Tìm hiểu ý nghĩa tam chuyển pháp luân thập nhị hành

Tìm hiểu ý nghĩa tam chuyển pháp luân thập nhị hành 1

Tìm hiểu ý nghĩa tam chuyển pháp luân thập nhị hành 2Tứ Diệu Đế là giáo lý căn bản, tối quan trọng trong hệ thống
giáo lý, là tinh hoa căn bản trong lời Phật dạy. Đây là pháp hành căn
bản trong sự tu tập giải thoát. Để hiểu rõ hơn về ý nghĩa lý thâm sâu
bài pháp Tứ Diệu Đế, chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu về ý nghĩa như thế
nào được gọi là tam chuyển pháp luân thập nhị hành?

Sau khi thành đạo, đức Phật liền
nghĩ đến việc đem giáo lý vừa chứng đạt truyền bá cho chúng sanh. Quán sát thấy
căn cơ của năm anh em Kiều Trần Như có thể khai ngộ được, đức Phật đến Vườn Nai
(Lộc giả uyển) thuyết bài pháp Tứ Diệu Đế, đây là bài pháp đầu tiên. Tứ Diệu Đế
là giáo lý nền tảng của Phật giáo và được xem là thiện pháp tối thắng. Tôn giả
Xá Lợi Phất (Sariputta) đã từng nhận định:

“Chư Hiền giả, ví như tất cả
dấu chân của mọi loài động vật đều bị nhiếp trong dấu chân voi, vì dấu chân này
là to lớn trong tất cả dấu chân về mặt to lớn. Cũng vậy, chư Hiền giả, tất cả
các thiện pháp đều tập trung trong tứ Thánh đế” —
(Trung Bộ I, kinh Tượng tích dụ, đại kinh trang 184)

Tứ Diệu Đế là giáo lý căn bản, tối
quan trọng trong hệ thống giáo lý, là tinh hoa căn bản trong lời Phật dạy. Đây
là pháp hành căn bản trong sự tu tập giải thoát. Để hiểu rõ hơn về ý nghĩa lý
thâm sâu bài pháp Tứ Diệu Đế, chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu về ý nghĩa như
thế nào được gọi là tam chuyển pháp luân thập nhị hành?

Chuyển pháp luân: là quay bánh xe pháp, là sự chuyển động của bánh xe chân lý.
Đây là lối dùng hình tượng cụ thể để diễn tả khái niệm. Bài pháp Tứ Diệu Đế đức
Phật giảng thuyết lần đầu tiên để độ năm anh em Kiều Trần Như tại vườn Lộc Giả,
ví như bánh xe pháp bắt đầu chuyển động. Xe chánh pháp này chở tâm chúng sanh
từ bờ mê đến bến giác. Xe chánh pháp này đưa tâm trí của chúng sanh đến Niết
Bàn an vui.

Tam chuyển pháp luân thập nhị hành: Tam chuyển pháp luân gồn có ba phần đó là thị chuyển,
khuyến chuyển và chứng chuyển. Đây là ba lần quay bánh xe chánh pháp. Đức Phật
chỉ rõ thực tướng của đời sống là khổ, nói rõ nguyên nhân dẫn đến khổ, phải dứt
nguyên nhân gây khổ đó và biện pháp dứt khổ, gọi là thị chuyển. Kế tiếp khuyến
tấn năm anh em Kiều Trần Như hiểu rõ nỗi đau khổ đó và khích lệ năm người bạn
đồng tu phải nhận ra nguyên nhân khổ, phải dứt trừ nguyên nhân và biện pháp dứt
khổ, gọi là khuyến chuyển. Sau cùng đức Phật nói tự chính bản thân Ngài đã thực
hiện và hoàn toàn giác ngộ – “Dĩ thân tác chứng”, lấy kinh nghiệm
nóng hổi của bản thân ra làm nền tảng bảo vệ chân lý để thuyết phục chúng sanh
nổ lực hành trì theo những gì đức Phật đã làm, đây gọi là chứng chuyển. Vì mỗi
đế đều có ba chuyển nên bốn đến cộng lại thành 12 hành; nên gọi là tam chuyển
pháp luân thập nhị hành.

Đức Phật đã trình bày rõ ràng, cụ
thể tri kiến như thật về Tứ Diệu Đế qua “ba chuyển “và “mười hai
hành”.

Về diệu đế thứ nhất: Khổ đế (dukkha) có ba luận điểm ,”Đó là khổ (thị
chuyển
). Dukkha phải được hiểu (khuyến chuyển). Và Dukkha đã được
hiểu (chứng chuyển)”.

“Chân lý của khổ đế là gì? Sanh
là khổ (sanh khổ), già là khổ (lão khổ), bệnh là khổ (bệnh khổ), chết là khổ
(tử khổ), xa cách khỏi người thân yêu là khổ (ái biệt ly khổ), không được những
gì mình muốn là khổ (cầu bất đắc khổ)… tóm tắt đó là những loại khổ bám lấy
chúng sanh”.

Đó là khổ đế, đó là linh kiến, sự tự
chứng trí huệ, sự nhận biết và ánh sáng đã nảy sinh trong ta về mọi việc chưa
từng nghe thấy trước đây.

Khổ đế phải được thấu suốt bằng sự
hiểu biết đầy đủ cái khổ: đó là linh kiến, sự tự chứng, trí huệ sự nhận biết và
ánh sáng đã nảy sinh trong ta về mọi việc chưa từng nghe thấy trước đây.

Khổ đế đã được thấu suốt bằng sự
hiểu biết đầy đủ cái khổ: đó là linh kiến, sự tự chứng trí huệ, sự nhận biết và
ánh sáng đã nảy sinh trong ta về mọi việc chưa từng nghe thấy trước đây”.
—  (Kinh Tương Ưng Bộ, LVI, 11)

Đoạn kinh văn trên là một phương
pháp giáo dục rất hay, một phương tiện thuyết pháp thiện xảo, bởi vì đức Phật
đã diễn tả bằng một công thức đơn giản dễ nhớ giúp năm người bạn đồng tu nhận
định và có thể thực hành. Ba luận điểm của khổ, đức Phật đã trực tiếp truyền
đạt cho năm anh em Kiều Trần Như khi xưa, nhưng đồng thời là bài học vô giá hôm
nay giúp chúng ta áp dụng trong cái nhìn về cuộc đời: khi nào gặp đau khổ,
trước tiên chúng ta phải công nhận “có đau khổ”, kế đó: “đau khổ
phải được hiểu” và cuối cùng là đau khổ đã được hiểu. Sự hiểu biết về
dukkha là sự tự chứng trong Khổ đế.

Về diệu đế thứ hai: Tập đế (Sameda Dukkha) có ba luận điểm, đó là
“có căn nguyên của đau khổ, là sự ràng buộc của dục vọng (thị chuyển).
Dục vọng phải được buông bỏ (khuyến chuyển). Và Dục vọng đã được buông
bỏ (chứng chuyển)”.

 “Tập đế là gì? là căn
nguyên của đau khổ. Nó là sự khao khát đã thay đổi chúng sanh, đã được kèm theo
bởi những hứng thú, ái dục, đam mê về những điều này thứ kia: trong những ngôn
từ khác, dục ái, hữu ái, hủy ái. Nhưng sự khao khát nảy sinh và phát triển dựa
trên những gì? Nó nảy sinh và phát triển nơi nào có sự vừa lòng và yêu thích.

Diệu đế dạy về căn nguyên của đau
khổ: đó là linh kiến, sự tự chứng, trí huệ, chưa từng nghe thấy trước đây.

Tập đế phải được thấu suốt bằng sự
dứt bỏ cái căn nguyên của đau khổ…

Tập đế này đã được thấu suốt bằng sự
dứt bỏ cái căn nguyên của đau khổ: đó là linh kiến, sự tự chứng, trí huệ, chưa
từng nghe thấy trước đây”. — (Kinh Tương Ưng Bộ, LVI, 11)

Đức Phật dạy căn nguyên của đau khổ
là sự ràng buộc của ba loại dục vọng: dục ái(kama tanha), hữu ái (bhava
tanha
) và huỷ ái (vibhava tanha).

Dục ái: sự tham ái về nhục dục, đây
là loại dục vọng ham muốn có những khoái lạc về giác quan qua thể xác hoặc
những giác quan khác làm cho ta luôn có khuynh hướng để kích thích và thỏa mãn
các giác quan của mình. Ví dụ: khi đói gặp thức ăn ngon và ăn thử những gì thật
khoái khẩu sẽ thấy: một sự thèm muốn thêm nữa nảy sinh. Đó là Kama tanha.
Khuynh hướng con người là tìm kiếm và ham thích những sắc đẹp, những âm thanh
hay, những mùi hương thơm lạ, những vị ngọt ngon và những xúc chạm êm ái và
tránh xa các sắc, thinh, hương, vị và xúc trái ngược. Lòng tham ái càng mạnh
thì chấp thủ càng mạnh. Đây chính là nghiệp lực dẫn đến tái sanh, là cội nguồn
của đau khổ.

Hữu ái: là sự tham khát liên hệ đến
tư tưởng, là bản năng của sinh tồn là khát vọng được tồn tại. Do muốn tồn tại
nên sinh sợ hãi sự chuyển sinh hay hoại diệt. Cứ nhìn một người đang phấn đấu
với cái chết thì sẽ thấy bản năng sinh tồn ấy. Đây gọi là Bhavana tanha.
Hễ còn khát vọng tồn tại là còn khát ái, là còn sinh tử, còn chịu cảnh vô
thường và đau khổ.

Hủy ái còn gọi là vô hữu ái: Đây là
những tham ái liên hệ đến tư tưởng đoạn kiến, những người nhàm chán cuộc sống
muốn tự tử để kết liễu cuộc đời, hoặc tham ái nơi những cảnh giới vô hình. Đây
gọi là Vibhava tanha. Chính sự khát vọng mù quáng này là một thứ lửa
nung nấu khổ đau.

Dục ái, hữu ái và hủy ái là ba khía
cạnh khác nhau của dục vọng. Tư tưởng ham hố quá mạnh thúc đẩy ta vào con đường
hành tác mù quáng theo bản năng, thiếu trí huệ soi đường. Đây là những thiên
kiến dẫn đến sự tạo nghiệp là cội nguồn của đau khổ. Nên lưu ý rằng, thông
thường chúng ta đo lường đau khổ bằng cảm thọ, nhưng cảm thọ không phải là đau
khổ. Sự giữ lấy dục vọng mới chính là đau khổ.

Khi đã hiểu được bản chất của ba
loại dục vọng này là sự trói buộc. Đây chính là động cơ, là nguyên nhân đẩy
mạnh nghiệp thức phải luân hồi sanh tử trong tứ sanh lục đạo. Chúng ta phải
hướng đến bước tu tập tiếp theo đó là sự tự chứng thứ nhì trong tập đế:
“Dục vọng phải được cởi bỏ” và sự tự chứng thứ ba “Dục vọng đã
được buông bỏ”. Như vậy chúng ta không cần phải tiếp tục chịu đau khổ.
Chúng ta không phải là những nạn nhân tuyệt vọng của dục vọng. Chúng ta có thể cho
phép dục vọng tồn tại và bắt đầu buông xả nó. Dục vọng có tác dụng làm ta mê mờ
chỉ khi chúng ta còn nắm bắt nó, tin nó và phản ứng lại nó. Chúng ta có thể rút
ra đuợc một bài học kinh nghiệm để giải quyết những vấn đề thường xảy ra trong
cuộc sống hằng ngày: khi đang cảm thấy phiền não và bi quan, ngay lúc chúng ta
từ chối nuông chìu cái cảm giác đó. Qua sự hiểu biết và thực hành chúng ta mới
có được sự tự chứng thứ ba “Dục vọng đã được buông xả” vì buông xả ở
đây không phải buông xả một cách lý thuyết mà đây là tất cả những gì về thực
hành.

Về diệu đế thứ ba: Diệt đế (Nirodha Dukkha) có ba luận điểm, đó là
“Có sự đoạn trừ của đau khổ, của dukkha (thị chuyển). Sự đoạn trừ
của dukkha phải được nhận thức (khuyến chuyển). Và sự đoạn trừ của
dukkha đã được nhận thức (chứng chuyển)

“Diệt đế là gì? Là sự diệt khổ,
là sự tẩy sạch và sự diệt trừ dục vọng; sự bác bỏ, buông xả, từ bỏ và không
thừa nhận nó. Nhưng trên căn bản nào dục vọng này được bỏ mặc và làm cho triệt
tiêu? Nó có thể được bỏ mặc và làm cho triệt tiêu ngay nơi nào có sự vừa lòng
và yêu thích.

Diệt đế dạy về sự diệt khổ: đó là
linh kiến, sự tự chứng, trí tuệ, sự nhận biết, và ánh sáng đã nảy sinh trong ta
về mọi việc chưa từng nghe thấy trước đây.

Diệt đế này phải được thấu suốt bằng
sự nhận thức được sự diệt khổ…

Diệt đế này đã được thấu suốt bằng
sự nhận thức được sự diệt khổ: đó là linh kiến, sự tự chứng, trí tuệ, sự nhận
biết, và ánh sáng đã nảy sinh trong ta về mọi việc chưa từng nghe thấy trước
đây”. — (Kinh Tương Ưng bộ, LVI,11)

Toàn bộ mục đích của giáo lý Phật
giáo là để phát huy trí tuệ nhằm thoát ra khỏi những vọng tưởng. Diệt (Nirodha)
là một chữ khác của Diệt độ hoặc Tịch Diệt (Nibbana) là sự chấm dứt
nguồn gốc của mê lầm đau khổ, đó là buông bỏ các dục vọng, dập tắt được các
phiền não mê muội là có được sự an lạc.

Chúng ta có thể cảm nhận được sự an
lạc qua sự hành trì tu tập của chính bản thân khi dục vọng chấm dứt trong tâm.
Khi chúng ta ở trong trạng thái nhìn sự vật và thật sự hiểu biết điều đó như nó
đang là, chúng ta sẽ nhận thức được diệt đế (nirodha dukkha), trong đó
không có bản ngã mà vẫn có sự linh hoạt và sự minh bạch. Đó là ý nghĩa thật sự
của hoan lạc là ý thức siêu việt bình an nhất.

Khi đức Phật giảng xong bài pháp tứ
Diệu đế thì ông Kiều Trần Như đạt được thanh tịnh pháp nhãn (tâm trí lọc sạch
không còn vướng bụi nhơ), đức Phật đã gọi ông ta là A Nhã Kiều Trần Như. A Nhã
có nghĩa là hiểu biết thâm sâu, như vậy A Nhã Kiều Trần Như có nghĩa là:
“Kiều Trần Như – người am tường”. Kiều Trần Như đã biết cái gì? Trí
huệ ngài như thế nào mà đức Phật đã tán dương lúc bài pháp chấm dứt? Vì ngài
nhận thức rõ rằng: “Tất cả những gì là đối tượng của sinh cũng là đối
tượng của diệt
“(cái gì sanh tức phải bị diệt).

Đức Phật nhấn mạnh rằng:”Chân
đế phải đươc nhận thức ở đây ngay từ bây giờ
“. Vì vậy không phải chờ
đợi đến lúc chết để khám phá ra chân lý mà mỗi một chúng ta phải nhận thức được
điều đó ngay bây giờ.

Về diệu đế thứ tư: Đạo đế (Nirodha Gamadukkha) như những chân đế khác,
có ba luận điểm, đó là “có bát chánh đạo, đường dẫn ra khỏi đau khổ (thị
chuyển
). Đường đi này phải được phát triển (khuyến chuyển) và đường
đi này đã được phát triển một cách toàn diện (chứng chuyển)”.

“Đạo đế là gì? Là con đường dẫn
tới sự diệt khổ, là Bát Chánh Đạo, đó là: Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ,
Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm và Chánh Định.

Đạo đế dạy về con đường dẫn tới sự
diệt khổ: đó là linh kiến, sự tự chứng, trí tuệ, sự nhận biết, và ánh sáng đã
nảy sinh trong ta về mọi việc chưa từng nghe thấy trước đây…

Đạo đế này phải được thông suốt bằng
sự trau dồi trí tuệ về Bát Chánh Đạo…

Đạo đế này đã được thông suốt bằng
sự trau dồi trí tuệ về Bát Chánh Đạo: đó là linh kiến, sự tự chứng, trí tuệ, sự
nhận biết, và ánh sáng đã nảy sinh trong ta về mọi việc chưa từng nghe thấy
trước đây”. — (Kinh Tương Ưng bộ, LVI,11)

Đạo đế còn được gọi là Thánh đạo (Ariya
Magga
), hay chánh đạo. Đây là tám phương pháp, tám nguyên lý chân chánh
nhất để tu tập giải thoát. Hầu hết các kinh điều chứng minh rằng Bát Thánh là
con đường đưa đến sự đoạn diệt khổ đau. Tất cả các giáo lý tu tập điều được xây
dựng trên nền tảng căn bản của Giới, Định và Huệ. Bát Thánh đạo được khai triển
từ tam vô lậu học. Chánh kiến (samma ditthi) và Chánh tư duy (samma
sankappa
) là thuộc về Huệ. Chánh ngữ (samma vaca), Chánh nghiệp (samma
kammanta
) và Chánh mạng (samma ajiva) là thuộc về Giới. Chánh tinh
tấn (samma vayama), Chánh niệm (samma sati) và Chánh định (samma
samadhi
) thuộc về Định.

Bát Thánh Đạo là một pháp hành, là
con đường để phát triển thánh trí chúng ta phải biết và làm theo, làm từ cạn
đến sâu, phải thực hành từng phần từng phần mà tiến lên ngày càng đầy đủ hơn,
toàn diện hơn để đời sống đươc an lạc hạnh phúc.

Qua phương pháp Tam chuyển pháp luân
thập nhị hành, đức Phật đã triển khai thật đầy đủ về ý nghĩa tuyệt diệu của của
pháp Tứ Diệu Đế. Tam chuyển là thấy rõ đau khổ và chỉ cho chúng sanh thấy rõ
khổ đau; hiểu rõ nỗi khổ đau và khích lệ chúng sanh nhận rõ nỗi khổ đau; và sau
cùng là đã chứng ngộ dứt trừ hết khổ đau. Mỗi đế đều có ba chuyển còn được gọi
là ba luận điểm rất rõ ràng và cụ thể làm lay tỉnh và chuyển đổi tâm hồn của
chúng sanh từ mê lầm ra giác ngộ, từ đau khổ trở thành hạnh phúc an vui. Tam
chuyển pháp luân thập nhị hành là phương pháp giáo dục cao độ qua khẩu giáo và
thân giáo của một bậc giác ngộ. Vì vậy nó mang tính thuyết phục cao đã lay tỉnh
tâm hồn năm người bạn đồng tu (năm anh em Kiều Trần Như) và rất nhiều chúng
sanh trực nhập vào chánh pháp. Điều này đã minh chứng rằng Phật Giáo không ru
ngủ con người trong những tín điều thần quyền mà luôn đánh thức con người trực
nhận sự thật của con người về chân lý của cuộc đời qua chân lý “hiểu
khổ và diệt khổ
“. Sở dĩ con người khổ đau là do vô minh vọng chấp, do
chạy theo lòng tham dục, luyến ái của tư duy hữu ngã. Đức Phật đã chuyển pháp
luân là đem giáo lý Tứ Diệu Đế soi sáng cuộc đời và mọi nguời trên bước đường
tìm cầu hạnh phúc chân thật viên mãn. Giáo lý Tứ Diệu Đế qua lăng kính “ba
chuyển” và “mười hai hành” đã trở thành bài pháp rất sống động
hùng hồn làm sáng tỏ lại giá trị của con người, chỉ cho con người thấy được kho
tàng tri thức cũng như khả năng để tự nổ lực kiến tạo lại đời mình bằng mọi
hiểu biết đúng đắng nhất xuất phát từ ngay giữa lòng cuộc sống này. Chính vì
thế, bài pháp Tứ Diệu Đế đã trở thành một giáo lý tối quan trọng, là giáo lý
nền tảng của các bộ phái Phật giáo, không một nhà nghiên cứu Phật học nào có
thể phủ nhận được điều này. Vì vậy chúng ta phải quyết tâm nghiên cứu Tứ Diệu
Đế để thực hành có kết quả.

Là sứ giả Như Lai, chúng ta noi
gương hoằng pháp của đức Phật, sống và hành trì tu học và truyền bá chánh pháp
theo tôn chỉ “chuyển mê khai ngộ ly khổ đắc lạc” để mang lại
sự an lạc cho bản thân và sự bình an hạnh phúc đến với mọi nhà mọi nguời.

Thích Thánh Minh

Source: thuvienhoasen

Xem thêm: https://www.phaphay.com/phat-phap/

Nguồn: https://www.niemphat.vn/

Add Comment