Thông điệp ĐỨC PHẬT ra đời

Thông điệp ĐỨC PHẬT ra đời 1

I. TIN VUI CHO THẾ GIAN

Theo
lịch sử, đức Phật Thích Ca Mâu hiện thân thành Phật nơi cõi đời này, là
một con người lịch sử thật sự. Ngài đản sinh nơi vườn Lâm-tì-ni (hiện ở
xứ Né pal) cha là vua Tịnh Phạn, mẹ là hoàng hậu Ma-da. Điểm nổi bật
trong buối sáng hôm ấy là, Ngài đi bảy bước, một tay chỉ trời, một tay
chỉ đất, nói to lên như tuyên bố với thế gian :

                             Thiên thượng thiện hạ             Trên trời dưới đất

                             Duy ngã độc tôn                       Chỉ ta tôn nhất

Ngài
muốn ngầm nói gì trong đó ? Tức muốn nhắn nhủ thế gian, dù ở trên cõi
trời hay dưới nhân gian này đều không có gì đáng quý, đáng tôn; chỉ phải
trở về đời sống chân thật ngay chính mình, đó mới là chỗ tôn quý nhất,
không gì hơn. Bởi tất cả thế gian, nói chung là ba cõi trời, người, quỷ
thú… đều sống trong nhà lửa vô thường không có chỗ nào an ổn. Đúng như
Kinh Pháp Hoa, Phật đã nói:“Tam giới vô an, du như hỏa trạch”, nghĩa là
ba cõi đều không an ổn, giống như ngôi nhà lửa thôi.

Ngày
xưa, lúc Phật ở Tinh xá Trúc Lâm, thành Vương Xá, có bốn anh em Phạm
Chí đã tu hành chứng được năm thần thông, tự biết mình bảy ngày nữa sẽ
chết. Họ cùng bàn với nhau: – Sức thần thông của chúng ta có thể làm
nghiêng lệch trời đất, nắm giữ mặt trời, mặt trăng, dời núi cao, ngưng
sông chảy… Không việc nào không làm được, lẽ nào tránh không khỏi cái
chết sao ?

Người thứ nhất bèn
nói: – Tôi sẽ lặn xuống biển, ở trên không xuất hiện, ở dưới thì không
đến đáy, ở giữa lưng chừng biển thì quỷ vô thường làm sao biết chỗ mà
tìm ?

 Người thứ hai nói: – Tôi sẽ chui vào giữa núi Tu-di, rồi khép lại bao xung quanh thì quỷ vô thường biết đâu mà kiếm ?

Người thứ ba nói: – Tôi sẽ ẩn nấp giữa hư không, quỷ vô thường làm sao biết được ?

Người
thứ tư nói: – Tối sẽ lẫn vào chợ, quỷ vô thường đến bắt một người nào
đó thôi, cần gì phải bắt tôi ? Bàn xong, bốn người đến gặp vua Ba-tư-nặc
và từ giã nói:

 – Thọ mạng chúng tôi còn bảy ngày nữa, nay chúng tôi muốn trốn vô thường, mong rằng sẽ thoát được và trở về thăm vua.

Bốn
người làm theo ý đã bàn tính. Tới ngày thứ bảy, người trong chợ thì nằm
chết giữa chợ, trên không thì rớt xuống, dưới biển thì nổi lên, trong
núi thị lộ ra, tất cả đều chết không ai thoát được. Cho nên Phật có nói
bài kệ Pháp cú:

                Dù trốn giữa hư không

                Hay biển khơi, núi rộng.

                Không một nơi nào cả

                Tránh khỏi được tử vong.
Đây
cho thấy, dù tu chứng được thần thông, có những khả năng người thường
không thể làm được, nhưng cuối cùng đến khi tuổi thọ hết, cũng không
thoát khỏi cái chết, không trốn đi đâu để được an ổn.

Câu
chuyện thứ hai là ông Phạm Chí Hắc Thị, cũng tu chứng được năm thần
thông, thuyết pháp rất hay, đến trời Đế Thích còn xuống nghe pháp. Nhưng
một hôm nghe vị ấy giảng xong, trời Đế Thích bỗng tỏ vẻ buồn bã rơi lệ.
Phạm Chí thấy lạ bèn hỏi:

 – Ngài vì sao buồn khóc như thế ?

Trời Đế Thích nói:

– Tôi nghe ngài giảng pháp rất hay, song tôi biết rõ tuổi thọ của ngài chỉ còn bảy ngày nữa thôi.

 Phạm
Chí nghe xong hoảng hồn, xin trời Đế Thích cứu cho. Trời Đế Thích từ
chối, chỉ ông đến với Phật. Phạm Chí vội dúng thần thông bay đến chỗ
Phật, trên đường thấy hai cây ngô đồng đang trổ hoa bèn nhổ cả hai bưng
trên tay đến cúng Phật. Phật gọi Phạm Chí bảo:

 – Hãy buông đi !

Ông buông cây bên trái.

Phật lại bảo:

– Buông đi !

 Ông buông tiếp cây bên phải.

Phật bảo tiếp:

– Buông đi !

 Ông thưa :

 – Bạch Thế Tôn! Hai tay con đều trống cả rồi. Ngài còn bảo con buông cái gì ?

Phật bảo:

 –
Ta chẳng phải bảo ông buông gốc hoa đó, mà chính là bảo ông buông sáu
trần bên ngoài, sáu căn bên trong và sáu thức ở giữa kia kìa. Tất cả một
lúc buông sạch hết, không còn chỗ nào để buông nữa, ngay đó chính là
chỗ ông thoát khỏi sinh tử.

Phạm Chí ngay đó liền tỏ ngộ phép vô sinh, lễ tạ Phật.

 Ông
Phạm Chí Hắc Thị này cũng được thần thông, cũng biết thuyết phép, nhưng
vẫn chưa được an ổn đối với sinh tử, vẫn chưa có lỗi thoát, phải tìm
đền Phật pháp. Chỉ “ba cái buông” của Phật dạy đó, mới là con đường an
ổn thật sự trong thế gian này.

– Đối với bên ngoài, buông hết các trần, không để tâm duyên theo, phóng ra, là cắt đứt duyên ngoài.

 –
Đối với bên trong buông các căn, không bám vào chỗ thấy biết nơi căn
khiến các trần đi vào, làm chỗ tiếp xúc với duyên ngoài, là cắt đứt
duyên trong.

– Buông thức, là không sinh tâm phân biệt yêu ghét trên căn trần, thì sinh tử sẽ đến ở chỗ nào ? Pháp vô sinh là đó!

Chúng ta vì bám chặt nơi căn, đuổi theo trần, sinh tâm phân biệt lăng xăng nên dẫn mình chạy mãi trong luân hổi sinh tử.

Mắt
thấy sắc liền đuổi theo sắc, khởi phân biệt đẹp xấu, sinh yêu ghét,
thành có phiền não, quên mất thật. Trong bài sám hối sáu căn của vua
Trần Thái Tông lời sám hối về căn mắt, vua nói: “Nhân ác xem kỹ, nghiệp
thiện coi khinh. Lầm nhận hoa giả, quên ngắm trăng thật”. Tức là, với
những cái nhân ác, nhân đưa mình vào đau khổ lại xem kỹ, lại đuổi theo
tạo tác; còn nghiệp thiện, nghiệp an vui lại coi thường bỏ qua. Sống lầm
lẫn thật nơi chính mình. Cần phải sám hối để tỉnh trở lại.

Tai
thì nghe tiếng, rồi chạy theo tiếng, phân biệt dở hay, cũng sinh yêu
ghét, dẫn đi vào sinh tử. “Ghét nghe chính pháp, thích nghe lời tà. Mê
mất gốc chân, đuổi theo ngoại vọng”. Chánh pháp giúp mình mở sáng tâm
tính lại không thích nghe, thành chạy theo cái hư vọng giả dối bên
ngoài, quên mất gốc chân thật sáng ngời nơi mình. Sống như thế gọi là
sống mất mình, sống bị vật chuyển, mất tự chủ, Phật gọi là mê.

Mũi
đuổi theo mùi, phân biệt thơm thối, cũng lại đi vào sinh tử vô thường.
:Thường tham mùi lạ, trăm thứ ngạt ngào. Chẳng thích chân hương, năm
phần thanh tịch”. Tức theo mùi hương của duyên trần bên ngoài, còn hương
chân thật là năm phần pháp thân hương: hương giới, hương định, hương
tuệ, hương giải thoát, hương giải thoát trí kiến giúp mình mở sáng trí
tuệ, giải thoát khổ đau thì không quan tâm…

Lưỡi,
thân, ý cũng như vậy, cứ đuổi theo vị trần, xúc trần, pháp trần mà quay
lăn trong vòng sinh tử vô thường, quên mất cội nguồn tâm tính chân thật
xưa nay.

Vua Trần Thái Tông
nhắc mình hằng sám hối nơi sáu căn, là khiến mình buông xả, không đắm mê
theo sáu trần, tức trở về ông Phật của chính mình. Đây là một pháp sám
hối rất có nhiều ý nghĩa sâu xa và thực tế. Chúng ta sám hối thực sự và
hành theo đúng đắn thì bảo đảm tâm thanh tịnh, tội không sinh, là chuyển
mình từ trong thế gian mê lầm trở về tính giác, liền gặp Phật.

Trong
các kinh A Hàm, Phật thường gọi sắc là thức ăn của mắt, tiếng là thức
ăn của tai, mùi là thức ăn của mũi…Mắt thiếu sắc là nó đói, tai thiếu
tiếng là nó đói, phải chạy đi tìm để ăn, suốt ngày luôn chạy tìm không
dừng, chẳng mấy lúc được yên. Ngồi một mình thiếu sắc, thiếu tiếng thì
cảm thấy buồn, phải mở nhạc, xem ti-vi cho vui. Đó là sống theo chiều
của cái tôi hư dối, cái tôi sinh diệt vô thường, không phải cái độc tôn
mà Phật muốn nhắc. Ý Phật muốn nhắc mỗi người, phải vượt ra cái tôi sinh
diệt này, phát minh ra cái chân thật nơi chính mình, làm chủ trở lại
sinh tử, đó mới chính là Phật, là độc tôn, không có gì ở thế gian có thể
sánh kịp. Đức Phật xuất hiện ở thế gian chính vì điểm trọng yếu này.

Trong kinh A Hàm, khi đản sinh, ngài đã nói đủ bài kệ bốn câu như sau:

                Thiên thượng thiên hạ        Trên trời dưới đất

                Duy ngã độc tôn.                Chỉ ta tôn nhất.

                Nhất thiết thế gian             Tất cả thế gian

                Sinh lão bệnh tử                Sinh già bệnh chết.

Ý
nghĩa trong đây rất rõ, tất cả chúng sinh ở thế gian, gồm suốt cả ba
cõi đều phải chịu chung sự vô thường sinh tử. Dù là các vị trời có phước
báo, có thần thông, sống vui sướng thời gian lâu, cuối cùng vẫn không
thoát khỏi vô thường. Còn Phật, Ngài đã vượt qua, thân này là thân chót
của Ngài, ý nghĩa “độc tôn” là ở chỗ đó, không phải ở cái ngã mấy chục
ki-lô này. Chính đây là:“ MỘT THÔNG ĐIỆP MUÔN THUỞ CHO THẾ GIAN “. Nhắc
cho thế gian phải tỉnh lại, chớ đắm mê mãi trong cuộc sinh tử vô thường
này.

 II. THỂ HIỆN NGAY BẢN THÂN

Đức
Phật Thính Ca với hiện thân thái tử Tất Đạt Đa, tức một con người lịch
sử như bao nhiêu con người, nhưng sau khi dạo bốn cửa thành, thấy các
cảnh người già, người bênh, người chết… khiến Ngài tự cảm thấy cuộc
đời này là bất an và quyết tìm cách để giải quyết, thoát ra, không chấp
nhận cúi đầu theo nó. Và Ngài đã vượt thành xuất gia tìm đạo, sẵn sàng
hy sinh mọi cái vui nơi cung vàng điện ngọc, với Ngài đó cũng chỉ là
những cái vui tạm bợ thôi, phải giải quyết vấn đề sinh tử mới có cái vui
thật sự.

Qua thời gian tìm
học với các vị tiên, Ngài thấy cũng chưa giải quyết được vấn đề bất an
này. Cuối cùng Ngài từ giã hết, đến dưới cội cây Tất-bát-la ngồi thiền
định bốn mưới chín ngày đêm và tự giác ngộ vào đếm thứ bốn mưới chín.
Trong bài kinh Đại Thích Ca Mâu Ni Cù Đàm của Tương Ưng bộ, Phật đã
thuật lại rõ, chính Ngài đã phăng tìm cội gốc tất cả. Do vô minh tạo
nghiệp mà dẫn chúng sinh đi trong luân hồi sinh tử, chịu mãi cái khổ vô
thường từ vô lượng kiếp đến giờ.

Nhưng
vô minh là gì mà nguy hiểm thế? Tức là mê mờ không sáng tỏ, lầm lẫn cái
giả với cái thật. Cụ thể là, lầm chấp thân tâm giả dối sinh diệt này
cho là mình. Một niệm này khởi lên là quên mất tính chất, hẳn phải đi
vào cuộc vô thường sinh tử.

Trong
ánh sáng giác ngộ thì thân này do bốn đại hợp thành, tức bốn chất đất,
nước, gió, lửa chung hợp, không phải một thực thể độc lập… Bốn chất
này lại là vật vô tri ấy bảo là ta được? Ta là đất, là nước, là gió  là
lửa vô tri ấy sao? Lẽ thực như thế mà không nhận ra nên gọi là vô minh.

Về
tâm thì có tâm thiện, tâm tà, tâm buồn, tâm vui, tâm mừng, tâm giận,
tâm thương, tâm ghét… Không biết bao nhiêu thứ và một ngày thay đổi
cũng không lường hết được, vậy thì nhận định cái nào là ta? Nếu tâm vui
là ta thì tâm buồn là ai? Tâm giận là ta thì tâm mừng là ai? Chẳng lẽ
cái nào cũng là ta, thì một ngày ta có trăm ngàn cái ta sao? Vậy đó là
cái ta hổn tạp, đâu chắc thật! Nó là cái vô thường mà nhận là mình,
trách gì không trôi lăn theo nó mà luân hồi, mà sinh tử! Thấy nó không
phải ta thì dừng, không theo nó, ngừng tạo nghiệp, liền phá vô minh,
liền giải thoát.

Nói rõ hơn,
do ÁI NGÃ, tức yêu mến cái ta hư dối này, chính đó là gốc luân hồi sinh
tử. Bởi yêu mến nó… luyến ái nó nên bám chặt vào nó, không chịu buông.
Sống thì tạo tác bao nhiêu thứ nghiệp để thỏa mãn cho nó. Đến khi chết,
mất thì tìm cái khác thay vào, dòng luân hồi nối tiếp mãi từ đó!

Song
thân này có thật đáng để yêu mến, để luyến ái nó chăng? Vua Trần Thái
Tông từng nói về nó trong bài NÓI RỘNG VỀ SẮC THÂN như sau:

            “ Đầu sọ khô cài hoa giắt ngọc

            Túi da hôi ướp dạ xông hương

            Cắt lụa là che đãy máy tanh

            Giồi son phần át thùng phân thối

            Trang sức như thế, trọn là gốc nhớp

            Không thể nơi đây tự thẹn, Lại hướng trong ấy mến yêu”.

Một
ông vua, sống giữa cảnh quyền uy sang cả, đầy đủ các thú vui vật chất
mà có cái nhìn chân thật như thế. Chính lời của một ông vua nói ra, càng
làm sáng tỏ lẽ thực ấy nó là như vậy, không phải Phật cố tình nói để
khiến người chán đời.

Đó là bản chất thật của thân khi sống, còn khi chết thì ra sao ? Cũng vua Trần Thái Tông, Ngài bảo:

 “Chẳng
luận là giàu hay nghèo, đồng vào cõi chết . Hoặc để trong nhà thì giòi
đục, tửa sinh. Hoặc ném ra đường thì lấy chiếu cuốn giấu. Nhặt thu hài
cốt, chôn cất thịt xương. Quan quách phó cho đám lửa ma trơi nơi đồng
vắng. Mả mồ giao cho muôn dặm núi sông”.

Bản
chất thực của thân này rõ ràng là như thế. Nếu không có ánh sáng giác
ngộ của Phật soi sáng cho thì không bao giờ chúng ta biết được.

III. TỰ MỞ TRÍ VÔ SƯ

Điều
trọng yếu nhất là phải mở trí vô sư, tức trí tuệ nơi mình không do thầy
dạy. Đây là cái quý nhất trên đời, giải quyết được tân gốc nỗi khổ của
kiếp người. Như Thái tử Tất Đạt Đa, sau khi vượt thành xuất gia, tìm học
vị thầy này, vị thầy nọ, nhưng cuối cùng đành buông hết, từ giã hết,
ngồi thiền định soi sáng lại mình, rồi tự phát minh ra, tự giác ngộ
không ai dạy cho, không do ai đem đến. Đây là một lẽ thật, ai là người
có thực hành và chứng nghiệm đều cảm nhận được.

Bởi
do thiền định tâm lặng lẽ, trí sáng hiện bày, cái này ai dạy cho? Sách
vở nào ghi chép được “trí giác ngộ này“ ? Dù máy điện tử hiện đại cũng
không ghi được. Đó mới thực là trí tuệ của chính mình. Mở được trí tuệ
này, sẽ có cái nhìn thấu suốt bình đẳng. Phật khi thành đạo Ngài liền
than :” Lạ thay! Lạ thay! Tất cả chúng sanh đều có đầy đủ đức tướng trí
tuệ của Như Lai, chỉ vì vọng tưởng chấp trước mà không thể chứng được.
Nếu lìa vọng tưởng thì trí thanh tịnh, trí tự nhiên, trí vô sư hiện
tiền”. Khi mở ánh sáng này, đức Phật thấy rõ ai ai cũng có đủ trí tuệ
Như Lai đó, không phải chỉ cuộc hạn riêng mình, chỉ mình Ngài mới có. Mà
dù người đạo Phật hay không phải đạo Phật, người phương Đông hay phương
Tây, người Kinh hay người Dân tộc, người nam hay nữ, ngu hay trí… đều
có đủ, rất là bình đẳng sáng ngời, không có thành kiến riêng tư.

Từ
trí tuệ giác ngộ đó, Ngài đã đi thuyết pháp giáo hóa quần sinh, lập
thành tăng đoàn và có đạo Phật. Vậy đạo Phật có từ ánh sáng giác ngộ,
nên học Phật là học đạo giác ngộ, là đi theo con đường trí tuệ sáng
suốt. Đúng ý nghĩa là như thế.


lẽ thực đức Phật đã giác ngộ ngay khi Ngài còn mang thân này, còn hiện
sống trên đời, không phải đợi sau khi chết, không phải chuyện mơ hồ khó
chứng nghiệm. Điều này được các hàng đệ tử của Ngài, các Tổ sư sau này
tiếp nối chứng nghiệm. Vua Trần Nhân Tông bỏ ngai vàng, quyền uy sang cả
đi tu, cũng để phát minh lẽ thực này, và Ngài đã thực sự ngộ ngay khi
còn sống, chứng mình cho một chân lý sáng ngời giữa thế gian này. Như
trong bài thơ XUÂN VÃN tức cuối xuân, Ngài đã thổ lộ.

                        Niên thiếu hà tằng liễu sắc không

                        Nhất xuân tâm sự bách hoa trung

                        Như kim khám phá Đông hoàng diện,

                        Thiền bản bồ đoàn khán trụy hông.

 Nghĩa:

                        Thuở bé đâu từng rõ sắc không,

                        Xuân về rộn rã nức trong lòng.

                        Chúa Xuân nay bị ta khám phá,

                        Ngồi lặng nhìn xem rụng cánh hồng.

Tức
là ngày xưa khi chưa rõ đạo thì mỗi lần xuân về, tâm Ngài cũng rộn rã
theo, cũng quên mình theo cảnh như mọi người. Nhưng giờ đây, Ngài đã mở
con mắt đạo, đã khám phá ra ông chủ chân thật nơi mình, là chúa xuân đó
rồi, nên đối trước cảnh tự làm chủ trở lại, không còn bị chi phối nữa,
chỉ ngồi lặng lẽ trên bồ đoàn thản nhiên nhìn cảnh hồng rụng, không có
gì quan trọng. Đây là một kinh nghiệm sống thiền rất sâu, không phải dễ
dàng lý luận mà được.

IV. TÓM KẾT:

 Phật ra đời đánh thức cho mỗi người: thế gian là vô thường biến đổi, là quán trọ không phải chỗ ở lâu.

Thân
này không phải ta thật, nó là thứ sinh diệt, cũng nằm trong vô thường,
không phải chỗ mình nương tựa vĩnh viễn, mà phải từ trong đó vươn lên,
khéo nhận ra một sức sống CHÂN THẬT, tức là ông PHẬT NƠI CHÍNH MÌNH. Lấy
đó làm nguồn sống, mới thật sự có giá trị trên hết, không gì ở thế gian
có thể sánh kịp.

Đức Phật
được tôn xưng là bậc Y vương tức là vua thầy thuốc, nghĩa là Ngài cho
thuốc trị lành bệnh sinh tử cho chúng sinh, giúp cho chúng sinh nhận ra
và sống lại trong sức sống CHÂN THẬT KHÔNG TUỔI THỌ. Do đó, dù Ngài có
nói đến vô thường, tạm bợ, nhưng không dừng ở đó, khiến người ta bi quan
chán đời, mà ở trong đó, Ngài còn chỉ ra MỘT NGUỒN SỐNG VÔ BIÊN mà cả
thế gian không hay biết. PHẬT BẢO là thế, không phải nói suông trên danh
từ chữ nghĩa.
Mong rằng nhiều
người sẽ cảm nhận được “THÔNG ĐIỆP PHẬT RA ĐỜI” của Đức Thế Tôn mà bớt
lầm chấp vào thân tâm vô thường, tự tiến lên con đường giác ngộ sáng
suốt, an vui hạnh phúc vĩnh hằng. Nhất là mở con mắt tâm, rõ được lẽ
thật ngay chính mình, liền đó gặp Phật lại ra đời. Thật vui thay!

Xem thêm: https://www.phaphay.com/phat-phap/

Nguồn: https://www.niemphat.vn/

Add Comment