằng tất cả các vật cấu tạo (hữu lậu)
đều vô thường, khổ và vô ngã [18]”.



Trong bộ Majjhima Nikaya (Trung Bộ Kinh), Đức Phật dạy:

“Như Lai chỉ dạy một điều: đau khổ và sự chấm dứt mọi đau khổ [19] “.
Đó là giáo lý của thực tế.


Kinh Udana dạy:

“Nầy hỡi Tỳ Khưu, cũng như nước của đại dương hùng dũng chỉ có một vị
là vị mặn của muối, Giáo pháp chỉ có một vị là Giải Thoát (Vimutti)
[20]”.



Đó là phương tiện giải thoát.

Giáo pháp cao thượng không phải là cái gì ở ngoài ta, mà hoàn toàn tùy
thuộc nơi ta và chỉ do ta chứng ngộ. Do đó Đức Phật dạy:

“Attadipa viharatha attapatisarana”.
“Hãy ẩn náu nơi chính ta như một hải đảo, xem chính ta là chỗ nương
tựa”. [21]

Chú thích:


[1] Samyutta Nikaya, Tương Ưng, tập 5,
trang 437-438. Kindred Sayings, Trang 370.
[2] Majjhima Nikaya, Trung Bộ, số 22.
[3] William Durrant, The History of Philosophy, trang 2.
[4] Webb, History of Philosophy, trang 2.
[5] Một triết học hiểu như một hệ thống tri thức luận đem lại lời giải
đáp đầy đủ cho câu hỏi: đời sống là gì? Phật Giáo không phải vậy.
(Dr.Dahlke, Buddhism, trang 25).
[6] Dr. Dahlke, trang 1.
[7] Người Phật tử thường (còn phàm nhân) vẫn bước theo chân Đức Phật,
nhưng chưa thật sự chứng ngộ Giáo Pháp.
[8] Phần giải thích nằm trong dấu ngoặc trên đây được trình bầy hợp theo
bản chú giải và chú giải các bản chú giải. Nguyên văn tiếng Pali là: “Etha
tumhe Kalama. Ma anussavena, ma paramparaya, ma itikiraya, ma
pitasampadanena, ma takkahetu, ma nayahetu, ma akara-parivitakkena, ma
ditthinijjhanakkhantiya, ma bhabbarupataya, ma samano no garu ti.”

[9] Angutara Nikaya , Tăng Chi , tập 1, trang 189. Kindred Sayings, phần
1, trang 171-172.
[10] Xem Buddhist Legends, trang 249-250.
[11] Samyutta Nikaya, Tương Ưng, tập 3, trang 129.
[12] Dhammapada, Kinh Pháp Cú, câu 276.
[13] “Cầu nguyện là một hành động mà tôi chân thành thú nhận là tôi
không có xu hướng theo.”
Canon B.H. Streeter, trong quyển Modern
Churchman, tháng 9 năm 1924, trang 347.
“Tôi không hiểu vì sao người ta vẫn tiếp tục cầu nguyện, ít ra người
ta cũng phải biết chắc rằng có một lỗ tai đang nghe”.
Rev.C.Beard,
trong quyển Reformation, trang 419.
Sri Radhakrishnan viết: “Những lời vái van cầu nguyện có tánh cách là
một sự thông cảm riệng tư, một sự mặc cả với thần linh. Đối tượng mà nó
tìm là những tham vọng trần tục đang thiêu đốt ý thúc về bản ngã. Đàng
khác, hành thiền là tự mình sửa đổi lấy mình.”

[14] Silacava. Xem Ceylon Daily News, số đặc biệt Vesak, tháng 4-1939.
[15] Majjhima Nikaya, Trung Bộ, bài kinh số 22.
[16] Majjhima Nikaya, Trung Bộ, Rahulovada sutta (Kinh Giáo giới La Hầu
La), số 61.
[17] Dhammapada, Kinh Pháp Cú, câu 129.
[18] Anguttara Nikaya, Tăng Chi, phần 1, trang 286.
[19] Majjhima Nikaya, Trung Bộ, tập I, trang 140,số 22.
[20] Udana, Tiểu Bộ, trang 67.
[21] Maha Parinibbana Sutta, Kinh Đại Niết Bàn, Trường Bộ, Kinh 16.

 

Theo: Đức Phật và Phật Pháp
Tác giả: Hòa thượng Narada
Người dịch: Phạm Kim Khánh
Nguồn:Buddha Sasana

Xem thêm: https://www.phaphay.com/phat-phap/

Nguồn: https://www.niemphat.vn/

Add Comment