Tịnh Độ Vấn Đáp

Tịnh Độ Vấn Đáp 1

Hỏi : Thế nào là tông chỉ của Tịnh Độ ?

Đáp : Tông chỉ của Tịnh Độ là : TÍN, NGUYỆN, HÀNH

* TÍN : Có ba thứ tin :

–  Tin lời Phật Thích Ca chẳng dối gạt người.

–  Tin Cõi Cực lạc không già không bệnh, không chết, muốn gì được nấy.

–  Tin mình kiếp này sẽ được vãng sanh, chẳng cần đợi kiếp sau.

* NGUYỆN : Có hai thứ nguyện :

–  Tiểu nguyện : Hễ phát tiểu nguyện thì
không hợp nhân quả, chẳng được vãng sanh. Tại sao ? Vì tiểu nguyện chỉ
phát nguyện cho một mình được vãng sanh, nếu không trở lại đầu thai thì
làm sao có quả báo ? Bây giờ chẳng nói về kiếp trước, chỉ nói kiếp này :
Từ nhỏ tới lớn có sát sanh không? Có giết chết con muỗi con kiến không ?
Có ăn thịt chúng sanh không ? Theo nhân quả là một mạng phải đền một
mạng, ăn một cục thịt trả một cục thịt, thế thì làm sao trả nợ mạng, nợ
thịt? Nên phải phát đại nguyện.

–  Đại nguyện : Ví như mình hiện nay
không có tiền mặt để trả nợ, ký phiếu hẹn đến kỳ sau. Sau này được sanh
Cõi Cực lạc rồi, thành Phật trở về độ hết tất cả chúng sanh. Ngoài Phát
nguyện như thế , còn phải thực hành.

  • HÀNH : Cần nhất là phải hành theo đại nguyện của
    mình, nếu không thực hành là nguyện giả, cũng như người tu Tịnh Độ mà
    không ăn chay là nguyện giả. Tại sao ? Vì đã phát nguyện độ chúng sanh,
    còn ăn thịt chúng sanh, chẳng phải nguyện giả ư ? Như câu hồi hướng
    trong Kinh Di Đà :” Thập phương tam thế Phật, A Di Đà đệ nhất, phàm hữu
    chư phước thiện,chí tâm cùng hồi hướng”, tức làm bất cứ việc phước thiện
    gì đều hồi hướng cho tất cả chúng sanh, trong đó có chủ nợ của mình.
    Bất cứ con người hay súc sinh; gặp con chó cũng phải phát tâm độ, mặc dù
    con chó không biết nghe mình nhưng cũng nói, gặp con mèo thì độ con
    mèo. thử hỏi hiện nay có ai làm như vậy không ? Có người phát tâm tu
    Tịnh Độ đã hơn ba mươi năm, cũng có phát đại nguyện, nhưng hỏi về phần
    thực hành thì không có.

 

Hỏi : Về vấn đề tu Thiền nhờ tự lực, và Tịnh Độ nhờ tha lực như thế nào ?

Đáp : Tất cả phương tiện của Phật dạy
đều phải nhờ tự lực, phải tự ngộ chứ không thể nhờ tha lực. Nói Pháp môn
Tịnh Độ nhờ tha lực là sai lầm; bởi tông chỉ của Tịnh Độ là Tín,
Nguyện, Hành, cũng là nhờ tự lực. Nhất là về cái nguyện, khi đã phát đại
nguyện rồi thì phải thực hành, ấy là nhờ tự lực. Niệm Phật cũng phải tự
lực tự làm, chẳng được nhờ người khác niệm dùm.

Tông phái nào cũng phải nhờ tha lực,
nhưng tự lực là chánh, tha lực là trợ duyên. Còn nói Thiền tông là nhờ
tự lực chẳng nhờ tha lực cũng không đúng, tại sao ? Thế có phải khi mình
sanh ra đã biết tham Thiền đâu ! Pháp môn này là do Phật dạy, ấy là trợ
duyên; do chư Tổ truyền lại đời sau, ấy là trợ duyên; Thầy dạy chúng ta
tham Thiền, ấy cũng là trợ duyên, là tha lực..Cho nên chẳng có Tông
phái nào chỉ nhờ tự lực hoặc chỉ nhờ tha lực mà được, tại con người chấp
tâm sai lầm thôi.

Hỏi : Trước tu Tịnh Độ, nay chuyển qua tham Tổ Sư Thiền được không ?

Đáp : Mục đích tu Tịnh Độ hay tham Tổ Sư
Thiền đều là để giác ngộ thành Phật, giải quyết tất cả khổ. Chỉ là Pháp
Tịnh Độ thuộc pháp thiền gián tiếp, Tổ Sư Thiền là pháp thiền trực
tiếp. Đức Phật dạy tám mươi bốn ngàn pháp môn, chỉ có Tổ Sư Thiền là
pháp trực tiếp, ngoài ra đều là pháp gián tiếp. Lại, tu pháp môn nào
phải đúng theo tông chỉ pháp môn đó mới được thành tựu, nếu tu không
đúng, chẳng những không được thành tựu, có thể trở thành ngoại đạo.

Pháp môn Tịnh Độ là do pháp sư Huệ Viễn
đời nhà Tấn Trung Quốc dựa theo Kinh Di Đà và Kinh Vô Lượng Thọ sáng
lập, chứ chẳng phải do Phật Thích Ca sáng lập hay từ Ấn Độ truyền qua.
Trong đó có bảy vị Tổ là tu theo Tổ Sư Thiền kiến tánh rồi, tùy theo
nhân duyên giúp cho Tịnh Độ hoằng pháp. Đến Tổ thứ 13 là Pháp sư Ấn
Quang, sau đó mấy mươi năm nay chưa có Tổ thứ 14.

Còn Tổ Sư Thiền là do Phật Thích Ca
truyền cho ngài Ma Ha Ca Diếp, rồi do Tổ sư từng đời truyền xuống, đến
đời tôi, mỗi đời đều có sự truyền thừa rõ ràng.

Đối với Lịch sử Thiền tông ở Việt Nam
tôi chưa được rõ, nghe nói Tổ Sư Thiền ở Việt Nam là truyền từ Thiền sư
Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông hay ngài Liễu Quán. Đến nay đã thất
truyền gần hai trăm năm, có Tổ sư từ Trung Quốc qua Việt Nam dạy về pháp
môn Tổ Sư Thiền, sau đó cũng thất truyền.

Còn Tổ sư Tịnh Độ của Việt nam thì không
nghe nói, cũng không biết do vị Tổ nào sáng lập, đa số do tự mình xem
sách, nhiều người tự lấy ý mình tu, cho tụng kinh niệm Phật là tu Tịnh
Độ. Còn hỏi về tông chỉ của Tịnh Độ thì nói là ; Tụng kinh, niệm Phật,
ăn chay, phát nguyện.

Sự thật, tông chỉ của Tịnh Độ là Tín, nguyện, hành.

Hỏi : Vậy Có tông chỉ của Tịnh Độ không ?

Đáp : Theo Phật pháp, nguồn gốc của Bản
thể là Phật tánh, Đức Phật gọi là Chơn như Phật tánh. Bản thể của Phật
tánh không dính líu với có không. Có Không là nguồn gốc của 62 kiến
chấp, phàm có đối đãi là nhị biên, là biên kiến, thuộc một trong năm thứ
ác kiến. Hễ chấp thật Có và Không đều lọt vào biên kiến, nên Phật dạy
phải lìa tứ cú, tuyệt bách phi, nếu chấp thật sự có và không, đã nghịch
với bản thể tự tánh, dẫu cho siêng năng tu tập, cũng chẳng thể thành
tựu.

Hỏi : Thiền tông và Tịnh độ một thể, phải không ?

Đáp : Nói thì đúng, nhưng sự hiểu không
đúng. Cách thực hành giữa Tổ Sư Thiền và Tịnh Độ có khác, nhưng mục đích
không khác, chỉ là pháp thiền trực tiếp hay gián tiếp mà thôi. Tức Tổ
Sư Thiền có thể kiến tánh lúc còn sống, không cần đợi sau chết mới vãng
sanh.

Tịnh Độ dù được vãng sanh, vẫn chưa được
kiến tánh. Tại sao ? Vì tất cả pháp đều không ngoài nhân quả. Nhân vô
vi mới được quả vô vi, nhân hữu vi chỉ được quả hữu vi. Do cách tu của
Tịnh độ chỉ gieo được nhân hữu vi, bản thể Tự tánh không đối đãi, chẳng
thuộc có không, nên khi thực hành theo đường lối, phải gieo nhân vô vi
mới được quả vô vi.

Tịnh độ cuối cùng cũng thành Phật, nhưng
còn xa, vì là pháp gián tiếp.Người được sanh cõi Tịnh độ mới bắt đầu
tu, nếu sanh nơi biên địa, là chưa được vào cõi Tịnh độ, sanh nơi hạ
phẩm phải ở trong hoa sen mười hai đại kiếp mới được ra; Một đại kiếp
gồm bốn trung kiếp, một trung kiếp gồm hai mươi tiểu kiếp, một tiểu kiếp
là mười sáu triệu năm. Quý vị thử nghĩ xem là bao lâu ?

Còn tu pháp Tổ Sư Thiền, có thể ngay
trong kiếp này được kiến tánh, như Long nữ trong Kinh Pháp Hoa tám tuổi
thành Phật. Cho nên, pháp trực tiếp với pháp gián tiếp có khác, nhưng
khi thành Phật là không khác.

Như trên đã nói, phải gieo nhân vô vi
mới được quả vô vi, người tu Tịnh độ sau khi sanh cõi Tịnh độ, lòng tin
vững chắc rồi, bỏ được chấp tâm, mới chuyển từ niệm Phật qua tham thiền,
từ nghi đến ngộ. Nghi tình là nhân vô vi, mới được sự ngộ là quả. Tại
sao nói nghi tình là nhân vô vi ? vì nghi tình là tâm không biết, chẳng
dính mắc gì cả. Hễ có dính mắc là hữu vi .

Hỏi : Con nghe nói Tịnh độ niệm Phật một câu tiêu tám muôn ức kiếp tội, nay tham thiền thì sao? Được mau tiêu tội không ?

Đáp : Chớ nói niệm một câu Phật hiệu
tiêu được tám muôn ức kiếp tội, hễ niệm Phật một câu tiêu được một ngày
tội cũng đủ rồi ! Cứ suốt ngày tạo tội, chỉ cần niệm một câu Phật liền
tiêu, vậy thì đâu có sợ tạo tội ! Một kiếp biết bao lâu không ? Hễ một
câu niệm Phật tiêu được tám muôn ức kiếp tội, thì hiện nay tội đã không
còn.

Niệm Phật hiệu rất dễ, đời người chỉ có
một trăm năm, vậy cứ tạo tội mãi mà chẳng sao! Nếu được như thế, đâu cần
làm thiện, cực khổ tu hành làm gì ? Nên biết câu nói trên là sai, vì
không có nhân quả, tức tạo ác nhân cũng được thiện quả ? Việc không có
nhân quả là phá hoại Phật pháp, không nên theo.

Hỏi:  Tịnh độ tông trì kinh niệm chú, có công dụng như tham Thiền không?

Đáp:  Ông đã hiểu lầm, trì chú thuộc Mật
tông, chứ không thuộc về Tịnh độ. Tịnh độ thì niệm Phật, mà nếu niệm
hiệu Phật A Di Đà là thuộc Tây phương Tịnh độ, niệm hiệu Phật Lưu Ly
Quang Như lai là thuộc Dược sư Tịnh độ, (cũng gọi Đông phương Tịnh độ),
còn  Đâu Suất Tịnh độ niệm hiệu Phật Di Lặc, ba Tịnh độ này đều có người
hoằng dương, phổ biến nhất là Tây Phương Tịnh độ, ngoài ra còn có vô
lượng vô biên Tịnh độ.

Hỏi:  Trong cuốn Noi Gương Niệm
Phật nói:”Niệm một câu A Di Đà Phật diệt được tám mươi bốn ngàn tội sanh
tử, được tám mươi bốn ngàn công đức vi diệu.” Trong công quả hằng ngày,
lúc quét nhà lau nhà lỡ giết hại con kiến côn trùng thì câu Phật hiệu
có diệt được tội đó  không?

Đáp:  Nếu nói niệm Phật diệt được tội
thì không có nhân quả, ví như tạo ác nhân mà niệm Phật có thể tiêu tội
thì đâu sợ tạo nghiệp ! Ai cũng biết niệm Phật, kể cả con nít biết nói,
chỉ cần dạy cho nó niệm Phật cũng được vậy ! Chúng ta không thể y văn
giải nghĩa, làm oan cho tam thế Phật. Hễ người phạm giới mà sám hối cũng
chỉ diệt được tội phá giới, vẫn phải chịu tội nhân quả, chứ chẳng thể
sám hối tội nhân quả. Nếu vô ý giết hại con vật thì sau này sẽ bị vô ý
giết lại.

Hỏi:  Tu theo tông chỉ của Tịnh độ và tông chỉ của Thiền tông đưa đến kết quả như thế nào?

Đáp:  Tông chỉ của Tịnh độ, của Thiền
tông, kể cả của các tông các phái trong Phật giáo, mục đích đều như
nhau, cũng là muốn thành Phật. Thành Phật không phải trở thành một vị
thần linh, mà là giác ngộ, ở trong chiêm bao thức tỉnh thì khổ trong
chiêm bao tự dứt. Vì  giác ngộ mới giải thoát tất cả khổ, đạt đến tự do
tự tại, cho nên nói là thành Phật, kỳ thật Phật đã thành sẵn, Kinh Viên
Giác nói “Tất cả chúng sanh đều đã thành Phật”.

Tất cả pháp môn cuối cùng chỉ là hiện ra
Phật tánh, thật ra nói Phật tánh là tâm. Tại sao nói Phật tánh? Vì chữ
Phật nghĩa là giác ngộ, tâm này có tánh giác ngộ, nên gọi Phật tánh; nếu
không có tánh giác ngộ thì chẳng thể thành Phật.
    
Nói đến
chữ TÂM thì tất cả đều là tâm, “vạn pháp duy tâm,” “tất cả do tâm tạo,”
vũ trụ vạn vật, địa, thủy, hỏa, phong v.v… đều bao gồm trong đó, chẳng
cái nào thiếu sót, cho nên nói tất cả pháp thế gian đều là Phật pháp;
Lục Tổ nói “Phật pháp tại thế gian, chẳng lìa thế gian giác,” cái tách
này, bình này, kể cả cái thân này đều từ diệu tâm sanh ra. Bây giờ chúng
sanh chấp cái thân này là ta, còn cái tách, cái bình chẳng phải  ta,
nếu theo Phật pháp thì tất cả đều là ta, bởi vì tất cả đều từ tâm sanh
ra, thì đâu có cái nào ở ngoài tâm? Nên nói đều là tự kỷ. Nếu tất cả đều
là tự kỷ, thì mặc dù nói là ta, nhưng đã phá được ngã chấp, chẳng còn
tương đối, nên nói là đồng thể bi, tất cả đồng một bản thể (tâm).
Thế thì Tịnh độ cũng là tâm, Thiền cũng là tâm, những người tu Tịnh độ do không biết nên chấp thật cái thân này.
  
Nếu
nói cho đúng thì Phật giáo chẳng phải là một tôn giáo, hai chữ Tôn Giáo
là do người Nhật đặt ra, tất cả các tôn giáo khác như Thiên Chúa Giáo,
Hồi Giáo… chú trọng về tín ngưỡng, phải tin Giáo chủ, nên thuộc về tôn
giáo; còn Phật giáo thì khác, Phật Thích Ca nói “Tất cả chúng sanh đều
là Phật,” đều bằng với Phật.

Vì tâm chẳng có hình tướng số lượng, bộ
não chẳng thể nhận biết, nhưng sự dụng thì rõ ràng, ví như cái thân này,
cái tách này, cái bàn này, ghế này… đều là dụng của tâm, vũ trụ vạn vật
đều là dụng của tâm, nên Đức Phật nói “Nhất thiết duy tâm tạo.” Nhưng
nhà khoa học thì không tin, chỉ tin vào vật chất, nói tâm này cũng do
vật chất sanh ra. Ngài Nguyệt Khê trong Đại Thừa Tuyệt Đối Luận có một
biểu đồ nói về bốn thừa: Tiểu thừa nói về duy vật, Trung thừa nói về duy
tâm, Đại thừa nói tâm vật hợp một, Tối thượng thừa thì vô sở trụ, nói
chẳng phải tâm, chẳng phải vật, tức chẳng phân biệt tâm khác với vật, là
phi tâm phi vật, chẳng phải có hai.

Ví như mấy mươi cây đèn trong một phòng,
đèn lớn ánh sáng mạnh, đèn nhỏ ánh sáng yếu, đèn dù khác nhau nhưng ánh
sáng chẳng phải có hai; năm cây đèn cũng chỉ một ánh sáng, một triệu
cây đèn cũng chỉ một ánh sáng. Lại nữa, những người học khoa học thì
biết rõ ánh sáng cùng khắp hư  không, đã cùng khắp thì sự tương đối tự
nhiên tiêu diệt, chẳng còn tương đối nữa. 
    
Theo Phật pháp,
nguồn gốc của tương đối là hữu và vô, hữu là có, vô là không . Tất cả
chúng sanh đều do chấp ngã mới gây ra đủ thứ khổ và phiền não, tức chấp
thân này là ta, bây giờ thành lập có ta tức hữu ngã, được không? Ví dụ
thân ta là một trong những cây đèn, muốn thành lập hữu ngã thì phải chỉ
ra ánh sáng đèn nào thuộc về của ta, quí vị có ai chỉ ra được không? Ánh
sáng đèn cùng khắp chánh điện này, có ai chỉ ra được ánh sáng nào là
của ta? Không được. Tại sao? Vì ánh sáng đèn nào cũng cùng khắp, dù lớn
hay nhỏ, bao nhiêu triệu cây đèn cũng cùng một ánh sáng, chẳng sức mạnh
nào chia thành hai ánh sáng được. 
   
Thế thì nói là không có
ta, tức vô ngã, được không? Muốn thành lập vô ngã, quí vị phải chỉ ra
chỗ nào không có ánh sáng đèn của ta? Chỗ nào cũng cùng khắp, vậy muốn
thành lập nghĩa vô ngã cũng không được, vì chẳng thể chỉ ra. 
   
Mặc
dù chẳng thể chỉ, nhưng không phải là không có những cây đèn khác biệt,
ví như một trăm cây đèn vẫn là một trăm cây, đèn lớn vẫn phát ra ánh
sáng mạnh hơn, đèn nhỏ vẫn phát ra ánh sáng yếu  hơn, chứ chẳng phải
tương đối tiêu diệt rồi ánh sáng và đèn cũng tiêu diệt luôn. Cho nên,
tất cả chúng sanh dù cùng một Phật tánh, cùng một tâm, nhưng mỗi mỗi
chúng sanh vẫn là khác nhau, cũng như tất cả đèn cùng chung một ánh sáng
mà mỗi mỗi đèn vẫn khác nhau vậy. Nếu chúng ta sanh khởi tâm chấp thì
có cái này cái kia, muôn ngàn sai biệt; có Tịnh độ, Thiền tông, Thiên
thai, Hiền thủ, Duy thức, Tam luận… đủ thứ tông phái, cho đến tà ma
ngoại đạo, thế gian công thương kỹ nghệ… Nhưng công thương kỹ nghệ, tà
ma ngoại đạo, tông phái này tông phái kia đều là một tâm chứ chẳng phải
hai tâm. Do đó, nói Phật giáo chẳng phải tôn giáo, vì tất cả đều gồm
trong đó. Nếu hiểu được tất cả đều ở trong tâm, chẳng phải ở ngoài thì
khỏi cần phân biệt Tịnh độ và Thiền, sở dĩ có phân biệt vì có tâm chấp
vậy.

Nay người đời nhìn Phật giáo như là một
tôn giáo, vì thấy Phật giáo đồ mê tín, cho rằng Phật giáo là một tôn
giáo mê tín. Sự thật thì giáo lý của Phật giáo là chánh tín, là phá mê
tín, nhưng vì Phật giáo đồ không hiểu, trong Thiền tông có nói:”Ấy chẳng
phải lỗi tại đệ tử, là lỗi tại người Thầy,” tại Tu sĩ tự mình mê tín
rồi dạy Phật tử cũng mê tín theo.

Tại sao nói chánh tín là phá mê tín? Như
Bát Nhã Tâm Kinh, các chùa ngày thường đều tụng mấy lần, tụng thì tụng,
mà trong cuộc sống hằng ngày thì nghịch với Kinh: Trong Kinh nói “Vô
lục căn, lục trần, lục thức, vô lão tử… cho đến vô Khổ Tập Diệt Đạo, vô
trí diệc vô đắc,” vô lão tử là không có già chết, cái đó còn thuộc phạm
vi Giáo môn chứ chưa phải Thiền môn, người ta còn tin không nổi, huống
là Thiền môn bất lập văn tự, làm sao tin nổi ! Nếu muốn phổ biến cho
nhiều người thì phải dạy người ta mê tín, đó mới dễ tin và phổ biến được
nhiều, vì những người mê tín rất  dễ dàng đem gia tài đi cúng, họ cho
rằng càng cúng nhiều  càng được phước nhiều. Còn dạy người chánh tín thì
tất nhiên khó tin rồi. Chỉ có những người đã phát tâm tu giải thoát,
kiếp trước đã tu, đã gieo trồng thiện căn rồi, kiếp này mới có lòng tin
chơn thật. Kinh Kim Cang nói:”Phát lòng tin trong sạch, chẳng phải chỉ
kiếp trước nơi một Phật hai Phật gieo trồng thiện căn, mà là vô lượng vô
biên hằng sa chư Phật gieo trồng thiện căn,”  mới được lòng tin trong
sạch như hiện nay vậy. Có lòng tin chắc chắn, sự tu mới chắc chắn,  giải
thoát mới chắc chắn. 
   
Nhiều người đã phát tâm tu, ấy là
nhiều kiếp đã gieo trồng thiện căn, mới có nhân duyên đến dự Thiền thất,
đến nghe tôi giảng về pháp chánh tín. Tôi không bao giờ giảng về mê
tín, người cúng dường chánh tín không mong đợi phước báo và cúng dường
vô điều kiện, không đòi hỏi tôi tụng kinh cầu an cầu siêu,  cũng không
cần  biết phước báo đó sẽ lớn như  thế nào.
   
Tôi đến giảng
tại các Phật học viện, mặc dù tôi chuyên hoằng Tổ Sư Thiền, nhưng người
ta hỏi về Tịnh độ thì tôi giải đáp về Tịnh Độ, hỏi về Thiền giải đáp
thiền, cho đến các pháp môn  khác. Ai thích tu pháp môn nào thì tôi dạy
pháp môn đó, chứ chẳng phải bắt buộc mọi người phải tu Tổ Sư Thiền.

                                                                                            Thích Vân Phong kính biên tập

Xem thêm: https://www.phaphay.com/phat-phap/

Nguồn: https://www.niemphat.vn/

Add Comment