Tinh thần xuất trần của đạo Phật

Tinh thần xuất trần của đạo Phật 1

Tôi nhấn mạnh
lại, đạo Phật là đạo giác ngộ chớ không phải đạo của lòng tin. Chúng ta
theo đạo Phật là để tìm cầu sự giác ngộ, mà muốn được giác ngộ thì phải
vào đạo bằng trí tuệ, bằng cái nhìn đúng như thật, chớ không thể nhìn
khác hơn được.

Phật tử khi bước chân vào
đạo Phật, quý vị thấy Phật có dạy chúng ta điều gì huyền bí mầu nhiệm
không? Phật dạy chúng ta toàn những sự thật. Ví dụ Phật tử tại gia, Phật
dạy phải giữ năm giới, rõ ràng có gì cao siêu huyền bí đâu, chỉ là
những lẽ thực. Nếu chúng ta sống giữ được như thế thì mình là một con
người tốt, hiện tại gây ảnh hưởng tốt với gia đình xã hội, mai kia cũng
được sanh nơi tốt. Đó là lẽ thực chớ không có gì huyền bí cả. Bởi vì Đức
Phật là một con người thực, chứng nghiệm lẽ thực cho nên những gì Ngài
nói cũng là lẽ thực.

Lâu nay chúng ta nhìn đạo
Phật có vẻ huyền bí nhiều quá, mà đã huyền bí thì tăng trưởng lòng tin
chớ không tăng trưởng trí tuệ. Nếu muốn đi đúng với tinh thần mở sáng
con mắt trí tuệ, chúng ta phải nhìn đạo Phật đúng như Ngài muốn. Đọc
lịch sử, chúng ta đều biết Đức Phật là một vị Bồ tát Nhất sanh bổ xứ, ra
đời ở cõi này lần chót tu hành chứng quả thành Phật. Cho nên công phu
tu của Ngài đã trải qua vô số kiếp vun bồi hạnh nguyện trí tuệ rồi, đến
đây là sắp viên mãn. Như vậy đương nhiên Ngài có đủ khả năng tạo ra
những cảnh huyền bí lạ lùng. Vậy tại sao Ngài không từ trên không giáng
xuống mà lại xuất hiện trong một gia đình như những người thế tục, rồi
cũng sanh ra như bao nhiêu người?

Theo ý riêng chúng tôi,
tôi nghĩ Đức Phật sinh ra như mọi người mà tu hành thành Phật thì chúng
ta tu hành cũng sẽ thành Phật. Vì thế Ngài sinh ra như mọi người là vì
muốn độ loài người. Khi lớn lên Ngài cũng phải học. Học rồi mới hiểu, từ
học hiểu đó sau này gặp duyên tốt, Ngài liền thức tỉnh đi tu. Có thế
hàng phàm phu chúng ta nhìn lại gương lịch sử của Phật, thấy Ngài cũng
là con người như mình, thức tỉnh đi tu rồi thành đạo. Chúng ta cũng là
người như Ngài, nên cũng có quyền thức tỉnh đi tu rồi thành đạo. Nếu
Ngài sinh ra quá mầu nhiệm huyền bí, còn chúng ta sinh ra quá tầm thường
thì mình sẽ mặc cảm rằng việc làm đó chỉ có bậc kỳ đặc như Ngài mới làm
được, còn tầm thường như mình thì bất khả thi. Nếu nhìn Đức Phật thế
ấy, chúng ta sẽ thấy Ngài rất gần gũi, rất thiết thực với con người. Từ
đó ta cố gắng tu để đạt được kết quả như Phật. Như vậy đạo Phật mới thực
tế chứ!

Hồi xưa thái tử thấy cảnh
già bệnh chết, Ngài thức tỉnh đi tu. Bây giờ tất cả chúng ta cũng thấy
cảnh già bệnh chết nhưng thức tỉnh chưa? Phật thấy người già liền biết
mình sẽ già, thấy người bệnh liền biết mình sẽ bệnh, thấy người chết
liền biết mình sẽ chết, nên Ngài không cam ngồi yên chờ cái già, bệnh,
chết đến với mình nên đi tu. Còn chúng ta thấy người già thì nghĩ đó là
ông già, mình còn trẻ chưa gấp gì. Thấy người bệnh nói người ta bệnh chớ
mình chưa bệnh, thấy người chết nói người đó chết chớ mình chưa chết.
Vì thế chúng ta không tỉnh nên không vội vàng tu. Phật và chúng ta khác
nhau ở chỗ tỉnh và mê đó, chớ không phải khác nhau ở chỗ huyền bí.

Hiện giờ chúng ta tu nếu
gặp khó khăn trở ngại, có phân bì với Phật hồi xưa tu khỏe, mình bây giờ
tu cực quá không? Không thể, vì Phật tu đâu có khỏe. Ngài cũng khó
khăn, khổ sở nhưng nhờ ý chí mãnh liệt, quyết tâm tột cùng nên mới đạt
đạo. Chúng ta ngày nay tu hơi khó khó thì nản, nói tu gì khó quá. Tu mà
sao không có phước, gặp tai nạn hoài, nghĩ vậy rồi chán hết muốn tu.
Người tu thời nay quan niệm rất đơn giản, tu cho có phước hết tai nạn
nên tới chùa tập tu để cầu phước. Nếu lỡ gặp tai nạn thì trách Phật
không linh, nên nghỉ tu nghỉ đi chùa. Phải hiểu tu là chấp nhận mọi khó
khăn mọi nguy hiểm, để vươn lên trước những thử thách cay đắng mới là
người có lập trường, có ý chí, như vậy mới mong đạt được sở nguyện. Hiểu
thế giả sử chúng ta có gặp khó khăn đến mấy, ta vẫn cười: “Đây là cơ
hội để mình tu, chớ không cầu xin ai”.

Phật tử ngày nay đa số tu
rất yếu ớt. Quý vị đòi lúc nào cũng được như ý. Khởi sự qui y thọ năm
giới rồi thì cho rằng mình đã có phước, từ đây về sau muốn gì được nấy,
ít bệnh hoạn, ít tai nạn, ít khó khăn. Nếu quy y, thọ giới rồi mà còn
gặp tai nạn thì chán, mất niềm tin mình tu sao không thấy phước, chỉ
thấy họa. Tinh thần tu như vậy rất yếu đuối. Tôi nghĩ Đức Phật hiện thân
cầu đạo khó khăn, cực khổ đủ điều là một tấm gương sáng để chúng ta noi
theo mà nỗ lực phấn đấu. Nhìn thấy Bồ tát còn một đời thành Phật mà tu
phải cay đắng như vậy, huống nữa chúng ta là phàm phu? Đó là hình ảnh
nhắc nhở khích lệ chúng ta rất hay, rất thiết thực.

Hơn nữa, tu là nguyện sửa
chữa những tật xấu như tham sân si. Nếu vào đạo muốn gì được nấy thì
tham chẳng những không giảm chút nào mà còn tăng trưởng thêm, càng tu
càng tham. Người biết tu khi gặp cảnh vui hợp ý thì hoan hỷ tu, nhưng
gặp những lúc khó khăn trái ý cũng cười mà tu. Muốn được là tham, không
được vẫn không buồn là thắng cái tham, thắng một thứ độc. Còn muốn mà
không được, âu sầu buồn bã mất ăn mất ngủ là thua, là kẻ bại trận trên
đường tu. Chúng ta nỗ lực cố gắng vượt qua những cái khó mới gọi là tu.
Phải tâm niệm rằng chính những sự khó khăn, nguy hiểm, thất bại mới tạo
cơ hội để ta biết được đạo lực của mình. Nếu dở thì ráng tu nhiều hơn,
nếu khá thì mừng để tiến lên. Đó mới thực là người quyết tâm tu.

Sau khi thành đạo rồi,
Đức Phật chứng Tam minh, Lục thông, Tứ vô sở úy, Thập bát bất cộng
v.v… Lục thông gồm có: thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, tha tâm
thông, thần túc thông, túc mạng thông, lậu tận thông. Có lục thông, khi
cần hiện to liền hiện to, cần hiện nhỏ liền hiện nhỏ, cần đi trên hư
không thì đi trên hư không, cần chui xuống nước thì chui xuống nước, cần
độn thổ thì đi trong đất. Tóm lại, Ngài có đầy đủ tất cả thần thông
biến hóa, nhưng khi đi hóa đạo, Đức Phật rất ít khi dùng thần thông, trừ
những trường hợp đặc biệt thôi. Rõ ràng chúng ta không thấy sử ghi lại
mỗi sáng Phật dùng thần thông bay lại nhà tín đồ nhận cơm cúng dường,
rồi bay về chỗ ngồi thọ trai. Mà Ngài đi bộ từ tinh xá lần lần tới nhà
Phật tử nhận cơm, rồi ra gốc cây ngồi ăn hoặc nhận thọ trai tại nhà
v.v… chớ không bay đi bay về gì cả. Mình bây giờ mà được thần thông
thì biết, bay loạn trong hư không.

Tại sao có thần thông mà
Phật không dùng? Đó là điều chúng ta cần phải lưu tâm. Hoặc khi đi giáo
hóa gặp người chửi mắng, Ngài chỉ im lặng đi, chớ không hiện thần thông
khiến ai khiếp sợ cả. Đó là bài học muôn đời mà hàng Tăng Ni Phật tử
phải nhớ. Chúng ta chỉ cần nghe ai nói lén đâu đó ngoài xó hè, giông
giống tên mình là ra mặt lên tiếng ngay. Nếu nghe trực tiếp một lời chê
xấu thì buồn tới mất ăn mất ngủ. Vì mình nhận nhiều quá nên khổ, chớ
người ta nói mình không nhận như Phật thì đâu có khổ. Phật tự tại không
phải vì phép lạ, vì thần thông mà vì tâm Ngài không dính mắc. Chúng ta
bị trói buộc khổ đau vì tâm dính mắc nhiều quá, cứng quá. Bây giờ muốn
tu thì phải gỡ bỏ tâm dính mắc đó. Chỉ có cách ấy thôi.

Trên đường hoằng pháp,
Đức Phật có một câu chuyện rất hay. Lúc đó Ngài thành đạo chưa bao lâu,
mới trên ba mươi tuổi. Trên đường du hóa, một thầy Bà la môn giỏi về
tướng số, nhìn thấy dấu chân của Phật có cả ngàn khu ốc xoáy tròn, ông
đoán đây là quý tướng, người có bàn chân như vậy là người phi thường. Vì
vậy ông lần theo dấu chân để tìm Phật. Đức Phật sau khi vào xóm khất
thực rồi, Ngài tới dưới một gốc cây ngồi thọ trai. Ông Bà la môn tìm
tới, thấy rõ ràng Phật có ba mươi hai tướng tốt, ông biết chắc người này
nếu ở thế gian sẽ làm Chuyển luân Thánh vương, còn đi tu sẽ thành Phật.
Bấy giờ ông bỗng muốn gả con gái của mình cho Phật. Tuy biết con mình
là cô gái đẹp nhất trong vùng, nhưng ông ngại không dám nói, liền quay
về kêu vợ. Bà vợ theo ông đến chỗ Phật, vừa thấy những tướng tốt của Thế
Tôn, bà liền can ngăn ông vì biết đây là bậc đã giác ngộ, bậc ly dục,
không thể gả con gái cho được. Nhưng ông kiên quyết xúi bà nài nỉ Phật,
nào là con gái mình đẹp tuyệt trần, nào là ông sẽ giao hết sự nghiệp gia
tài và gả con gái cho Ngài vô điều kiện…

Hai ông bà nói gì thì
nói, Phật cũng cứ tự nhiên thọ trai, không trả lời. Năn nỉ mãi cho tới
chiều tối, người hầu tiểu thơ thấy hai ông bà đi lâu chưa về, mới chạy
tìm. Đến nơi, thấy hai ông bà đang năn nỉ Phật để gả tiểu thơ nhưng Ngài
không nhận. Cuối cùng Phật thấy mất thì giờ quá, Ngài mới trả lời thế
này: “Cô con gái của bà, dù đẹp tuyệt trần nhưng với con mắt của ta, cô
chỉ là một đãy da hôi thối mà thôi”. Nghe câu đó, hai ông bà rụng rời
tay chân, hết còn năn nỉ nữa. Cô hầu nghe vậy liền chạy về báo cho tiểu
thơ hay: “Ông Cù Đàm chê cô là đãy da hôi thối nên không nhận lời cầu
xin gả con gái của ông bà”. Tiểu thơ nghe thế tự ái, tức giận vô cùng
thề sau này sẽ trả thù. Quả nhiên về sau cô được làm hoàng hậu, nhớ lại
Cù Đàm đã dám khi mình là đãy da hôi thối nên cô quyết tâm rửa hận.

Một hôm Phật đi giáo hóa
ngang qua vùng của hoàng hậu, có ngài A Nan theo hầu. Nghe tin Đức Phật
tới nước mình, bà liền hạ lệnh cho dân địa phương: Cù Đàm đi tới đâu thì
bủa quanh chửi mắng tới đó. Nào chửi, nào chọi đá, nào ném quả úng
trứng úng vào mình hai thầy trò Đức Phật, nghĩa là làm đủ điều nhục nhã
cho Ngài để bà được hả dạ. Lúc đó ngài A Nan tối mặt tối mày, chịu không
nổi nữa mới thưa:
– Bạch Thế Tôn, chúng ta nên đi nơi khác.
Phật
hỏi:
– Đi đâu, A Nan?
A Nan thưa:
– Chúng ta đi nơi nào
đừng bị chửi mắng hoặc chọi đất đá như thế này.
Phật lại hỏi:

Nơi nào không có người chửi mắng chúng ta, A-nan?
A-nan thưa:

Thưa Thế Tôn, chúng ta trở lại nước Xá Vệ, nước Ma Kiệt Đà. Những nơi
Thế Tôn đã từng giáo hóa, dân ở đó họ kính Ngài sẽ không có ai chửi
mắng.
Phật lại hỏi:
– Này A Nan, như một thầy thuốc giỏi có thể
treo bảng trước cửa nhà rằng “Nơi này chỉ trị những người bệnh nhẹ, ai
bệnh nặng thì đi nơi khác” không?
A Nan thưa:
– Bạch Thế Tôn,
không.
– Tại sao?
– Vì thầy thuốc giỏi thì phải trị những bệnh
nặng, chớ còn trị bệnh nhẹ thôi thì đâu có giá trị gì.
Phật nói:

Cũng vậy, người nước Ma Kiệt Đà, nước Xá Vệ đã được Ta giáo hóa hiền
lành, họ biết tu tập, họ là những người bệnh nhẹ. Còn dân ở đây chưa
được Ta giáo hóa, họ còn điên cuồng, chửi mắng đủ thứ, họ là người bệnh
nặng, ta cần ở lại để giáo hóa.
A Nan chưa bằng lòng nên hỏi:

Bạch Thế Tôn, nhưng họ có chịu nghe Thế Tôn nói đâu mà ở đây giáo hóa?
Phật
liền tuyên bố giữa mọi người:
– Nếu chừng nào người dân ở đây nói
rằng “Không cần Cù Đàm giáo hóa”, chừng đó Ta sẽ đi.
Khi đó số người
đứng chung quanh nghe câu chuyện đối đáp của hai thầy trò, họ liền hô
to rằng:
– Chúng tôi là người bệnh nặng cần được ngài Cù Đàm giáo
hóa.

Qua câu chuyện này, quý
vị thấy thế nào? Nếu chúng ta là Phật, bị chửi bới bị chọi đất đá như
thế, mình sẽ làm sao? Mình liền ra uy, dùng thần thông bay lên hư không,
hóa phép lạ cho nó hoảng sợ chạy hết, khỏe biết mấy phải không? Tội gì
phải nghe chửi. Vậy mà Phật im lìm nghe họ chửi, lại còn mở lòng từ bi ở
lại để chữa bệnh cho những bệnh nhân nặng. Phật là thầy thuốc giỏi, ai
bệnh nặng Ngài cần phải cứu giúp, quyết không bỏ dù họ có chửi bới tới
đâu. Người đang mê cuồng không biết phải quấy, đó là người bệnh nặng cần
được giáo hóa bằng tâm chớ không dùng thần thông, không dùng phép lạ.

Nếu lúc đó Phật dùng thần
thông, dùng phép lạ thì bây giờ chư Tăng Ni đi giáo hóa đến vùng bị
chửi mắng, mình không có phép lạ chỉ còn nước cuốn gói đi thôi, chớ biết
làm sao? Vì Phật có phép lạ nhưng Ngài không dùng, chỉ đem tâm từ bi,
đức nhẫn nhục để giáo hóa chúng sanh nên ngày nay Tăng Ni mới có thể
giáo hóa được. Ai chửi mình thì chửi, ta chỉ thương thôi việc đó chúng
ta có thể làm được. Mở rộng lòng thương đối với kẻ mê muội nhiều đau
khổ, đó là tinh thần hết sức chân thật hết sức từ bi của đạo Phật. Nhờ
thuở xưa Đức Phật không dùng thần thông, mà dùng lòng từ giáo hóa chúng
sanh nên bây giờ chúng ta mới tu, mới làm Phật sự được.

Thế nhưng ngày nay thỉnh
thoảng quý thầy gặp khó cũng bỏ chùa chạy chỗ khác. Chúng ta phải có tâm
thương người, dù khó dù dễ gì cũng sẵn sàng giáo hóa thì mới làm tròn
Phật sự được. Với tình thương tràn trề chắc chắn không ai không cảm hóa
được. Tại vì nghe chửi quá, mình không sân nhiều cũng giận ít nên thấy
thiên hạ khó thương, không khí căng thẳng tự nhiên muốn bỏ thôi. Còn
Phật không giận nên Ngài cứ thương, vì thế giáo hóa nơi nào cũng được
hết. Với đức độ cao dày, Đức Phật đã để lại tấm gương sáng cho chúng ta
học và làm theo. Ngài không nhìn thần thông là tốt, để chúng ta thấy
tinh thần xuất trần của đạo Phật rất cụ thể.

Kinh Trường A-hàm kể lại,
một hôm Đức Phật ngồi trên bờ hồ nhìn thấy những đóa sen nở tươi tắn,
Ngài bảo: “Tất cả hoa sen nở thơm tho thanh khiết này, gốc đều từ trong
lòng bùn nhơ”. Như vậy bùn nhơ là nơi để cho hoa sen kết nụ, rồi từ từ
nó chui ra khỏi bùn, nhú lên mặt nước mới nở hoa thơm tho thanh khiết.
Có hoa sen nào không từ bùn nhơ mà ra đâu? Cũng thế, Đức Phật nói tất cả
chúng sanh đều có thể thành Phật. Nếu mọi người nỗ lực tu cũng như nụ
sen dưới bùn có khả năng vượt ra khỏi bùn, nhô lên mặt nước và trổ hoa
thơm tho.

Phật là người ở trong
vũng bùn dục lạc hoàng cung, Ngài như mọi thanh niên khác, có gia đình
có vợ con hẳn hoi. Từ đó Ngài cố gắng tu hành vượt qua mọi cám dỗ thế
gian, lần lần chứng quả. Giống như hoa sen từ vũng bùn ngoi lên, rồi ra
khỏi nước nở thành đóa hoa tròn đẹp thơm tho. Qua đó chúng ta thấy rõ
đạo Phật không dạy mình tu cái gì ở bên trời kia hay nơi nào xa lạ, mà
tu ngay trong cõi dục lạc nhớp nhúa, chúng ta vươn lên thoát ra để rồi
đạt đạo. Như vậy tinh thần xuất trần của đạo Phật là tinh thần từ chỗ
nhơ nhớp vượt lên thành thanh khiết, chớ không phải thanh khiết có từ
nơi thanh khiết.

Chúng ta hiện giờ đang
sống trong ngũ dục lạc, mình có quyền tu để thành Phật không? Ai cũng có
quyền hết. Không một nụ sen nào từ dưới bùn mà không có quyền trồi lên
và nở hoa thơm tho, trừ những nụ sen bị sùng hoặc con gì cắn thì nó mới
tiêu mòn, không trồi lên được. Thế nên chúng tôi cho rằng Đức Phật có
thể sinh ra như một con người bình thường cũng có thể chấp nhận được
chứ! Như vậy con người sẽ thấy Đức Phật gần gũi, cụ thể với nhân loại và
vì thế họ tự khẳng định niềm tin nơi khả năng giác ngộ giải thoát của
mình hơn.

Do đó mỗi khi chúng ta
nhìn thấy Phật ngồi trên tòa sen, tự nhiên mình có cảm tưởng Phật là nụ
sen đã ra khỏi nước nở tròn thơm tho, chúng ta là những nụ sen còn đang ở
trong bùn. Nếu nỗ lực mai kia mình cũng được nở tròn thơm tho thanh
khiết như Phật vậy. Hình ảnh đó có tác dụng khích lệ lớn lao vô cùng,
giúp chúng ta cố gắng tu nhiều hơn. Nếu Ngài ra đời không dính chút bụi
trần nào hết thì bây giờ đạo Phật khuyên người ta tu khó được. Bởi đức
Phật thanh khiết quá nên Ngài thành Phật, còn mình nhớp nhúa quá làm gì
thành Phật nổi? Ta sẽ mặc cảm không có phần trong công phu tu hành. Vì
vậy hình ảnh Đức Phật ra đời bình dị như mọi người rất thích hợp với
tinh thần vì nhân loại, vì chúng sinh.

Chúng ta học Phật, tu
Phật nên nhìn đức độ của Ngài, chớ không nên tưởng tượng quá nhiều về sự
mầu nhiệm. Phải học gương xử sự khéo léo, tấm lòng thương mênh mông,
trí tuệ tràn trề của Ngài đối với tất cả chúng sanh. Tinh thần Phật dạy
là tinh thần xuất thế, rất gần gũi con người. Vì thế, Phật không muốn
dùng những phương tiện kỳ lạ để giáo hóa con người, đó là hình ảnh rất
thích ứng với hoàn cảnh chúng ta ngày nay. Có thế nhân loại mới thấy đạo
Phật thực tế, thân thiết và tu tập được.

Phật tử chúng ta có thể
hãnh diện vui mừng rằng, Đức Phật là bậc thầy của tất cả muôn loài rất
thực tế, rất gần gũi, rất chí thiết. Nếp sống của Ngài là tấm gương sáng
cho chúng ta tu học theo một cách hiện thực sống động, chớ không phải
chuyện xa lạ. Đó là ý nghĩa rất thâm trầm của đạo Phật. Vì vậy tôi muốn
nhắc toàn thể Tăng Ni cũng như Phật tử nên nhìn đạo Phật bằng cái nhìn
cụ thể, chớ không nên nhìn Đức Phật với cái nhìn phi thường xa lạ. Cái
phi thường của Đức Phật là tâm không dính mắc, là trí tuệ tràn trề, là
lòng từ bi mênh mông, chớ không phải phi thường của những huyền bí, phép
lạ.

Như vậy, Đức Phật của
chúng ta là bậc đã giác ngộ, giải thoát với trí tuệ và tình thương tràn
đầy. Đây chính là nền tảng của đạo Phật, là cái sẵn có nơi mỗi người
chúng ta. Tăng Ni, Phật tử cố gắng thực hiện, cố gắng tu tập rồi sẽ đạt
được kết quả viên mãn như Phật.

Theo: Giác Ngộ số Phật đản PL2551

Xem thêm: https://www.phaphay.com/phat-phap/

Nguồn: https://www.niemphat.vn/

Add Comment