Tổ Bồ Đề Đạt Ma

Tổ Bồ Đề Đạt Ma 1

Tổ Bồ Đề Đạt Ma 2

Nói đến Thiền tông thì trước hết
phải nói đến Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma vì Tổ là người đã tạo cho Thiền tông thành
một tông phái quan trọng của Phật giáo, mặc dầu Thiền tông đã được
truyền từ đức Phật Thích Ca cho Tổ Ca Diếp tại hội Linh Sơn. Từ Tổ Ca
Diếp, tức Sơ Tổ, Thiền tông được nối tiếp truyền tại Ấn Ðộ cho đến Tổ
thứ 28 là Bồ Ðề Ðạt Ma. Ðiểm đặc biệt là Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma lại rời Ấn Ðộ
mà qua Trung Hoa rồi tạo lập ra một tông phái mà sau này trở nên riêng
biệt trong 10 tông của Phật giáo. Từ đó mà Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma thường được
gọi là Sơ Tổ Thiền tông tại Trung Hoa. Nghi thức truyền pháp là trao y
và bát cho đệ tử nối pháp, chỉ tiếp tục cho tới Lục Tổ Huệ Năng
(638-713) thì ngưng, theo lời sấm của Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma, nhưng lý do chính
là tới lúc đó, số người đắc đạo đã nhiều nên việc lựa chọn một người đệ
tử để trao y bát sẽ gây chia rẽ và va chạm nên tốt hơn hết là không chỉ
định một đệ tử chánh thức nối pháp.

Cuộc đời Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma
(?-529)

Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma (Tiếng Phạn:
Bodhidharma, Nhật: Bodai Daruma) sanh tại Kanchi, Nam Ấn Ðộ con vua
Hương Chí (Simhavarman ?). Ngài là đệ tử của tổ Bát Nhã Ða La (Phạn:
Prajnatara) và được sư phụ dặn dò sau này sang Trung Hoa truyền pháp.
Ngài rời Ấn Ðộ bằng thuyền và sau gần ba năm mới tới Quảng Châu khoảng
năm 520. Vua Lương Võ Ðế có mời ngài tới gặp, sau câu chuyện trao đổi,
tuy thấy nhà vua là người có lòng với đạo Phật nhưng ngài thấy không hợp
căn cơ nên rời tới chùa Thiếu Lâm ở Trung Sơn. Ngài dừng nơi đó, suốt 9
năm ngồi xây mặt vào tường nên được gọi là “Bích quán Bà la môn” (thầy
Bà la môn ngồi nhìn tường). Sau đó có vị tăng Thần Quang (487-593) được
ngài thâu nhận làm đệ tử truyền pháp. Ngài Thần Quang được đổi tên là
Huệ Khả và trở nên vị tổ thứ hai tại Trung Hoa. Ở Trung Hoa được chín
năm, tổ Bồ Ðề Ðạt Ma trao áo ca sa và bát báu cùng bốn quyển của bộ kinh
Lăng Già cho tổ Huệ Khả. Sau đó Tổ viên tịch vào năm 529, (có tài liệu
ghi là năm 532), nhục thân của ngài được nhập tháp tại chùa Ðịnh Lâm,
núi Hùng Nhĩ, Trung Hoa. (trích: Tổ Thiền tông) Có tài liệu ghi Tổ sống
lâu trên 150 tuổi. (trích: Zen Buddhism, tr. 66).

Nền móng Thiền tông

Mấy trăm năm trước khi Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma
tới Trung Hoa thì Phật giáo đã du nhập ở đó rồi. Trong khoảng thời gian
384-413, vị tăng Ấn Ðộ Cưu Ma La Thập (Phạn: Kumarajiva) đã dịch nhiều
kinh điển ra tiếng Trung Hoa và giúp ích nhiều cho việc hoằng dương Phật
pháp. Việc tu hành lúc đó là thường tụng các kinh điển Ðại thừa và áp
dụng đời sống tăng đoàn theo lề lối Ấn Ðộ. Nhưng ở xã hội Trung Hoa lúc
đó thì ảnh hưởng của đạo Lão và đạo Khổng rất thịnh hành, họ có tinh
thần thực tế, cụ thể, thực dụng nên họ muốn tìm trong đạo Phật những gì
cụ thể hợp với nếp sống trong xã hội. Cho nên khi Tổ đem Thiền tông đến
Trung Hoa, với một tông chỉ mới mẻ, thì ảnh hưởng của Phật giáo trở nên
rất mạnh và thịnh hành trong dân chúng. Từ tổ Bồ Ðề Ðạt Ma cho đến thời
Lục tổ Huệ Năng, tức khoảng gần 200 năm, Thiền tông từ hạt giống do Tổ
gieo trồng đã thực sự nảy mầm và trổ thành cây tốt tươi. Kể từ sau Lục
tổ thì Thiền tông đã đem lại những ảnh hưởng lớn lao, sâu rộng cho xã
hội Trung Hoa, và sau đó là Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam. Như vậy công
lao của tổ Bồ Ðề Ðạt Ma, người đã thực sự khởi đầu đặt nền móng cho
Thiền tông, có thể nói là vĩ đại và đáng kính phục.

Ðường lối tu hành

Ý chỉ của Tổ về pháp tu của Thiền tông
được thâu gọn trong bốn câu kệ :

“Bất lập văn tự,

Giáo ngoại biệt truyền,

Trực chỉ nhân tâm,

Kiến tánh thành Phật.”

(Chẳng lập văn tự,

Truyền ngoài giáo lý,

Chỉ thẳng tâm người,

Thấy tánh thành Phật).

Bốn câu đó trình bầy đường lối tu hành
của Thiền tông khác hẳn với các pháp tu khác trong đạo Phật.

Hai câu đầu: “Bất lập văn tự, Giáo
ngoại biệt truyền”
là hai câu mà đức Phật truyền cho tổ Ca Diếp
trong hội Linh Sơn. Mới đọc qua hai câu đó chúng ta có cảm tưởng như đức
Phật mật truyền cho tổ Ca Diếp một pháp nào mà không dùng tới văn tự và
ở ngoài các kinh điển. Nếu đọc bài kệ của đức Phật khi truyền pháp cho
tổ Ca Diếp thì chúng ta hiểu rõ hơn, hai câu đầu bài kệ là: “Pháp
bổn pháp vô pháp, Vô pháp pháp diệc pháp.”
Câu khó hiểu đó được
John Blofeld lược dịch trong cuốn “Hoàng Bá ngữ lục” là: “Giáo lý
căn bản của Phật pháp là không có pháp nào hết, nên cái pháp ‘không có
pháp nào hết’ chính là Phật pháp”.
(tr. 64) Như vậy tới chỗ cứu
cánh là chỉ có pháp “không có pháp nào hết”, vậy thì văn tự nào có thể
diễn tả được pháp đó, như vậy pháp đó cũng phải nằm ngoài giáo lý vì
giáo lý cũng là văn tự.

Hai câu “Bất lập văn tự, Giáo ngoại
biệt truyền”
đã chỉ tới chỗ cứu cánh của đạo Phật. Như trong kinh
Duy Ma Cật, khi Bồ tát Văn Thù Sư Lợi hỏi ông Duy Ma Cật thế nào là Bồ
tát vào pháp môn Không hai (Bất Nhị). “Ông Duy Ma Cật im lặng không
nói. Ngài Văn Thù Sư Lợi khen rằng: Hay thay! Hay thay! Cho đến không có
văn tự, ngữ ngôn đó mới thật là vào pháp môn không hai.”
Tổ cũng
đã nhận ra là tới chỗ cứu cánh thì không còn văn tự, ngôn ngữ nào, tức
là kể cả kinh điển, có thể dùng để tỏ bầy được.

Còn hai câu “Trực chỉ nhân tâm,
Kiến tánh thành Phật”
nói lên đường lối tu độc đáo của Thiền tông.
Thiền tông “chỉ thẳng”, tức là chỉ ngay cái ở trước mắt người tu, và
ngay hiện tại, chứ không dùng những lời giảng, phương tiện huyền bí,
tượng trưng, bóng bẩy, xa vời. Chỉ thẳng cái gì? đó là chỉ thẳng ngay
cái tâm của người tu hành. Hiểu được cái tâm đó cũng là hiểu được bản
tánh của tâm mình cùng vạn vật. Người nào “thấy tánh” thì sẽ thành Phật,
tức người giác ngộ. Tổ nói rất giản dị :”Nếu thấy tánh tức là Phật,
không thấy tánh tức là chúng sanh”
. (tr. 90). Giữa Phật và chúng
sinh, hoặc nói rõ hơn là giữa người giác ngộ và người si mê, chỉ khác
nhau có điểm căn bản đó thôi.

Mục đích tu hành của Thiền tông thật là
giản dị, nhưng không dễ dàng. Nhiều người nghe như vậy liền vội vã giở
kinh, luận, ngữ lục, sách vở ra tìm kiếm định nghĩa thế nào là “tánh” để
thao thao giảng nghĩa. Công việc đó sẽ chẳng mang lại kết quả gì, vì
còn trụ, chấp vào văn tự, lời nói, lý luận mà hy vọng tìm thấy “tánh”
thì chẳng bao giờ được. Vậy muốn tu theo Thiền tông thì phương pháp tu
như thế nào. Tập “Sáu cửa vào động Thiếu Thất” (Thiếu Thất Lục Môn) của
Tổ để lại đã chỉ ra pháp tu hành của Thiền tông.

Sáu cửa vào động Thiếu Thất

Sáu cửa vào động, tức là sáu pháp môn
tu hành để đạt được đạo quả. Sáu pháp môn đó là: (1) Tâm kinh tụng, (2)
Phá tướng luận, (3) Nhị chủng nhập, (4) An tâm pháp, (5) Ngộ tánh luận
và (6) Huyết mạch luận. Muốn vào được động Thiếu Thất thì có thể vào
bằng cửa nào cũng được, không nhất thiết phải qua cả sáu cửa. Tu theo
bất cứ một pháp môn nào cũng đạt Ðạo, không nhất thiết phải tu cả sáu
pháp môn.

(1) Tâm kinh tụng: Tổ
nhắc lại từng câu trong Bát Nhã Tâm Kinh, sau mỗi câu đều có những câu
giảng. Ðại ý cũng là phát triển về tâm của tông Bát Nhã. Tổ chỉ rõ tướng
“không” của muôn pháp để chúng ta hiểu được cái thể “Như lai không
tướng”, vốn thanh tịnh, chẳng phải có/không, chẳng sạch/nhơ, chẳng
tăng/giảm, một khi giác được điều đó thì “chợt rõ bỏ ý tu, thênh
thang vượt pháp giới, tự tại hết lo âu”
. Tổ còn căn dặn “chấp
có đâu thực có, theo không lại lạc không”
, vì Tổ biết rõ chúng ta
thường chấp chặt vào hoặc “có” hoặc “không”.

(2) Phá tướng luận:
Phần này gồm những câu hỏi và đáp.

“Hỏi: Nếu có người chí cầu Phật đạo
thì phải tu pháp gì thật là tỉnh yếu (đơn giản và thiết yếu).


Ðáp: Chỉ ‘quán tâm’. Ðó là một pháp tổng
nhiếp hết các pháp cho nên rất là tỉnh yếu.

Hỏi: Sao nói một pháp hay nhiếp tất cả các pháp ?

Ðáp: Tâm là cội nguồn của muôn pháp. Tất cả các pháp
chỉ do tâm mà sinh ra.

Người hỏi vẫn thắc mắc là tại sao chỉ
‘quán tâm’ là đủ, nên sau đó nêu ra những câu hỏi như: “Sáu đường,
ba cõi rộng lớn bao la, nếu chỉ quán tâm thì sao thoát được những khổ
đau không cùng tận?” – “Như lời Phật dạy: ‘Ta đã trải qua ba đại a tăng
kỳ kiếp, chịu vô số khổ nhọc mới thành được Phật đạo’, sao nay nói chỉ
quán tâm thì chế được ba độc là giải thoát?” – “Các đại Bồ tát nhờ giữ
ba giới tu tịnh, thực hành lục độ, mới thành Phật đạo. Sao nay nói người
học chỉ cần quán tâm, chẳng tu giới hạnh thì thành Phật thế nào được? ”
– “Như lời kinh nói, ‘dốc lòng niệm Phật chắc được vãng sanh qua cõi
Tịnh độ Phương tây, chỉ cần theo một cửa ấy tức được thành Phật’, sao
còn nói quán tâm để cầu giải thoát là gì? “
. Ðó cũng là những thắc
mắc mà những người không hiểu Thiền tông thường đặt ra vì thấy pháp tu
này khác với những pháp tu của các tông khác trong đạo Phật.

Mỗi câu hỏi đều được Tổ giải đáp rõ
ràng nên cũng giúp cho những người tu Thiền hiểu hơn. Tổ nói rõ , nếu
muốn đạt tới cứu cánh thì phải thấy được tâm là Phật, và muốn thấy được
tâm thì cần phải bỏ những chấp về tướng. Tất cả những câu hỏi trên cho
thấy đều vì chấp tướng, hướng ngoại, quên tâm nên không thể thấy được
tâm. Tổ không nói những pháp tu theo chấp tướng là sai, nhưng Tổ thấy rõ
những pháp tu đó chỉ là phương tiện thôi.

(3) Nhị chủng nhập:
Phần này chỉ pháp tu hành một cách cụ thể:

“Phàm vào đạo có nhiều đường, nhưng
nói cho cùng thì không ngoài hai đường là: lý nhập hay hạnh nhập.”

“Lý nhập là mượn ‘giáo’ để ngộ
‘tông’, tin sâu rằng tất cả sinh linh đều chung đồng một chân tánh, chỉ
vì khách trần bên ngoài và vọng tưởng bên trong che lấp nên chân tánh
không hiển lộ được.”

“Hạnh nhập là nói về bốn hạnh,
ngoài ra các hạnh khác đều bao gồm trong ấy. Bốn hạnh là: (a) báo oán
hạnh, (b) tùy duyên hạnh, (c) vô sở cầu hạnh và (d) xứng pháp hạnh”.

Báo oán hạnh là khi gặp cảnh
khổ thì hiểu là vì trước có gây ra nghiệp dữ nên nay nhẫn nhục chịu. Tùy
duyên hạnh
là hiểu nay được quả báo tốt cũng là do nhân lành thủa
trước, mọi khổ vui đều do nhân duyên sanh, nhưng tâm người không vì vậy
mà được thêm hoặc bớt mất gì. Vô sở cầu hạnh là hiểu muôn vật
đều là không, nên không cầu mong gì mới thực là đạo hạnh. Xứng pháp
hạnh
là bậc trí tin hiểu “pháp” chính là cái lý thanh tịnh của tự
tánh, tức cái thể tánh thanh tịnh của mình, nên vẫn tùy xứng theo pháp
mà hành nhưng không có chấp.

(4) An tâm pháp: Sau
đây là vài đoạn trích:

“Khi mê, người đuổi theo pháp. Lúc
tỉnh, pháp đuổi theo người.”

“Tự trên ‘sự’ vươn lên mà tỏ suốt,
đó là hàng khí lực mạnh. Theo chữ nghĩa mà thông rõ , đó là người khí
lực kém.”

“Hỏi: Các pháp đã là không thì dựa
vào gì mà tu đạo? – Ðáp: Nếu có dựa vào gì thì cần tu đạo. Nếu không có
gì để dựa, tức chẳng cần tu đạo.”

“Chẳng thấy gì hết, gọi là thấy
đạo. Chẳng làm gì hết, gọi là hành đạo.”

(5) Ngộ tánh luận:
Phần này chỉ về điểm quan trọng trong khi tu hành là phân biệt được giữa
mê và ngộ, và tu hành sao để ngộ. Cũng nên lưu ý là có ý kiến cho rằng
phần này nói về làm sao ngộ được bản tánh của chính mình.

“Phàm đem tâm cầu pháp, ấy là mê.
Chẳng đem tâm cầu pháp, ấy là ngộ.”

“Khi mê thì có bờ bên này, khi ngộ
thì không bờ bên này. Tại sao vậy? Vì kẻ phàm phu mỗi mỗi đều có xu
hướng trụ ở bên này. Vì giác được phép tối thượng thừa thì tâm chẳng trụ
bên này cũng chẳng trụ bên kia, nên lìa được cả hai bờ bên này và bên
kia vậy.”

“Phàm mê là mê ở ngộ. Còn ngộ là
ngộ nơi mê. Không có mê ngộ mới gọi là chánh giác, chánh kiến.”

“Khi mê thì sáu thức, năm ấm đều là
pháp phiền não, sanh tử. Khi ngộ thì sáu thức, năm ấm đều là pháp niết
bàn, không sanh tử.”

“Khi mê thì có Phật, có pháp. Khi
ngộ rồi thì không Phật, không pháp. Tại sao vậy? Vì ngộ tức là Phật
pháp.”

(6) Huyết mạch luận:
Phần này chỉ rõ nếu không thấy tánh thì việc tu hành sẽ không thể đưa
đến chỗ đạt đạo được.

“Nếu muốn tìm Phật hãy cần thấy
tánh. Tánh tức là Phật. Nếu chẳng thấy tánh thì chay lạt, giữ giới đều
vô ích cả.”

” Nếu không thấy tánh thì dầu giỏi
nói mười hai bộ kinh, vẫn là ma nói.”

“Chúng sanh điên đảo không biết tự
tâm là Phật, cứ hướng ngoài mà gìn giữ, cầu cạnh, suốt ngày lăng xăng
niệm Phật, lạy Phật.”

(Trích: “Sáu cửa vào động Thiếu Thất”)

Tóm lược

Tổ đã đến Trung Hoa trong lúc mà đạo
Phật đã được truyền bá từ lâu nhưng không thể phát triển mạnh vì Trung
Hoa vốn có một nền văn hóa cao và khác biệt với tinh thần tu hành theo
Ấn Ðộ. Các nhà trí thức thời đó vốn thấm nhuần tinh thần Lão- Khổng nên
không thích hợp với tinh thần có tính cách huyền bí, thần bí, biểu
trưng, nhiều nghĩa bóng của kinh điển. Họ thành tâm theo đạo Phật nhưng
muốn tìm hiểu thẳng ý chỉ của kinh điển. Vì vậy như khi Tổ giảng câu “Bất
lập văn tự, Giáo ngoại biệt truyền”
thì họ có thể hiểu được liền
vì đạo Lão cũng có nói “Ðạo mà nói ra được thì không phải là đạo”. Từ
khi Thiền tông du nhập Trung Hoa thì gặp điều kiện thuận lợi nên ngày
càng phát triển mạnh.

Câu chuyện Tổ gặp vua Lương Võ Ðế ngay
khi mới tới Trung Hoa đã điển hình chứng tỏ sự khác biệt giữa Thiền tông
và cách tu hành thời đó:

“Vua Võ Ðế hỏi: ‘Trẫm từ lên ngôi
đến nay thường cất chùa, chép kinh, độ Tăng Ni không biết bao nhiêu, vậy
có công đức gì chăng?’ -Ngài đáp: ‘Ðều không có công đức’, -‘Tại sao
không có công đức?’, -‘Bởi vì những việc ấy là nhân hữu lậu, chỉ có quả
báo nhỏ ở cõi người, cõi trời, như bóng theo hình, tuy có mà chẳng phải
thật.’, -‘Thế nào là công đức chân thật?’, – ‘Trí thanh tịnh tròn mầu,
thể tự không-lặng, công đức như thế chẳng thể do thế gian mà cầu.'”

(Trích: Tổ Thiền Tông)

Pháp tu của số đông theo đạo Phật thời
đó còn nặng về hình thức, chấp tướng nên Tổ đã chỉ thẳng chỗ thiếu sót
đó cùng cho thấy phải cần thấy tâm thì mới là công đức chân thật.

Tổ đã chỉ ra một phương pháp tu khác
hẳn các tông phái khác trong đạo Phật, nhưng mục đích của Thiền tông vẫn
theo đúng mục đích của đạo, chỉ đặc biệt là nhằm thẳng vào yếu chỉ của
đạo. Thiền tông đòi hỏi người tu phải tự lực, biết lìa mọi hình tướng,
trong đó có ngôn ngữ, văn tự, kể cả kinh điển, để “thấy” được “tánh”. Tổ
xác định: “Dầu có giỏi nói được ngàn kinh, muôn luận mà không thấy
tánh thì vẫn là phàm phu, chẳng phải là pháp Phật.”- “Thấy tánh
tức là Phật.”
Những người có ý kiến quá khích lại cho rằng
như vậy là dẹp bỏ các kinh luận, nhưng không hiểu là khi tu hành thì
phải nương theo kinh, luận để thấy được nghĩa của những lời Phật, Tổ
dạy. Cho đến khi đã tu hành tới mức khá cao rồi mà vẫn còn bám lấy kinh,
luật mà không biết y theo nghĩa thì cũng là sai lầm, giống như người
dùng bè qua sông mà khi tới bến rồi mà vẫn ôm bè không chịu buông. Còn
những người mới rời bờ được một chút mà đã tính buông bè thì chìm lẹ,
cũng như những người chưa tu hành tới đâu mà đã buông kinh, luật thì rồi
chỉ ngơ ngơ ngáo ngáo bị dẫn theo đạo tà, chẳng phải con đường Phật
dạy.

Nhờ công lao tạo lập của Tổ mà Thiền
tông sau gần 1500 năm vẫn còn tồn tại mạnh mẽ tại nhiều nước Á châu, và
đang được Tây phương say mê học hỏi.

Tài liệu trích dẫn :

– Sáu Cửa Vào Ðộng Thiếu Thất do
Trúc Thiên dịch.

– Tổ Thiền Tông, Thiền Sư Thích Thanh Từ.

– The Zen teaching of Bodhidharma, Red Pine

– The Zen teaching of Huang Po, John Blofeld

– Zen Buddhism, D.T. Suzuki

– Essays in Zen Buddhism, First Series, D.T. Suzuki

Tâm Thái (Theo TVHS)

Xem thêm: https://www.phaphay.com/phat-phap/

Nguồn: https://www.niemphat.vn/

Add Comment