Phép thiền định và các học phái (1)

Phép thiền định và các học phái (1) 1

Lời giới thiệu của người dịch

            Trên bình diện tổng
quát thì tất cả các tôn giáo – kể cả Phật Giáo dưới một vài hình thức biến dạng
mang tính cách đại chúng – đều hướng vào chủ đích tạo ra một đối tượng nào đó
cho con người bám víu. Ngược lại Dharma
tức là Đạo Pháp của Đức Phật thì lại nhất
thiết chủ trương một sự buông xả để giúp con người trở về với chính mình, nhờ
vào sức mạnh mang lại từ lòng quyết tâm tự biến cải chính mình. Sự biến cải đó
gọi là thiền định.

            Một tập san Phật giáo
vừa được ra mắt ở Pháp vào tháng 9 năm 2013 và trong số đầu tiên đã đặc biệt nêu
lên chủ đề thiền định. Bài mở đầu do một học giả Pháp rất lỗi lạc là Philippe
Cornu viết (đã được chuyển ngữ), nêu lên một vài nét chính yếu của phép luyện tập
này, và tiếp theo đó là một loạt các bài viết khác xoay quanh cùng chủ đề. Tập
san mang tựa là Regard Bouddhiste, có
thể tạm dịch là Hướng nhìn Phật Giáo.

            Trong số các hướng
nhìn khác nhau về thiền định nêu lên trong tập san, chúng tôi xin chọn ra ba
bài đại diện cho Phật Giáo Tây Tạng, thiền học Zen và Phật Giáo Theravada. Tất
nhiên là nội dung trong các bài báo ngắn không thể so sánh với những gì thật
sâu sắc và chi tiết trong kinh sách và các bài khảo cứu, thế nhưng cũng có thể
mang lại cho chúng ta một ý niệm nào đó về một phép luyện tập chủ yếu và không
thể thiếu sót đối với những người tu hành chân chính. Ba bài này sẽ được lần lượt
chuyển ngữ dưới đây:

            bài 1: Phỏng vấn nhà
sư Ringou Tulkou Rinpoché (Lạt-ma Tây Tạng)

            bài 2: Zazen hay tư thế
ngồi thiền (Thiền sư Pierre Dôkan Crépon)

            bài 3: Như một dòng nước
yên lặng đang luân lưu (Tỳ-kheo Khất Sĩ Ajahn Chah)

 

Phép thiền định và các học phái (1) 2

Hình bìa tập
san Regard Bouddhiste

(số tháng 9
và 10 / 2013)

Bài 1


Phỏng vấn nhà sư


Ringou Tulkou Rinpoché

 Phép thiền định và các học phái (1) 3

Ringou Tulkou
Rinpoché (1952-)

 

            Ringou Tulkou Rinpoché
sinh năm 1952 tại tỉnh Kham Tây Tạng, và sau khi Trung Quốc đánh chiếm Tây Tạng
thì ông và cả gia đình vượt biên sang tị nạn ở Ấn Độ. Vừa năm tuổi ông đã được
vị lãnh đạo học phái Ca Nhĩ Cư là Karmapa XVI thừa nhận là người tái sinh của một
vị đại sư quá cố của tu viện Rigoul. Ông đỗ tiến sĩ triết học Phật Giáo và được
đào tạo theo cả bốn học phái Phật Giáo Tây Tạng. Hiện nay cứ mỗi năm ông giảng
dạy khoảng sáu tháng tại Pháp.

 

Phỏng vấn nhà sư Ringou Tulkou Rinpoché 

Phải luôn ghi nhớ là thiền định gồm có ba phép luyện
tập

 

Tập san Regard Bouddhiste: Kính chào vị Đáng kính, xin Ngài vui lòng giải thích ngắn gọn phép thiền
định là gì.

 

Ringo Tulkou Rinpoché: Tôi xin nói ngay đấy là một phép
luyện tập, một phương pháp tập luyện nhằm biến cải chính mình bằng cách cải thiện
những kinh nghiệm cảm nhận về con người của chính mình, và nhờ đó mình sẽ trở
nên cao đẹp và nhân từ hơn, ích lợi cho người khác hơn: như thế gọi là thiền định.
Thiền định không phải là một sự suy tư (meditation) mà gồm có ba phép luyện tập
khác nhau, và chúng ta luôn phải ghi nhớ điều này. 

 

Phép luyện tập thứ nhất nhắm vào trí tuệ. Đấy là cách tập
nhìn vào mọi sự vật và tìm hiểu mọi sự vật. Biết nhìn vào mọi sự vật một cách
minh bạch và đúng đắn là một điều vô cùng quan trọng. Tóm lại phép luyện tập này
dựa vào chủ đích tìm hiểu mọi sự vật là gì.

 

            Phép luyện tập thứ hai
là cách phải tiếp cận với sự sống như thế nào? Tức là cách phải giữ một thái độ
hành xử ra sao trên phương diện thân xác, ngôn từ và tâm thức của mình? Nhiều
người gọi đấy là việc giữ gìn giới luật, thế nhưng thật ra thì không hẳn đúng như
thế mà đơn giản chỉ là cách phải hành động như thế nào cho thật đúng đắn, tất cả
đều nhờ vào trí tuệ: khi nào quý vị phân biệt được hành động nào mang lại hậu
quả tích cực và hành động nào mang lại hậu quả tiêu cực, thì tất quý vị cũng sẽ
hiểu rằng mình phải hành xử ra sao để mang lại hậu quả tích cực cho mình và cho
kẻ khác.

 

            Phép luyện tập thứ ba
là thiền định. Thiền định là một phép luyện tập tâm thức. Dù cảm thấy việc thiền
định thật hữu ích và nên làm, thế nhưng lắm khi chúng ta lại không làm, chẳng
qua chỉ vì một vài xúc cảm, thói quen hay xu hướng nào đó ngăn cản không cho
chúng ta làm. Vì thế phải cải biến tâm thức mình khiến nó trở nên mềm dẻo và dễ
bảo hơn. Dễ bảo có nghĩa là nếu quý vị bảo tâm thức “làm việc này”
thì nó làm việc này, “không nên suy nghĩ quá nhiều” thì nó không suy
nghĩ quá nhiều, “hãy suy nghĩ đi” thì nó suy nghĩ, “hãy tập
trung tư tưởng” thì nó tập trung tư tưởng (tức là không phóng tưởng ra mọi hướng, chẳng
hạn như không quay về quá khứ cũng không hướng vào tương lai, không nghĩ đến
chuyện này, cũng không bắt sang chuyện kia)
,
“hãy suy nghĩ một cách đúng đắn” thì nó suy nghĩ một cách đúng đắn (không suy nghĩ hay
tưởng tượng xằng bậy)
. Sự dễ dạy của tâm thức thật vô cùng quan trọng
đối với việc tu tập Phật Giáo, nếu không giữ được tâm thức dễ dạy thì nó sẽ trở
nên bất trị, tương tự như một con khỉ phá phách hay một con voi đang lồng lộn.
Muốn cho tâm thức dễ dạy thì phải để cho nó được yên và thư giãn. Tóm lại việc luyện
tập thiền định là cách mang lại cho tâm thức sự thư giãn hầu giúp nó tìm về với
thể dạng tự nhiên của nó.

 

            Tập san RB: Vậy làm thế nào để thực hiện việc ấy?

 

            R.T.R.: Có một giai
thoại về bài thuyết giảng đầu tiên về thiền định của Đức Phật như sau: Ngài ngồi
giảng bên bờ sông Hằng, các đệ tử bao quanh và lắng nghe. Thế nhưng bỗng dưng Ngài
ngưng giảng và sai một đệ tử xuống sông múc một chậu nước mang lên. Đức Phật hỏi
người đệ tử rằng: “Nước ấy có uống được không? Có sạch không?” Người
đệ tử trả lời: “Bạch Thế Tôn, nước không uống được vì đầy bùn đất và mọi
thứ cáu bẩn, thật không sạch tí nào”. Đức Phật lại bảo như sau: “Tốt
lắm, vậy cứ đậy chậu nước lại và để yên đấy, không nên chạm vào nữa”. Đức
Phật lại tiếp tục thuyết giảng. Một lúc thật lâu sau đó Đức Phật mới bảo với
các đệ tử rằng: “Vậy hãy xem chậu nước bây giờ ra sao”. Nhìn vào chậu
nước một đệ tử thốt lên: “Ồ! chậu nước có vẻ sạch và có thể uống được rồi”.
Đức Phật bèn bảo rằng: “Trước đây nước không sạch, không uống được, bây giờ
thì có thể uống được”. Người đệ tử lại nói tiếp: “Trước đây nước xao
động nên đục vì hòa lẫn với đủ mọi thứ. Nhờ để yên nên các thứ này lắng xuống,
phẩm tính hay bản chất tự nhiên của nước nhờ đó đã hiện ra. Bản chất tự nhiên của
nước mang tính cách tinh khiết và uống được”.

 

            Đức Phật lại giải
thích thêm: ” Cũng tương tự như thế, tâm thức chúng ta trong lúc này đang
xao động khiến nó bị rối loạn, hoang mang và vướng vào mọi thứ xúc cảm, lo tính
cũng như tình trạng căng thẳng (stress). Nếu chúng ta để nó thư giãn, giúp nó
giữ được trạng thái tự nhiên, tức để yên không quấy rầy nó, thì phẩm tính đích
thật của nó tất sẽ hiện ra. Một khi phẩm tính ấy hiện ra thì tâm thức cũng sẽ
trở nên an bình, hân hoan, thân thiện và cởi mở hơn”. Nếu muốn thực hiện
được điều ấy thì phải giữ tâm thức thư giãn, không quấy rầy nó, không để nó rơi
vào sự xao lãng (suy
nghĩ hết chuyện này lại bắt sang chuyện khác)
, ngầy ngật hay mơ màng,
có nghĩa là phải giữ tâm thức tỉnh táo và thư giãn (tuy nhiên trên thực tế việc ấy không phải dễ
thực hiện. Khó khăn thứ nhất là không mấy ai trong chúng ta tự nhận mình đang sống
trong tình trạng lo nghĩ, hoang mang và sợ sệt, trái lại luôn tự xem mình là
sáng suốt, bình tĩnh và có lý…, và đấy cũng là lý do mang lại khó khăn và đớn
đau cho mình và cho kẻ khác mà mình không ý thức được. Chỉ khi nào ngồi xuống
trong yên lặng, chăm chú nhìn vào tâm thức mình để phân tích các xúc cảm đang
hiện ra trong tâm thức thì mới nhận thấy tình trạng bấn loạn ấy đang chi phối
mình thật nặng nề. Chỉ khi nào ý thức được thể dạng bị chi phối ấy thì mình mới
hiểu rằng phải làm mọi cách để giữ cho tâm thức bình tĩnh, thư giãn và trong
sáng. Tạo ra cho mình thể dạng bình lặng đó là khó khăn thứ hai: lúc đầu thể dạng
đó cũng chỉ là một sự “tưởng tượng”, sau đó và nếu cố gắng thì dần dần
chúng ta sẽ “hé thấy” được nó, nếu tiếp tục “tập cho quen dần”
(tiếng Tây Tạng gọi là gompa) với sự “hé thấy” ấy thì nó cũng sẽ hiện
ra rõ ràng và thăng bằng hơn)
. Nếu quý vị giữ được thể dạng ấy trong
một khoảng thời gian nào đó, thì tâm thức cũng sẽ trở nên mềm dẻo, dễ dạy và
mình cũng sẽ dễ sống với nó hơn. Tóm lại thiền định cũng chỉ là như thế.

 

Sự chú tâm
và một tâm linh luôn tỉnh thức là hai công cụ giúp chúng ta hành thiền

Thiền định cũng
chỉ cần đến hai công cụ ấy!

 

            Tập san RB: Thưa vị Tôn kính, kinh sách thường nói đến hai
thể dạng tâm thức thật chủ yếu là nepa và gyurwa. Vậy hai thể dạng ấy giữ vai
trò như thế nào đối với việc hành thiền?

 

            R.T.R.: Nepa có nghĩa là tâm thức yên tĩnh, gyurwa có nghĩ là tâm thức đang vận
hành, tức là đang trong thể dạng hoạt động. Tóm lại là tâm thức hoặc ở trong
tình trạng yên tĩnh hoặc ở trong tình trạng năng động. Yên tĩnh có nghĩa là thư
giãn, bình lặng, không suy nghĩ quá đáng và cũng không quá xao động, thể dạng
này gọi là nepa. Gyurwa có nghĩa là tâm
thức trong tình trạng năng hoạt, nói cách khác là nó đang làm việc, tư duy nổi
lên, xúc cảm hiện ra, tâm thức tìm hiểu hết chuyện này đến chuyện kia… Những
gì trên đây cho thấy sự khác biệt giữa hai thể dạng nepagyurwa. Tuy nhiên
chúng ta cũng có thể sử dụng thiền định khiến cho tâm thức phải trở nên dễ dạy hơn
dù là đang trong thể dạng bình lặng nepa
hay thể dạng năng động gyurwa cũng thế.
Phải cố gắng thực hiện được điều đó. Chúng ta không thể lúc nào cũng ở trong tình
trạng tĩnh lặng được, chuyện đó không thể thực hiện được. Vì thế mỗi khi tâm thức
bình lặng thì cứ để yên cho nó trong thể dạng thư giãn ấy, và hãy cảm nhận sự
an bình và hân hoan hiện ra với mình. Dầu sao cũng không thể giữ mãi được sự
bình lặng ấy, do đó chúng ta cũng phải cố gắng tạo ra cho mình một sự thăng bằng
nào đó cho tâm thức mỗi khi nó rơi vào tình trạng năng động. Chúng ta có thể tạo
ra thể dạng thăng bằng trên đây bằng cách ý thức được là tâm thức mình đang làm
việc. Mặc dù nó đang bận rộn và đang làm đủ mọi thứ chuyện thế nhưng chúng ta vẫn
có thể giữ được sự tỉnh thức (pleine conscience / mindfulness / sự trầm tĩnh và cảnh giác
không cho những sự suy nghĩ của tâm thức lôi kéo mình vào các thể dạng xúc cảm
bấn loạn)
, chúng ta vẫn giữ được một chút chú tâm nào đó về những gì
đang xảy ra, tương tự như mình vẫn kiểm soát được tâm thức dù chỉ được một chút
nào đó (dù chỉ
kiểm soát tâm thức được “một chút”, thế nhưng “một chút” ấy
chính là điểm khởi đầu giúp mình “tập luyện thêm cho quen dần”, bởi
vì đến một lúc nào đó “một chút” ấy sẽ trở thành quan trọng hơn và mình
sẽ kiểm soát và canh chừng được việc làm của tâm thức hiệu quả hơn)
.
Thật hết sức quan trọng là phải biết lợi dụng cả hai thể dạng bình lặng và năng
động trên đây trong mục đích biến cải tri thức mình và giúp mình tiếp tục tiến
bước trên con đường tu tập (nếu tâm thức trong tình trạng bình lặng thì thật tốt, nên lợi
dụng ngay những lúc ấy để tận hưởng sự an vui và hân hoan trong lòng, nếu nó đang
cật lực làm việc thì nên canh chừng xem nó làm những việc gì, sự canh chừng đó
sẽ giúp mình “quen dần” trong việc kiểm soát nó. Sự canh chừng và
quen dần ấy chính là phép hành thiền, và hành thiền cũng có nghĩa là mình đang
bước trên con đường đưa đến Giác Ngộ. Tu tập với cờ quạt phất phới, chuông mõ
vang rền chỉ là cách dừng lại trên con đường để giải trí và vui chơi mà thôi)
.

 

            Tập san RB: Vậy vai trò của sheshin và drenpa (tiếng Tây Tạng) là gì đối với sự chuyển đổi giữa  hai thể dạng bình lặng và năng động?

            R.T.R.: Drenpa có nghĩa là tâm linh tỉnh thức
(pleine conscience / mindfulness), sheshin
là sự chú tâm. Sự chú tâm và tâm linh tỉnh thức là hai công cụ giúp chúng ta hành
thiền. Thật ra chúng ta cũng chỉ có hai công cụ ấy thôi (nhà sư Ringou Tulkou mỉm
cười).

                                                                        Bures-Sur-Yvette,
30.10.13

                                                                         Hoang Phong chuyển ngữ

 

Xem thêm: https://www.phaphay.com/phat-phap/

Nguồn: https://www.niemphat.vn/

Add Comment