TRIẾT LÝ VÀ THỰC TIỄN Của Pháp Môn Tịnh Ðộ

TRIẾT LÝ VÀ THỰC TIỄN Của Pháp Môn Tịnh Ðộ 1


MỤC LỤC

  • Luận niệm Phật. Ðại sư Ðàm Hư

  • Triết lý
    và thực tiễn của pháp môn Tịnh độ.Châu Thế Long

  • Từ pháp
    môn Tịnh Độ nói đến Đại thừa và Tiểu thừa. Trương Tuệ Minh

  • Bảy ngày
    khai thị Phật thất. HT Diệu Liên



LUẬN NIỆM PHẬT

 


Ðại sư Ðàm Hư

 


Phật pháp có nguồn gốc từ Ấn Ðộ, được lưu truyền đến Trung Quốc và các
quốc gia khác trên thế giới. Mục đích của Phật pháp không ngoài việc giúp
chúng sinh giác ngộ tự tâm, xa lìa khổ đau đạt được an lạc. Danh từ “Phật”
có nghĩa là giác, tự giác giác tha, giác hạnh viên mãn. Phật lấy từ bi làm
gốc, từ nghĩa là ban vui, bi nghĩa là cứu khổ.

Sau
khi thành Phật, Ðức Phật thuyết pháp bốn mươi chín năm, về sau những lời
dạy của Ngài được chúng đệ tử kết tập thành tam tạng mười hai bộ kinh. Vì
căn tính chúng sinh bất đồng, trình độ tiếp thu Phật pháp cũng khác nhau,
do đó Phật pháp truyền đến Trung Quốc từ tam tạng mười hai bộ kinh lại
được phân ra thành năm tông lớn: Giáo, Luật, Mật, Thiền và Tịnh. Sự phân
chia này không phải là ý muốn của Phật. Ðứng trên phương diện kinh điển
thì không cái gì gọi là tông, là phái. Nhưng để thích hợp với căn tính
chúng sinh, trong xu hướng tự nhiên, người sau mới thành lập các tông phái
như vậy. Trong các tông phái, Thiền tông lấy giáo ngoại biệt truyền, trực
chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật. Giáo tông dạy môn hạ trước đốn ngộ sau
mới tiệm tu, do tu mà chứng. Ðối với Luật tông thì chuyên trì giới luật,
trước giữ gìn thân, sau đó mới nhiếp tâm, giới có thể là: Ngũ giới, 250
giới, Bồ tát giới, Tam tụ tịnh giới. Do có nghiêm trì Tịnh giới, mà từ
giới sinh định, từ định phát sinh trí tuệ. Mật tông chuyên trì chú, chú
trọng tu Tam Mật tương ưng. Bốn tông này đối với người sơ cơ học đạo khó
thực hành viên mãn. Duy chỉ có Tịnh độ tông là rất đơn giản, chỉ chuyên
trì một câu “Nam Mô A Di Ðà Phật”, niệm đến nhất tâm bất loạn, liền được
Phật A Di Ðà tiếp dẫn vãng sinh Cực Lạc. Không luận là người độn căn hay
lợi căn đều có thể thực hành và được nhiếp thọ.


Pháp môn Tịnh độ lấy việc hành trì duy
nhất là thành tâm niệm Phật. Nếu có
người nào hỏi: “Vì sao phải niệm Phật?”. Trước tiên xin giải thích rõ hai từ “niệm Phật”. Từ “niệm” là
do hai từ “kim” và “tâm” hợp lại mà thành. Từ “Phật” là tiếng Phạn, nói
cho đủ là “Phật Ðà Da” Trung Hoa dịch là giác
ngộ, cũng còn có nghĩa là “hiểu biết”.
Việc niệm
Phật người người có
thể thực hành được. Mục đích của
việc niệm Phật là hiện tại đạt
được nhất tâm bất loạn, giác ngộ và giải thoát. Một niệm của chúng ta đầy
đủ thập pháp giới, nên mới nói: “Mười đời xưa nay không lìa một niệm,
hiện trong mười phương cát bụi, không cách một mảy may”. Nếu chúng ta niệm
Phật thì “Một niệm niệm Phật, một niệm giác ngộ, niệm niệm niệm Phật,
niệm niệm giác ngộ”. “Một niệm niệm Phật, một niệm tỉnh giác, niệm niệm
niệm Phật, niệm niệm tỉnh giác”
. Ai mà không muốn giác ngộ, không muốn
tỉnh giác? Thế nhưng chúng ta, miệng thì nói muốn tỉnh giác, muốn giác
ngộ mà tâm lại hồ đồ. Hồ đồ về cái gì? Ðó là ý có ba nghiệp: Tham, sân,
si. Miệng có bốn: Nói dối, nói lời thêu dệt, nói ác khẩu, nói lời ly
gián. Thân có ba: Sát sinh, trộm cắp, tà dâm. Do thân, khẩu, ý không
trong sạch nên hằng ngày, sáu căn tiếp xúc với sáu trần chỉ phân biệt âm
thanh, hình sắc, lợi dưỡng, hơn thua, thị phi, tốt xấu, để rồi lấy những
thứ đó làm sở tri, sở giác của mình. Niệm Phật là cải đổi, bỏ đi tất cả
những phân biệt hơn thua chấp trước đó, mà khôi phục lại cái bản tri bản
giác. Một khi cái bản tri bản giác được khôi phục hoàn toàn là thành Phật.
Việc thành Phật cũng không phải việc gì ở đâu xa xôi mà chủ yếu dụng công
niệm Phật, niệm được thành phiến thì những cặn bã của chân tâm dần dần bị
phá vỡ, lúc đó Phật tính sẽ hiển bày.


Bản tâm của chúng ta xưa nay vốn thanh
tịnh, bình đẳng giác ngộ, quang minh
rực rỡ, bao trùm khắp pháp giới hư
không. Chỉ vì vô minh vọng
động
mà bị sáu trần dẫn dắt, do đó sự hiểu biết của
chúng ta bị hạn hẹp,
chỉ nhận thức được sắc thân tiểu ngã
không thể nhập tính giác đại ngã vốn có xưa
nay.
Mọi người không ngờ thân thể mà chúng
ta cho là
“cái ta” chỉ là bảy
đại: Ðất, nước, gió, lửa, không,
căn, thức hợp lại mà thành. Nếu
đem phân chia ra từng phần thì thân thể
không tồn tại được. Thí như
: Thịt da là thuộc về phần đất; máu mủ,
mồ hôi, nước mắt… là nước, hơi ấm là
lửa, sự chuyển động
của không khí và hơi thở trong thân thể và bên
ngoài không trung là thuộc về phần không khí; ngoài ra còn có sáu căn là
nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn và ý căn là thuộc căn đại.
Trong mỗi căn lại có mỗi thức, sáu thức thuộc về phần thức đại. Nếu đem
tất cả những phần trên phân ra từng phần, một người không thể nào tồn tại,
vậy cái gì làm “cái ta” đây? Chúng ta xưa nay mê lầm cho bảy đại là ta,
nhưng trên thực tế nó chỉ là một đãy da dơ bẩn, tanh hôi được trang hoàng
bên ngoài bởi một lớp da nên chúng có ta khó nhận thức được.

Thí
dụ chúng ta đang nghe pháp như vậy, tự nhiên có một người nào đó đem một
túi đựng đầy phân tiến lại, chắc chắn mọi người cho đó là dơ dáy và hôi
thối, người thì bịt mũi lại hoặc người thì đem nó mà bỏ, xem nó hết sức
khinh rẻ. Thật ra, chúng ta ai ai cũng có một cái túi đầy dơ dáy như vậy,
nhưng nó không lộ rõ ra bên ngoài như bao phân kia, mà được tiết ra bên
ngoài thông qua chín lỗ, nên nói: “Chín lỗ thường bất tịnh” là vậy. Mọi
người lại nhận lấy cái đãy da dơ bẩn làm cái ta, rồi yêu thương, chăm sóc,
nuôi dưỡng, bảo vệ. Nếu lấy nhãn quan Phật mà nhìn thì chúng ta thật ngu
si biết chừng nào. Do đó, mọi người cần
phải quán
chiếu cái thân mà bấy
lâu nay nhận làm “cái ta”, nó chỉ

vật đầy bất tịnh. Ðứng trên phương diện
định
nghĩa “cái ta” nếu nói thân thể này thật là ta, thì chúng ta
có thể sai khiến nó làm theo ý muốn của mình, khi cần thì dùng, không cần
có thể bỏ đi. Nếu không sai khiến được nó thì “cái ta” là cái gì đây?


Theo tập quán phổ thông, mọi người đều cho thân thể là ta, từ chỗ có ta
lại có người, từ nhiều người hợp lại có chúng sinh, mỗi một chúng sinh đều
ham muốn sống trường thọ, thật ra đó là điều hoàn toàn giả danh giả tướng.
Vì “ta” và “người” là hai tướng đối đãi (tướng đối đãi là ở chỗ do có ta
mà có người, do có người mà có ta). “Chúng sinh” là nhân hư giả (do vay
mượn nhiều nhân duyên mà thành). “Thọ giả” cũng là tướng đối đãi không
thực (Ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả, tướng trạng của chúng vốn biến đổi
không ngừng). Như vậy, nếu ly khai tất cả những tướng hư vọng giả danh ấy
thì có một cái ngã thật phải không? 

Hơn
nữa, nghĩa “cái ta” là phải có chủ thể, mọi người thường cho thân thể là
ta, nhưng nào có sai khiến nó được đâu,
ví như: Lúc đói không ăn
chịu không được, lúc khát không uống
không thể làm gì, ngay cả sinh mạng khi hơi thở đã tắt, không chết cũng
không được, thậm chí mắt thấy sắc đẹp không nhìn cũng không được, gặp hoàn
cảnh ngũ dục sung túc, không thọ nhận cũng không xong. Như vậy, nếu mọi
người không làm chủ được những vấn đề nói trên thì “cái ta” làm gì mà có.
Tất cả những cái ăn, uống, thọ nhận là thuộc phần sinh mạng, sinh mạng thì
có sinh có diệt, ngoài sinh mạng ra, mỗi chúng ta đều có một tuệ mạng, tuệ
mạng thì không sinh cũng không diệt. Như vậy tuệ mạng là cái gì mà không
sinh không diệt? Ðó là tri giác tính. Tri giác tính tuy là vô hình vô
tướng nhưng lại bao trùm khắp hư không pháp giới, không nơi nào là không
có. Cái được gọi là: “Không trung sinh đại giác, như bọt nước đại dương”.
Niệm Phật chính là nuôi dưỡng tuệ mạng pháp thân của chính mình,
nhờ vào tha lực và tự lực, cầu sinh thế
giới Cực
Lạc, khai mở Phật tri
kiến, phục hồi lại bản giác tự
thân.
Chư Tổ như: Thiên Thai Trí Giả Ðại sư, Vĩnh Minh Ðại sư, Long Thọ
Thiền sư, Ngẫu Ích Ðại sư, Triệt Ngộ Thiền sư… các ngài đều quy hướng
Tịnh độ, chuyên môn niệm Phật. Vì tu các tông khác thường thường căn khí
không thích hợp, hoặc khi tu gặp các cảnh tướng mà không người hướng dẫn
sẽ gặp nguy hiểm, mang bệnh vào thân. Người niệm Phật chỉ cần tín,
hạnh, nguyện
đầy đủ, niệm chắc chắn thiết thực, đã có sự trợ giúp của
tha lực, lại có sự tu hành của tự lực, thì tuyệt không bao giờ gặp sai
lầm. Cho nên nói pháp môn niệm Phật là pháp môn tối thắng mau thành Phật
là vậy. Tu các pháp môn khác hoàn toàn
dựa vào tự lực, phải đoạn trừ
hết tham sân si, các lậu hoặc mới
trực chứng. Nói thì dễ dàng như vậy, thực tế việc đoạn trừ tham sân si nào
có dễ, vì nó đã được huân tập từ nhiều kiếp. Tu pháp môn Tịnh độ có một
điểm đặc biệt là đới nghiệp vãng sinh. Sau khi được vãng sinh về
thế giới Cực Lạc, nhờ vào năng lực không thể nghĩ bàn của Phật A Di Ðà,
Ðại Thế Chí Bồ tát và Quán Thế Âm Bồ
tát, cùng chư Thánh chúng, được họ
dẫn dắt huân tu, trong tương lai
dần dần nghiệp dứt tình không. Từ nơi Phàm Thánh Ðồng Cư Ðộ, rồi tu tiến
đến Phương Tiện Hữu Dư Ðộ, kế tiếp tiến lên Thật Báo Trang Nghiêm Ðộ, cuối
cùng đạt được chân thân của Phật. Ðó là giai đoạn tiến tu của người có căn
cơ hạ liệt. Ðối với người có căn tính Ðại thừa, dù sinh đến bất kỳ quốc độ
nào trong bốn quốc độ trên đều có thể thấy các quốc độ còn lại.


Niệm Phật cầu vãng sinh là pháp môn tối
thắng, được vãng sinh đến thế giới Cực
Lạc thì không còn tái sinh đọa lạc,
hoàn toàn không còn
tạo nghiệp,
tự mình gia công tiến tu cho đến ngày
thành
Phật độ chúng sinh. Tu hành các pháp
môn khác
cố nhiên cũng tốt. Nhưng công phu tu không đạt đến cứu
cánh tất sẽ bị đọa lạc. Như thuở quá
khứ có ba
vị Bồ tát Thế Thân, Vô Trước, Sư Tử Giác cùng tu tập Duy
thức quán, ba vị phát nguyện sinh nội
viện
Ðâu Suất thấy Bồ tát Di Lặc. Các vị cam kết với
nhau rằng, nếu ai sinh về đó trước thì quay trở lại báo cho những
người khác biết. Ðầu tiên, Sư Tử Giác viên tịch, trải qua ba năm không
thấy trở lại báo, ba năm sau Thế Thân lại viên tịch. Lúc Thế Thân sắp lâm
chung, Vô Trước bảo với Thế Thân rằng:
“Sau khi ông đến cõi trời Ðâu Suất dù bất kỳ
lý do gì ông cũng phải
trở lại đây báo cho tôi biết”. Thế Thân qua đời, đúng ba năm sau ngài quay trở lại. Vô Trước hỏi
Thế Thân: “Vì lý do gì mà ông trở lại
đây muộn thế?”. Thế Thân đáp: “Tôi đến
nội
viện Ðâu Suất chắp tay đảnh lễ tam bái, nhiễu quanh Bồ tát Di Lặc
một vòng là quay trở lại liền”. Vô Trước lại hỏi: “Hiện nay Sư Tử Giác
đang ở đâu? Vì sao không thấy trở lại?”. Thế Thân đáp: “Ông ấy sinh vào
cõi trời ngoại viện Ðâu Suất, không có trong nội viện. Do sinh vào cõi
trời ngoại viện đang bị ngũ dục trói buộc nên không thấy Bồ tát Di Lặc,
chính vì lý do đó mà không thể trở lại đây được”. Vô Trước sau khi nghe
nói sinh thiên rất nguy hiểm, nên phát nguyện không sinh thiên mà phát
nguyện sinh Tịnh độ (theo Tịnh Ðộ Thập Nghi Luận của Ðại sư Trí Giả).
Thiết nghĩ, ngài Sư Tử Giác là một vị Bồ tát Ðại thừa, sinh thiên còn bị
ngũ dục dẫn dắt, hà huống gì là phàm phu chúng ta, qua đó cho thấy rằng
sinh thiên là điều nguy hiểm vô cùng! Ðối với người tu thiền định, nếu
công phu chưa đạt đến trình độ siêu xuất tam giới, không luận sinh lên một
cõi trời nào, sau khi hưởng hết phước sẽ bị đọa lạc, rồi tùy theo nghiệp
mà thọ báo. Lời này đã được Phật nói cho A Nan trong Kinh Lăng Nghiêm.
Ðúng là tu Tịnh độ không có nguy hiểm. Nên nói: “Nhiều người tu đến phi
phi tưởng, không bằng quy hướng Tây phương”. Ý nói sinh đến tứ không của
phi phi tưởng, khi tuổi thọ tận, phước hết đều bị đọa lạc, không bằng sinh
về cõi Cực Lạc, dù có sinh nơi hạ hạ phẩm cũng có thể dần dần chứng đến
thượng phẩm, so với việc sinh về cõi trời phi phi tưởng tốt hơn nhiều.


Trong thời khóa niệm Phật, mỗi ngày chúng ta nên đọc Kinh Di Ðà, thường
nên đọc vào công phu chiều. Ðọc một lần, là một lần bạn đã huân tập cảnh
giới thanh tịnh trang nghiêm vào trong tàng thức. Giống như bạn xem phim,
một lần xem là một lần những hình ảnh trong phim đã huân tập vào tàng thức
của bạn. Cũng vậy bạn đọc Kinh Di Ðà lâu ngày, cảnh giới thù thắng trang
nghiêm của cõi Cực Lạc sẽ dần dần huân tập vào trong tàng thức của bạn.
Tuy hiện tại bạn chưa sinh Cực Lạc mà trong tâm đã được bao vây bởi cảnh
giới Tây phương. Trong tương lai, đến giây phút lâm chung của bạn, ngoài
công đức trì niệm danh hiệu Phật
hằng ngày bạn huân tập, sẽ được Phật và
Thánh chúng hiện ra tiếp
dẫn. Lại còn những cảnh giới trang
nghiêm thanh tịnh mà hằng ngày bạn đọc

Kinh A Di đã được huân tập, cũng từ
trong tâm
thức hiện ra trợ giúp
cho bạn vãng sinh nhanh chóng

hơn.


Ðiều được gọi là: “Tự tính Di Ðà duy tâm Tịnh độ”. Chúng sinh
chính là
Phật, Phật cũng là chúng sinh. Phật và chúng sinh, Phật tính vốn
bình đẳng
như nhau. Tâm tức là độ, độ tức là tâm, tất cả đều do tâm sở hiện.
Vậy
người niệm Phật nên có công phu như thế nào? Nếu tín, hạnh, nguyện
kiên
cố không thay đổi, tự tính và Phật tức là một, tự tính tức là
Phật, Phật
tức là tự tính. Phật vốn đầy đủ vô lượng thọ, chúng sinh cũng vốn
đầy đủ
vô lượng thọ, Phật vốn đầy đủ vô lượng quang, chúng sinh cũng vốn
đầy đủ
vô lượng quang. Phật A Di Ðà có thế giới Cực Lạc, y báo, chính
báo, tướng
hảo trang nghiêm; chúng sinh cũng có nhị báo, tướng hảo trang
nghiêm.
Trong Kinh Di Ðà có nói: “Tất cả đều do Phật A Di Ðà, muốn cho
pháp âm
chan hòa khắp nơi, mà biến hóa ra như vậy”. Từ câu kinh này có thể
chứng
minh rằng các cảnh giới của thế giới Cực Lạc đều tùy theo nghiệp
tướng
phước đức của Phật A Di Ðà, duy tâm mà sở hiện. Trong khi đó Phật
tính của
chúng sinh vốn đầy đủ như Phật, mà chúng sinh lại không thể hiển
hiện được những cảnh giới như Ðức Phật Di Ðà hay sao? Cho nên nói tự
tính Di Ðà, duy tâm tức Tịnh độ là vậy. Tự tính không nằm ngoài
Phật và
chúng sinh, Tịnh độ cũng không ngoài tâm mà có. Tây phương Di Ðà
và tự
tính Di Ðà, Tây phương Tịnh độ và duy tâm Tịnh độ đều là một. Cần
phải
hiểu đúng chữ “duy tâm”, duy tâm nói đây không phải là tâm điên
đảo vọng tưởng duyên theo sáu trần
hằng ngày, mà gọi “pháp pháp duy tâm”. Nói duy tâm là để hiển bày
tự tính vốn bao trùm chu biến khắp pháp giới hư không, để thấy
thân tứ đại
chỉ là giả hợp. Từ đó người niệm Phật mỗi ngày khi đọc tụng Kinh
Di Ðà cần
hiểu rõ như vậy, để lòng tin phát khởi
kiên cố. Kinh Di Ðà là kinh vô vấn tự thuyết. Trong kinh miêu tả
về y báo,
chính báo trang nghiêm
của cõi Cực Lạc và pháp môn niệm Phật sinh Tây phương. Ý nghĩa của
Kinh
Pháp Hoa và Kinh Di Ðà giống nhau. Vì Kinh Pháp Hoa Phật cũng nói
cho Tôn
giả Xá Lợi Phất, cũng không ai hỏi mà tự nói. Sau khi Phật nói
Kinh Vô
Lượng Nghĩa xong, Ngài ngồi xếp bằng nhập vào chánh định Vô Lượng
Nghĩa Xứ
Tam Muội, thân và tâm của Phật đều không lay động, từ nơi lông
trắng giữa
chặng mày phóng ra một luồng hào quang, chiếu khắp cả một muôn
nghìn cõi ở
phương Ðông, hiện ra vô số tướng trang nghiêm, khiến cho hàng đại
chúng vô
cùng nghi nan. Sau khi đại chúng được Bồ tát Văn Thù và Bồ tát Di
Lặc giải
quyết các nghi ngờ, lúc bấy giờ, Ðức Thế Tôn từ chánh định an lành
mà dậy,
không có người nào thưa hỏi mà bảo với ngài Xá Lợi Phất rằng: “Trí
tuệ
của Phật rất sâu vô lượng, môn trí huệ đó khó hiểu khó vào, tất cả
hàng
Thanh Văn cùng Bích Chi Phật đều khó biết được… thành tựu pháp
vị tằng
hữu thậm thâm… Tóm yếu mà nói, vô lượng vô biên pháp vị tằng
hữu, Ðức
Phật thảy đều thành tựu”. Tôi thường nói: “Kinh Pháp Hoa là nói
rộng Kinh
Di Ðà, Kinh Di Ðà lược nói Kinh Pháp Hoa”. Hai bộ kinh này đều lần
lượt đi
từ sự đến lý, không như các kinh khác nói rất nhiều danh từ pháp
tướng dẫn
dắt người tu ngộ lý rồi tu sự, hoàn toàn nói đến cảnh hiện lượng
và tâm
hiện lượng. Nếu mọi người để tâm nghiên cứu, so sánh hai bộ kinh
này chắc
chắn sẽ thấy rõ hơn.


Kinh Pháp Hoa gồm 7 quyển 28 phẩm. 14 phẩm đầu là khai quyền hiển thật, 14
phẩm sau là khai mở việc gần để nói việc sâu xa, tất cả đều nói pháp tối
thượng thừa. Ví như trong Kinh Di Ðà có nói: “Nếu có người thiện nam tín
nữ nào, được nghe danh hiệu A Di Ðà Phật, rồi niệm danh hiệu đó, trong một
ngày, hay hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày, hay là bảy
ngày, được nhất tâm bất loạn. Thế là người ấy vào phút lâm chung, Phật A
Di Ðà cùng chư Thánh chúng hiện ra
trước mặt, người ấy lúc chết tâm không điên đảo, tức được vãng sinh
về nơi Cực Lạc”. Trong Kinh Pháp Hoa phẩm “Dược Vương Dược Thượng Bồ tát
bổn sự” quyển thứ 6 có nói: “Nếu có người nghe kinh này, đúng như lời mà
tu hành, đến lúc mạng chung liền qua cõi An Lạc, chỗ trụ xứ của Phật A Di
Ðà, cùng chúng đại Bồ tát vây quanh, mà sinh trong tòa báu hoa sen”. Hai
đoạn kinh nói trên ý nghĩa hoàn toàn giống nhau. Kinh Di Ðà nói về sự
trang nghiêm thanh tịnh, thọ mạng, quang minh và sự hộ niệm của sáu phương
chư Phật… Tuy Kinh Pháp Hoa dùng văn tự để nói rộng có khác, thế nhưng
về mặt cảnh giới và ý nghĩa hoàn toàn giống Kinh Di Ðà. Vì vậy một câu “A
Di Ðà Phật” là pháp tối thượng thừa, bao quát vô lượng pháp môn.


Một câu “A Di Ðà Phật”, niệm được tương ưng, lập tức lục căn được thanh
tịnh. Ví dụ, quý vị hiện tại đang niệm Phật, mắt thường thấy Phật đó là
nhãn căn thanh tịnh, tai nghe âm thanh niệm Phật của mình và đại chúng, là
nhĩ căn thanh tịnh, mũi ngửi hương trầm, là tỷ căn thanh tịnh, lưỡi đang
co giãn phát ra danh hiệu Phật, là thiệt căn thanh tịnh, thân thể đang ở
trong đạo tràng thanh tịnh, ngày ngày hướng Phật lễ bái đó là thân căn
thanh tịnh, niệm Phật lạy Phật, tâm nhớ Phật là ý căn thanh tịnh. Lục căn
thanh tịnh thì ba nghiệp thanh tịnh, ba nghiệp thanh tịnh thì thân không
trộm cắp, sát sinh, tà dâm; miệng không nói hai lưỡi, ác khẩu, nói dối,
nói lời thêu dệt; ý không tham, sân, si đó là tu thập thiện. Người tu hành
không dễ gì mà đối trị được tam nghiệp, chỉ có niệm bốn chữ “A Di Ðà Phật”
mới có thể thu nhiếp, làm chủ được nghiệp, dần dần lâu ngày, niệm Phật
thành phiến, tịnh nhân tăng trưởng, đến lúc lâm chung nhất định được vãng
sinh Cực Lạc.


Phật và chúng sinh đều có chung quan niệm công phu mà thành. Phật một niệm
đầy đủ thập pháp giới, chúng sinh một niệm cũng đầy đủ thập pháp giới. Nếu
tâm khởi một niệm tham đó là Ngạ quỷ, tâm khởi một niệm sân là Ðịa ngục,
tâm khởi một niệm si là Súc sinh, khởi một niệm mạn nghi là A tu la; một
niệm vui ở ngũ thường, ngũ giới chuyển vào cõi Người, một niệm vui ở
thượng phẩm thập thiện, thì sinh vào cõi Trời, nếu lấy Tứ Ðế làm quán niệm
đó là Thanh văn, lấy Mười Hai Nhân Duyên làm quán niệm, đó là Duyên giác,
lấy Lục Ðộ làm quán niệm là Bồ tát, lấy tự lợi lợi tha, vạn hạnh bình đẳng
làm quán niệm đó là Phật. Lại như trong nhân gian có các quan niệm: Sĩ,
Nông, Công, Thương, Quân, Chính, Cảnh, Học sinh, đều là do quan niệm từ
ban đầu mà hình thành. Vậy quan niệm là cái gì? Ðó là do nhận thức của
mọi người. Người niệm Phật cũng giống như vậy, mỗi ngày mắt thấy Phật,
miệng niệm Phật, thân lễ lạy Phật, tâm nhớ Phật, tai nghe danh hiệu Phật,
từng giây từng phút lấy việc vãng sinh Tịnh độ làm quan niệm, cứ như thế
cho đến ngày thọ mạng hết, nhất định vãng sinh Tịnh độ và quyết định thành
Phật. Như tôi đã nói ở trên, Phật giáo Trung Quốc, để thích hợp với xu thế
tự nhiên, người sau mới phân chia thành một số tông phái như: Thiên Thai
tông, Hiền Thủ tông, Pháp Tướng tông (cũng gọi Từ Tư tông hoặc Duy Thức
tông), Tịnh Ðộ tông, Chân Ngôn tông, Thiền Tông, Luật tông v.v… đều do
quan hệ truyền bá và học tập chuyên môn, mới thành lập ra như vậy. Trong
các tông phái trên, chỉ có Tịnh Ðộ tông và Luật tông, việc hành trì cũng
như giáo nghĩa thâm nhập vào các tông phái khác, được các tông phái kiêm
tu, đồng thời cũng được bảy chúng đệ tử Phật tu tập. Thí dụ như: Thiên
Thai tông, Hiền Thủ tông, Tam Luận tông, Pháp Tướng tông… Phán giáo và
tu quán hoàn toàn khác nhau. Nhưng tóm lại mà nói, tất cả họ đều lấy pháp
môn Tịnh độ làm phương tiện cứu cánh, đều lấy việc niệm Phật để thành
Phật. Như Thiền tông trong tham thoại đầu cũng lấy câu “Người niệm Phật là
ai?” để tu tập. Chẳng những vậy, bạn thấy không luận là một người xuất
gia hay tại gia, cũng không luận là người học Phật vì động cơ như thế nào,
song mục đích duy nhất của người học Phật, không ngoài việc niệm Phật
thành Phật, đồng thời trong quá trình học Phật đó cần phải giữ gìn giới
luật thanh tịnh. Thí dụ như: Không luận Bắc tông, Nam tông hay một tông
phái nào, hiện nay tại Trung Quốc, mỗi lúc mọi người lên chánh điện lạy
Phật hay nhiễu quanh Phật đều niệm “Nam mô A Di Ðà Phật”. Lúc nói chuyện
hay trả lời người khác mọi người đều niệm “Nam mô A Di Ðà Phật”. Tuy
nhiên, mục đích tối hậu là không ngoài việc vãng sinh Tịnh độ thấy Phật
thành Phật. Ðiều đó cho thấy rằng pháp môn niệm Phật rất phương tiện lại
còn phổ biến. Giới luật cũng không kém quan trọng, Phật pháp có hưng thịnh
hay không, cũng từ chỗ đệ tử của Phật có giữ gìn giới luật thanh tịnh hay
không. Mọi người có giữ gìn giới luật thì Phật pháp trụ thế, ngược lại thì
Phật pháp sẽ diệt vong.


Thời Phật còn tại thế, xứ xứ mọi người đều lấy Phật làm thầy. Sau khi Phật
diệt độ, tất cả mọi người đều lấy giới luật làm thầy. Vào giờ phút Phật
nhập diệt, bốn chúng đệ tử đều thỉnh Phật trụ thế, vây quanh mà khóc lóc
thảm thiết. Lúc bấy giờ, tôn giả Vô Bần, lòng đầy bi thương suy nghĩ:
“Lúc Phật còn tại thế, mọi người lấy Phật làm y chỉ. Nay Phật nhập diệt
rồi, muốn cho Phật pháp cửu trụ thế gian phải làm gì? Cần phải thưa hỏi
Phật cho rõ”. Lúc đó, tôn giả A Nan cũng đang khóc lóc thảm thương. A Nan
là thị giả Phật, đồng thời mỗi khi Phật thuyết pháp A Nan đều có mặt bên
Phật. Do đó mà tôn giả Vô Bần nhờ A Nan hỏi Phật bốn việc. Trong đó có hai
điều: Thứ nhất, lúc Phật còn tại thế mọi người an trú vào Phật, nay Phật
diệt độ nên an trú vào đâu? Thứ hai, lúc Phật còn tại thế mọi người lấy
Phật làm thầy, khi Phật diệt độ rồi, lấy ai làm thầy? Phật dạy: “Sau khi
ta diệt độ các thầy nên an trú vào tứ niệm xứ, lấy giới luật làm thầy”.
Lời di giáo sau cùng đó cho chúng ta thấy giới luật thật quan trọng biết
chừng nào.


Phàm là người đệ tử Phật, cần phải giữ gìn giới luật Phật dạy. Tuy nhiên,
không giữ được trọn vẹn, cũng phải giữ
những giới quan trọng. Vì giữ
bao
nhiêu giới thì có lợi ích bấy nhiêu,
nếu giữ được
trọn thì sẽ có định
lực rất lớn. Các đại tòng lâm Nam

tông cũng như Bắc tông đều có quy củ và
gia phong.
Quy củ và gia phong đó chính là mọi người đồng tu cùng
giữ gìn giới luật. Thử hỏi một tự viện, một am thất, một tịnh xá, một niệm
Phật đường mà không giữ gìn giới luật
thì Phật pháp sẽ ra sao
? Ðó là những
nơi mọi người thường vãng lai, ứng nhân
tiếp vật,
do đó cần phải có giới
luật. Ðiều đó cho thấy rằng
niệm
Phật và trì giới quan trọng như nhau. Hiện tại,
Luật
tông có Luật sư Hoằng Nhất tuy là người
chuyên hoằng truyền giới luật, thế
nhưng lại cũng
chuyên niệm Phật
và khuyên người khác niệm
Phật.
Ngoài Luật sư Hoằng Nhất ra còn có lão Pháp sư Ðế
Nhàn, lão Hòa thượng Hư Vân v.v…
không người
nào là không chú
trọng niệm Phật. Cho nên cổ đức có nói
: “Giáo diễn bổn tông, tu
hành Tịnh độ” là vậy.


Thông thường, đệ tử Phật có bảy chúng. Một là Tỳ kheo tăng, là người nam
xuất gia thọ cụ túc giới. Hai là Tỳ kheo ni, là người nữ xuất gia thọ cụ
túc giới. Ba là Thức xoa ma na được giải thích là người nữ học pháp, tức
là Sa di ni muốn thọ giới cụ túc, từ mười tám đến hai mươi tuổi, học sáu
pháp (không dâm dục, không trộm cắp, không sát sinh, không nói dối, không
uống rượu và không ăn phi thời). Trải qua sự học tập đó mới có thể thọ cụ
túc giới làm Tỳ kheo ni. Bốn là Sa di,
là người nam
hậu xuất gia thọ trì mười giới. Năm là Sa di ni, là
người nữ hậu xuất gia cũng trì giữ mười giới. Sáu là Ưu bà tắc, là người
nam tại gia gần gũi Tam Bảo. Bảy là Ưu bà di, cũng là người nữ tại gia gần
gũi Tam Bảo.


Người tại gia niệm Phật, trước tiên phải quy y Tam Bảo, thọ trì ngũ giới.
Tam Bảo là gì? Là Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo. “Phật” bao gồm Phật Thích
Ca Mâu Ni hiện thân ở cõi Ta Bà, cho đến chư Phật hiện tại, quá khứ và vị
lai. “Pháp” có nghĩa là quy tắc, đó là lời dạy của chư Phật. “Tăng” có
nghĩa là hòa hợp, là những người xuất gia thay Phật hoằng dương chánh
pháp, làm mô phạm cho thế gian. Tam Bảo gồm có Tự Tính Tam Bảo, Biệt Tướng
Tam Bảo và Trụ Trì Tam Bảo. Tự tính Tam Bảo ở mỗi chúng sinh vốn có đầy
đủ, chẳng hướng ngoại mà tìm cầu. Như:
Linh Minh Giác Chiếu là
Phật
bảo, Tịch Thường Viên Tịnh là Pháp bảo,
Cách
Hòa Diệu Lạc là Tăng bảo. Biệt tướng Tam Bảo gồm
những gì? Bao gồm pháp, nhân, quả,
tính, tướng,
thể, dụng. Như diệu
giác và tam thân đều gọi là

Phật, chân như lý thể và tất cả các pháp môn
phương tiện,
đều gọi là Pháp, năm mươi địa vị Thánh
hiền được
gọi là Tăng. Trụ trì
Tam Bảo gồm những gì? Trụ trì
Tam Bảo ở thế gian, chủ yếu là muốn cho Phật pháp
được lưu truyền, đồng thời làm lợi ích
cho tất cả
chúng sinh. Tượng
Phật, xá lợi… đó là Phật bảo, tam

tạng Kinh, Luật, Luận là Pháp bảo, đồ
chúng xuất
gia vì sự nghiệp
hoằng pháp lợi sinh đó là Tăng
bảo.

Mọi
người cần biết, người quy y Tam Bảo, ngoài việc quy y Tam Bảo ra, cần phải
quay về quy y Tam Bảo tự tính vốn có của bản thân. Chữ “Phật” được giải
thích là giác, người người đều có tính giác. Vì vậy quy y Phật, đó là quy
y tính giác của mình. Người người đều có thể tự lực làm hiển lộ tính giác
thù thắng đó. Quy y Pháp là quy y chân như diệu lý vốn có, mọi người đều
có khả năng tiếp tục phát huy chân tính của tự thân. Quy y Tăng là quy y
pháp thân thanh tịnh, tỉnh thức của tâm. Ðã quy y Phật rồi, bạn không nên
quy y bất kỳ một tôn giáo nào khác, vì các tôn giáo đó phần lớn đều ca
ngợi, tôn sùng các vị thần linh, họ không đề cao vai trò và năng lực của
con người, họ cho rằng con người chỉ
vĩnh viễn làm nô lệ cho thần linh, điều
đó hoàn toàn trái ngược với
tinh thần bình đẳng mà Phật thường dạy: “Các pháp vốn bình đẳng, không có cao thấp”. Người người có tính
giác, người người có khả năng niệm Phật thành Phật. Tuy nhiên, theo quan
niệm phổ thông, khi nói đến quy y người
ta thường nghĩ rằng chỉ quy y Thế gian Trụ trì

Tam Bảo. Ðiều đó chẳng qua nhằm dẫn đạo
cho người,
mục đích chính là
hướng dẫn cho bạn quay về
nương tựa tự tính Tam Bảo vốn có của
chính mình. Người niệm Phật cần hiểu biết tường tận, việc thành Phật
không phải người khác thay thế, cũng
chẳng ai
mang đến cho ta mà phải chính ta nỗ lực niệm Phật để tự
tính hiển lộ mới có khả năng thành Phật.


Ngoài quy Tam Bảo, mọi người cần giữ gìn năm giới để làm trợ hạnh cho việc
niệm Phật. Năm giới bao gồm: Không sát sinh, không trộm cắp, không tà
dâm, không nói dối, không uống rượu. Không sát sinh là nhân, không trộm
cắp là nghĩa, không tà dâm là lễ, không nói dối là tín, không uống rượu là
trí. Bạn giữ ngũ giới tức là đã giữ ngũ thường của thế gian. Vì thế gian
thường xem trọng nhân nghĩa. Không tàn nhẫn là đạo nghĩa, không cường bạo
là lễ nhượng, không tà nhu là thật tín, không dối trá là lý trí, là không
ngu si. Người niệm Phật trì năm giới là đã nuôi dưỡng nhân nghĩa, đạo
nghĩa, lễ nhượng, thật tín, lý trí vừa là chánh nhân quân tử lại có thể
làm tư lương cho Tịnh độ.


Ngoài tam quy ngũ giới ra, người niệm Phật còn phải tu tập quán niệm Tứ
niệm xứ
Bát chánh đạo trong ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Tứ
niệm xứ là gì? “Tứ” là bốn, “xứ” là nơi, là chốn, là vị trí, là đối
tượng, là sở tri, là sở quán. Tứ niệm xứ là bốn cái mà người niệm Phật cần
phải nhớ và quán niệm. Thứ nhất, Quán thân bất tịnh. Quán niệm thân
thể này từ gót chân cho đến đỉnh đầu nơi nơi đều bất tịnh. Thân thể là xác
thịt do tinh cha huyết mẹ hợp lại mà
thành. Tất cả những gì
làm nên
và chứa đựng trong thân thể (như thịt, máu,
mủ,
phân, nước tiểu, mồ hôi, nước mắt, lông, móng, da
v.v…) đều dơ bẩn, hôi hám, không có
gì là trong
sạch, tất cả đều bất
tịnh. Thứ hai, Quán thọ là khổ.
Khổ nói tóm có tám loại:
Sinh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ, thương yêu chia ly là khổ, muốn
không được là khổ, thù nhau mà sống chung là khổ, năm ấm bất hòa là khổ.
Còn nói đến những khổ nhỏ thì trong thế gian này có vô lượng vô biên. Bạn
nghĩ xem từ một người, cho đến một gia đình, xã hội nào mà không có những
điều khổ. Do đó người niệm Phật hãy quán niệm rằng, dù cảm thọ có vui có
khổ, nhưng ở thế gian không có niềm vui
chân
thật, còn khổ đau thì đầy dẫy. Nếu có vui cũng là cái vui tạm
bợ và chỉ có cái khổ trá hình, rốt cuộc
cái vui là nguyên nhân của cái khổ. Vì thế, mọi cảm thọ đều là khổ
đau. Thứ ba, Quán tâm vô thường. Người niệm Phật phải quán
chiếu rằng tâm niệm chúng ta luôn thay đổi trong từng sát na sinh diệt,
không có một ý nghĩ nào là bền vững chắc chắn, niệm này qua niệm khác lại
đến, sáu căn tiếp xúc với sáu trần mà sinh ra vọng tưởng điên đảo, không
có một ý nghĩ nào là bền vững, chắc chắn. Thứ tư là Quán pháp vô ngã.
Phải quán niệm vạn pháp trong thế gian đều do nhân duyên hòa hợp mà làm
nên, không vật gì là có bản tính độc lập, là chân thật. Tất cả đều là giả
danh giả tướng không có cái gì là có thực ngã. Ðó là nói lược về tứ niệm
xứ, người niệm Phật phải thường trực tỉnh giác quán niệm như thế, thì tâm
niệm Phật mới được vững vàng.


Bát
chánh đạo

là gì? Bát chánh đạo là tám nguyên tắc hành động chân chính, là một trong
những đạo lý căn bản của đạo Phật. Về mặt nhân bản, đó là nền đạo đức học
thực nghiệm của Phật giáo nhằm rèn luyện con người có được một nhân cách
đẹp đẽ cao thượng, trọn vẹn. Về mặt tôn giáo, đó là con đường đưa đến sự
chấm dứt khổ đau, đạt được an lạc giải thoát, chứng nhập Niết Bàn. Bát
chánh đạo bao gồm: Một là chánh kiến, là thấy biết đúng đắn sự
thật, là cái thấy vạn vật là vô thường, vô ngã, duyên sinh, đúng với bản
chất của chúng, cái thấy không bị phủ che bởi vô minh, thành kiến cố chấp.
Trái với chánh kiến là tà kiến. Chánh kiến là trí tuệ của bậc giác ngộ.
Hai là chánh tư duy, là suy nghĩ chân chính, suy nghĩ đúng với bản
tính của các pháp là vô thường, vô ngã, duyên sinh. Từ suy nghĩ chân chính
sẽ mang đến cho ta tư tưởng chân chính. Nếu tư tưởng xấu xa, sai lầm sẽ
làm cho ta trở nên một con người thấp kém, thô lỗ. Thứ ba là chánh
ngữ
, là lời nói chân chính, nhiều khi chúng ta không nói dối nhưng
vẫn sai với sự thật. Chúng ta thấy biết như thế nào thì nói như vậy. Nhưng
vì cái thấy biết đã sai lạc, lầm lẫn nên dẫn đến chúng ta nói không đúng
sư thật. Lời nói chân chính là lời nói không dối trá, không độc ác, không
đâm thọc, không thêu dệt và siểm nịnh, là lời nói không xuất phát từ lòng
tham dục, ích kỷ, hận thù, giận dữ, ngu dốt, ganh tỵ. Nói năng chân chính
là không nói lời nhằm lừa gạt, nịnh hót, phỉ báng, chửi mắng, vu oan, mà
luôn nói những lời từ ái, hòa nhã, dịu dàng, đem an vui, lợi ích, tin
tưởng cho người. Thứ tư là chánh nghiệp, là hành động chân chính.
Có ba loại hành động (tam nghiệp): Hành động của ý (ý nghiệp), hành động
của miệng (khẩu nghiệp) và hành động của thân (thân nghiệp). Hành động
chân chính là hành động được soi sáng bởi chánh kiến, chánh tư duy, được
thúc đẩy bởi tình thương và hiểu biết, là đi đứng nằm ngồi đều hành động
theo chánh pháp. Thứ năm là chánh mạng, là mưu sinh chân chính, là
nghề nghiệp chân chính. Ví dụ người niệm Phật, đối với xã hội thường làm
các công việc từ thiện. Bác sĩ có công việc chuyên chữa trị bệnh để cứu
lấy sinh mạng cho người bệnh, lại có những người chuyên bán quan tài, giết
trâu mổ lợn đó cũng là nghề nghiệp v.v… Tuy nhiên, trong cuộc sống mưu
sinh, người người đều phải làm việc vì miếng cơm manh áo, thế nhưng công
việc kiếm sống cũng có những nghề nghiệp tốt và nghề nghiệp xấu. Ðã là
người tu học theo lời Phật dạy, bạn không nên chọn những nghề gây đau khổ
cho người khác, hoặc tăng thêm sự bất công cho xã hội, hoặc tàn hại thiên
nhiên và nhẫn tâm giết hại sinh mạng của mọi loài. Bạn nên tìm công việc
lương thiện, trong sạch, để tăng thêm phước đức, không nên có tâm niệm
gian tham, bóc lột sức người, không nên kiếm sống một cách bất lương trên
mồ hôi nước mắt của người khác. Thứ sáu là chánh tinh tấn, là siêng
năng chân chính. Chánh nghiệp và chánh tinh tấn có quan hệ mật thiết với
nhau. Ðứng trên phương diện nghề nghiệp mà nói, cũng là siêng năng, thế
nhưng có nghề thì đưa con người đến cuộc sống thăng hoa giải thoát, có
nghề lại đưa người ta vào con đường đọa lạc, như nghề đồ tể chẳng hạn.
Người niệm Phật tinh tấn không ngừng là nhắm thẳng đến thành Phật, cho nên
chánh tinh tấn và tà tinh tấn khác nhau là như vậy. Chánh tinh tấn được
đặt nền tảng trên tứ chánh cần (những điều ác chưa sinh đừng cho
phát sinh, những điều ác đã sinh thì trừ diệt, những việc thiện chưa sinh
làm cho phát sinh, những điều thiện đã sinh thì làm tăng trưởng). Thứ bảy
chánh niệm, là nhớ nghĩ chân chính, khi làm việc gì thì bạn nên
để hết tâm ý vào công việc ấy. Trong cuộc sống đời thường, hằng ngày bạn
thường tiếp xúc với nhiều người, nếu bạn không có chánh niệm chắc chắn bạn
sẽ gây đau khổ cho mình và người. Người niệm Phật, điều nhớ nghĩ tốt nhất
là nhớ nghĩ đến bản nguyện của Phật A Di Ðà, nhớ một câu “Nam mô A Di Ðà
Phật” là tốt nhất. Thứ tám là chánh định, là thiền định chân chính.
“Ðịnh” là giữ tâm ý an trụ vào một đối tượng duy nhất. Phàm làm việc chân
chính, bạn nên nhất tâm nhất ý mà làm. Việc gì là tốt? Là những việc đem
lại lợi ích cho mình và cho người cả hiện tại và tương lai. Niệm Phật là
việc tốt, do đó bạn nên nhất tâm mà niệm, một khi đã nhập vào niệm Phật
tam muội thì đó là chánh định. Trên đây nói sơ lược về Bát chánh đạo cho
người sơ cơ niệm Phật. Thực ra Bát chánh đạo khi đi vào
nghiên cứu chuyên sâu, chẳng đơn giản
như đã
trình bày, mà còn nhiều khía cạnh thậm thâm vô cùng.


Người niệm Phật ngoài việc nhất tâm niệm Phật, nếu còn lo sợ thân tâm
phóng dật hoặc tín, hạnh, nguyện không kiên cố, có thể lấy Tứ niệm xứ và
Bát chánh đạo để ràng buộc, kiểm điểm thân tâm. Ðối với phương pháp niệm
Phật, cũng nên dựa theo căn tính của chính mình mà lựa chọn. Ngoài các
phương pháp trì danh niệm Phật, quán tưởng niệm Phật, quán tượng niệm
Phật, thật tướng niệm Phật, còn có một phương pháp hết sức phương tiện, là
phương pháp hô hấp niệm Phật. Hít vào bạn niệm “Nam mô A”, thở ra bạn niệm
“Di Ðà Phật”. Chỉ cần người niệm Phật có tâm kiên cố niệm Phật, từng giây
từng phút, trong các oai nghi đi đứng nằm ngồi, không lìa một câu “Nam mô
A Di Ðà Phật”. Ðó là phương pháp rất tiện lợi cho bất kỳ một người nào, dù
bạn là một công nhân đang làm việc trong các xí nghiệp, nhà máy hay là một
công ty kinh doanh v.v… cứ thực hành như vậy, đến giây phút lâm chung,
nghiệp thức cả đời bạn cũng tùy thuộc theo hơi thở niệm Phật cuối cùng đó
mà vãng sinh Cực Lạc, được thấy Phật A Di Ðà.

Ðối
với việc niệm Phật được vãng sinh của người xuất gia, tại gia, nam, nữ,
người già, trẻ thơ, và những tướng lạ trang nghiêm xảy ra vào giờ phút lâm
chung của những người niệm Phật đã có ghi chép trong truyện Vãng Sinh, nếu
nói ra đây thì không sao kể hết.

Từ
ngày tôi xuất gia đến nay, chính tôi đã chứng kiến người niệm Phật được
vãng sinh hơn hai mươi lăm vị, trường hợp vãng sinh được nghe người khác
kể thì rất nhiều. Nhân đây, tôi xin kể ba vị mà tôi đã tận mắt thấy họ
vãng sinh, mong sao qua những câu chuyện đó, có thể giúp được phần nào làm
cho tín tâm niệm Phật của các bạn càng thêm tăng trưởng.

Vị
thứ nhất là một người xuất gia, pháp sư Tu Vô, quê ở Quản Vi. Ngài xuất
thân trong một gia đình làm nghề gạch ngói. Vì gia cảnh gặp khó khăn, làm
công rất gian lao vất vả, do đó mới cảm nhận cuộc đời khổ nhiều vui ít,
mạng người trong hơi thở, tạm bợ như giọt sương đầu ngọn cỏ, như làn điện
chớp trong không trung. Thế mà hằng ngày mọi người lại tranh đấu hơn thua,
giành giựt lẫn nhau để rồi phải đau khổ. Ngài thường tư duy về pháp diệt
khổ, nghe người ta bảo niệm Phật tốt, nên phát tâm niệm Phật. Sau đó xuất
gia, chính thức được học Phật pháp, nhất là pháp môn Tịnh độ, sau khi được
nghe lại càng khẩn thiết niệm Phật, ngài gặp người khác cũng khuyên niệm
Phật.


Năm Dân Quốc thứ 50, tôi ở tại chùa Cực Lạc, Ðông Bắc Cáp Nhĩ Tân, thỉnh
lão Pháp sư Ðế Nhàn truyền giới. Một
ngày nọ, có một vị sư đến tìm tôi và nói cho biết rằng: “Có một vị
sư là Tu Vô từ Quản Vi đến, trong kỳ giới này phát tâm hành khổ hạnh”. Sau
đó đưa vị sư vào gặp tôi, tôi mới hỏi sư có thể làm được gì? Sư đáp: “Tôi phát
nguyện chăm sóc những người bệnh”. Lúc đó, Pháp sư Ðịnh Tây trụ trì chùa Cực Lạc nhận sư vào chùa, cho sư ở một căn phòng
ngoài viện. Chưa đầy mười ngày, sư lại đến tìm tôi nói cần phải đi. Lúc đó
Pháp sư Ðịnh Tây đang ngồi với tôi hỏi sư rằng: “Thầy phát tâm trông coi
những người bệnh, vì sao chưa đầy mười ngày lại đòi đi? Như vậy tâm thầy
không kiên cố rồi!”. Sư Tu Vô đáp: “Tôi không đi xứ nào cả mà tôi về Tây
phương, kính thỉnh sư giám viện mở rộng lòng từ bi, chuẩn bị cho tôi mấy
trăm cân củi, để thiêu sau khi tôi đi vậy”. Pháp sư Ðịnh Tây hỏi lại:
“Vậy khi nào thầy đi?”. Sư Tu Vô đáp: “Trong vòng mười ngày nữa”. Trả
lời xong, sư trở về thất. Ngày thứ hai,
sư lại đến tìm tôi và Pháp sư Ðịnh Tây nói: “Kính thưa Pháp sư
ngày mai tôi đi, thỉnh Pháp sư chuẩn bị cho tôi một căn phòng, và tìm cho
tôi mấy người trợ niệm để đưa tiễn tôi đi”. Sau đó Pháp sư Ðịnh Tây cho
người quét dọn một căn phòng trong nội viện, tìm một số gỗ khô, chất thành
một đống, lại tìm mấy thầy chuyên tu niệm Phật để chuẩn bị trợ niệm. Trước
giờ phút vãng sinh, những người trợ niệm nói với sư rằng: “Sư Tu Vô trước
lúc vãng sinh cũng nên làm mấy câu thơ, câu kệ, để lại cho chúng tôi làm
kỷ niệm chứ!”. Sư đáp lại rằng: “Tôi vốn xuất thân từ nơi khổ cực, sinh
ra đã phải chịu sự ngu dốt, vì vậy thơ kệ đều không biết làm, thế nhưng tôi có một
câu kinh nghiệm, xin đọc cho chư vị nghe, đó là: “Người nói được
mà không hành được, không phải là người chân trí tuệ”. Sau
đó sư ngồi kiết già, mặt hướng về hướng Tây niệm Phật, chưa đầy mười lăm
phút sau thì vãng sinh. Từ lúc sư vãng sinh cho đến chiều, không khí ngoài
trời rất nóng, thế nhưng sắc diện của sư đầy vẻ thanh thoát lạ thường, thi
thể tỏa ra một mùi thơm, cũng không có một con ruồi. Pháp sư Ðế Nhàn cùng
một nhóm Phật tử đến xem khen ngợi trường hợp thật hy hữu. Sau đó, đem thi
thể sư hỏa thiêu hoàn toàn không có một mùi hôi nào. Về sau, cư sĩ Phan
Ðối Phù nghe được, lấy sự việc bình sinh niệm Phật của sư Tu Vô viết thành
một tập sách để làm mô phạm cho người niệm Phật.


Vị thứ hai là cư sĩ Trịnh Tích Tân, người Sơn Ðông, là một thương gia. Vì
xem kinh Phật, biết được niệm Phật là tốt, từ đó phát tâm niệm Phật, bản
thân không lấy vợ. Năm 1922, tại Thanh Ðảo được nghe tôi giảng tam quy và
những lợi ích của việc niệm Phật, sợ mình không chuyên tâm niệm Phật, nên
cư sĩ đem mọi chuyện buôn bán trong gia đình giao cho em trai lo liệu. Từ
đó chuyên tâm vào niệm Phật, về sau ông tập luyện và giảng Kinh Di Ðà. Mỗi
năm có kỳ hội giảng kinh tại Thanh Ðảo, đều có ông chủ trì giảng một hai
ngày, rồi sau đó ông lại đến huyện Bình Ðộ giảng cho bạn bè. Năm 1924, cư
sĩ có mời tôi đến Bình Ðộ giảng một lần. Mùa Xuân năm 1928, cư sĩ lại đến
Bình Ðộ và Thanh Ðảo giảng kinh. Thấm thoát thời gian trôi qua, một hôm có
người từ Bình Ðộ đến nói với tôi: “Lão Pháp sư ông có biết không! Cư sĩ
Trịnh Tích Tân đã quy Tây rồi”, (theo tập tục Giao Ðông người ta gọi người
chết là nhật quy). Nghe người đó nói xong tôi rất ngạc nhiên, mới hỏi:
“Trước đây mười ngày tôi còn gặp ông ta, thấy còn rất mạnh khỏe, vì lý do
gì mà ông ta đi nhanh như vậy? Ông ta có bệnh hoạn gì không? Hay có gặp
tai nạn gì?”. Người ấy lại đáp: “Sau khi ông giảng bộ Kinh Di Ðà xong,
mọi người đều ra về, chỉ còn khoảng năm sáu vị cùng ngồi lại nói chuyện và
dùng cơm trưa, phần lớn những người này là bạn bè thân thiết của ông. Sau
buổi cơm trưa, ông mời tất cả những người bạn vào một căn phòng, rồi nói
ông phải đi. Mấy người bạn mới hỏi: “Ông đi đâu sao lại mời chúng tôi vào
phòng thế?”. Cư sĩ đáp: “Tôi vãng sinh, vì e ngại ra đi tại nhà người
khác sẽ phiền phức, nên mới mời chư vị vào đây vậy”. Các bạn ông lại nói:
“Chúng ta là bạn tri giao đã nhiều năm, chẳng những bạn vãng sinh, mà ngay
cả khi bạn bệnh hoạn mất tại nhà chúng tôi cũng không sao, cần gì phải tìm
một gian phòng khác. Hiện tại, nơi đây có rất nhiều người tin Phật, niệm
Phật. Nếu bạn chắc chắn vãng sinh, cũng nên để chúng tôi mời tất cả những
khác đến xem, để lấy đó làm tấm gương noi theo vậy”. Nói xong, những người
bạn ông vội quét dọn hai căn phòng rồi chọn lấy một. Cư sĩ Trịnh nói đôi
lời tạ từ cùng các bạn, sau đó ngồi xếp bằng, mặt xoay về hướng Tây nói
với những người bạn ông ta: “Xin cáo từ chư vị, tôi vãng sinh đây! Chúng
ta là những người tin Phật niệm Phật, kính thỉnh chư vị hãy niệm Phật để
tiễn tôi một phen”. Những người bạn lại nói: “Nay bạn vãng sinh sao không để lại vài câu kệ cho chúng tôi
làm kỷ niệm?”. Cư sĩ lại đáp: “Không nên để kệ lại, nếu mọi người
đến đây xem thì đó là một bằng chứng rồi, cũng là một kỷ niệm đẹp rồi!”.
Nói xong, mọi người đồng niệm để trợ tiễn ông ta, chưa đầy mười lăm phút
sau ông ta mỉm cười rồi vãng sinh. Do đó mà cả huyện Bình Ðộ ai ai cũng
tin niệm Phật là tốt, đồng thời có nhiều người tin Phật hơn.


Em trai của cư sĩ Trịnh, ban đầu thấy anh xả bỏ sản nghiệp chuyên tâm niệm
Phật thì chưa tin niệm Phật mấy, nghe anh khuyên niệm Phật cũng miễn cưỡng
niệm, nhưng tâm chưa khẩn thiết cho lắm. Thế mà sau khi chứng kiến cảnh
anh trai mình niệm Phật được vãng sinh, biết trước ngày giờ và ra đi trong
thanh thản, từ đó về nhà cũng tin sâu, nguyện thiết niệm Phật. Ba năm sau,
cũng vãng sinh biết trước ngày giờ, chỉ khác anh trai là lúc lâm chung có
ít bệnh.

Vị
thứ ba là nữ cư sĩ họ Trương, sinh được một trai một gái, gia cảnh rất khó
khăn, chồng làm nghề kéo xe ở một bến cảng, còn cô Trương buôn bán trong
chợ Thanh Ðảo. Nhà ở cạnh tịnh xá Trạm Sơn, trong tịnh xá có thành lập hội
Phật học. Mỗi ngày cô đều đến tịnh xá lễ Phật và nghe kinh, do nhân duyên
đó mà quy y Tam Bảo, được nghe Phật pháp, một lòng tin Phật. Bình thường ở
nhà niệm Phật, hằng ngày đều dẫn hai con đến tịnh xá lễ lạy và nghe kinh.
Nghe xong, lại quay về nhà chăm lo gia đình, một bề niệm Phật.


Cuối năm 1926, một sáng nọ, cô Trương gọi
chồng đến nói: “Anh ở lại chăm sóc các
con, ngày

nay tôi phải vãng sinh
Cực Lạc”. Anh chồng nghe
vợ nói như vậy, vì cuộc sống khó khăn, lại
là người ít học tập Phật pháp nên gắt
gỏng bảo với vợ rằng:
“Ði
đi!
Tôi bần cùng chắc không đủ khả năng nuôi bà,
bà muốn đi thì cứ đi!”. Sau khi nói xong không hỏi
lại vợ
một câu, rồi đi làm việc. Cô Trương gọi hai
con
đến gần căn dặn: “Các con ở lại phải
nghe lời cha
dạy
bảo, không được ngỗ nghịch, nay mẹ phải vãng
sinh về thế giới Cực Lạc”. Lúc đó hai
đứa con của

cô ta còn nhỏ, đứa
lớn chưa đầy mười tuổi, đứa bé


khoảng năm hoặc sáu tuổi gì đó. Nghe mẹ chúng
nói những lời như
vậy, cũng không hiểu ý mẹ muốn nói gì, vì vậy rồi cũng chạy đi chơi. Sau
khi chồng và con đều đi cả, cô Trương
vội thu xếp việc nhà gọn

gàng, tắm rửa sạch sẽ, vì nhà nghèo không có áo
quần mới để thay nên cô đành phải mặc
lại áo quần

cũ, lên giường ngồi
xếp bằng, chắp tay niệm Phật
vãng sinh.

Nói
đến hai đứa con của cô ta, sau một hồi đi chơi trong lòng cảm thấy đói nên
quay về nhà ăn cơm. Thấy mẹ đang ngồi trên giường lại chưa nấu cơm, ban
đầu chúng cất tiếng gọi nhưng không thấy mẹ trả lời, sau đó chúng đến gần
lay mạnh vẫn thấy mẹ ngồi yên, hai đứa bé mới biết mẹ chúng đã chết. Chúng
vội khóc than gọi hàng xóm đến, mọi người hay tin đến xem, thấy cô Trương
tuy đã chết từ lâu, thế nhưng sắc diện giống như người còn sống, họ rất ca
ngợi công phu niệm Phật của cô Trương. Sau đó người chồng đi làm về khóc
lóc thảm thương. Vì gia cảnh nghèo khó, không có tiền để liệm, nên các vị
có tấm lòng tốt trong hội Phật học đứng ra chi phí toàn bộ lễ tang.


Việc quan trọng của đời người là niệm Phật để liễu sinh thoát tử. Không
luận là như thế nào, mọi người hãy tự xét hoàn cảnh của chính mình, dù
trong bận rộn hay nhàn nhã, hãy sắp xếp cho mình một thời khóa công phu
niệm Phật nhất định. Chẳng những vậy, ngay cả lúc làm việc có thể trụ tâm
mặc niệm. Bằng ngược lại suốt ngày làm các điều sát sinh, trộm cắp, dâm
dục, nói dối, tạo nhiều nghiệp ác khác thì khó mà tránh đọa lạc tam đồ,
luân hồi trong lục đạo, thọ nhận khổ não vô tận. Trong Kinh Lăng Nghiêm
Phật có nói: “Loài nào cũng thương yêu thân mạng, muốn cho mình được
sống, nên tham ăn những vật bổ dưỡng. Vì thế trong thế gian này, loài mạnh
ăn thịt loài yếu, loài khôn giết hại loài dại. Bốn loài (thai sinh, noãn
sinh, thấp sinh, hóa sinh) ăn nuốt lẫn nhau, gốc tại lòng tham sát”. Chúng
sinh vì tình ái kết chặt, thương tưởng quyến luyến nhau không rời, cho nên
thế gian này, cha mẹ, con cháu tiếp tục sinh ra không cùng tột, gốc chỉ
tại lòng tham dục. Tóm lại, vì ba nghiệp sát, đạo, dâm làm gốc, nên nghiệp
và quả nối nhau không bao giờ cùng tận. Mọi người hãy nghĩ coi tạo nghiệp
sát, đạo, dâm, chịu khổ biết dường nào. Vì thế kính khuyên mọi người niệm
Phật, nên niệm càng nhiều càng tốt. Cổ đức có nói: “Niệm Phật một câu
phước tăng vô lượng, lễ Phật một lễ tội diệt hà sa”. Trên đây, đem những
lợi ích của việc niệm Phật nói sơ lược qua, nếu mọi người muốn rõ hơn hãy
tham khảo các tập sách “Tịnh Ðộ Ngũ Kinh” hoặc “Tịnh Ðộ Thập Yếu” v.v…
Nay nói sơ lược đôi điều như vậy cho người sơ cơ có tín tâm niệm Phật. Hy
vọng rằng quý vị biết được niệm Phật là tốt rồi, hãy nên phát tâm kiên cố
niệm Phật, niệm hết sức thành khẩn, lão thật niệm Phật. Trong tương lai,
chắc chắn chúng ta sẽ gặp nhau trong hội chúng ở Tây phương vậy. 

Nam
mô A Di Ðà Phật 



(Ngày 1/1/ 1950, năm Canh Dần, tại Học Viện Nam Học, Hương Cảng)

 


 


TRIẾT LÝ VÀ THỰC TIỄN CỦA


PHÁP MÔN TỊNH ÐỘ

 


Châu Thế Long


 


A. TRIẾT LÝ



1.- Pháp môn Tịnh độ là pháp môn
duyên khởi,
tức Như Lai tính khởi pháp môn


Như Lai đã chứng quả Phật thanh tịnh, vô minh triệt đoạn, vĩnh viễn xa lìa
sinh tử, chánh nhân Phật tính hiển lộ, tịch quang chân cảnh hiện tiền,
thường an trụ trong Thường Tịch Quang, thọ nhận an lạc thanh tịnh. Tuy
nhiên, vì đại sự nhân duyên lớn mà Phật xuất hiện ở đời, thực hiện hạnh
nguyện hiển đại bi tâm. Phật A Di Ðà lúc còn tu Bồ tát hạnh, pháp danh là
Pháp Tạng Tỳ kheo, đứng trước Phật Thế Tự Tại Vương phát ra bốn mươi tám
lời nguyện cứu độ chúng sinh. Trải qua vô lượng vô biên A tăng kỳ kiếp tu
hành, thành tựu thế giới Tịnh độ, để thực hiện bốn mươi tám lời nguyện, mở
bày nhị thân, lấy danh hiệu A Di Ðà, làm con thuyền Bát nhã, rộng độ mười
phương chúng sinh được sinh về Tịnh độ. Nhân vì Phật với chúng sinh trong
thế giới Ta Bà có nhiều nhân duyên, nên lấy pháp môn Tịnh độ mà dạy cho
người được vãng sinh. Cũng chính vì nhân duyên đó mà Như Lai xuất hiện ở
đời làm việc rộng độ chúng sinh. Cho nên, luận về nguyên lý căn bản, nên
mới có tên gọi là pháp môn tính khởi, hoặc có tên khác là pháp giới duyên
khởi (Như Lai tính tức là chỉ cho pháp giới tính, Như Lai tính khởi tức là
chỉ cho pháp giới duyên khởi, trên mặt văn tự nghe như khác nhau, nhưng ý
nghĩa chỉ có một). Pháp môn tính khởi, hoặc pháp môn pháp giới duyên khởi,
đều có nghĩa chỉ cho sự cứu cánh. Song, để trình bày ý nghĩa thâm sâu đó
cho một hành giả hiểu được thật khó biết dường nào. Ấn Quang Ðại sư còn
gọi với cái tên khác là pháp môn đặc biệt. Pháp môn đặc biệt, chỉ có bốn
chữ, mà ý nghĩa thật phi thường. Di Ðà Như Lai, lấy từ bi nguyện lực trực
tiếp hiển hiện nhị báo trang nghiêm, đích thân làm việc độ chúng sinh, sao
dám xem là việc nhỏ được. Công việc đó tuyệt đối không có một công việc gì
cao cả bằng. Cho nên có tên gọi pháp môn đặc biệt là hoàn toàn xứng đáng.
Trong “Văn Sao Tịnh Ðộ” Ðại sư Ấn Quang từng nói: “Nên biết pháp môn Tịnh
độ, đầy đủ bốn pháp giới, có sự tướng, sự sự pháp giới vô ngại… cho nên
mới gọi là yếu chỉ Tịnh độ. Sự tức là lý, lý tức là sự, lý sự viên dung,
khế hợp bản thể”. Bấy nhiêu lời vắn tắt đó của Ðại sư cũng đủ chứng minh
pháp môn Tịnh độ là pháp giới duyên khởi, cũng là pháp môn Như Lai khởi
tính. Vô ngại tức là chỉ cho sự thông đạt tự tại, dung hợp với bản thể.
Như tại thế giới Cực Lạc, có chim nói pháp, có cây bảy báu phát ra pháp âm
vi diệu, người nghe liền niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng. Ðó là do sự vô
ngại dung hợp với lý vô ngại. Các giống chim ấy đều do A Di Ðà Phật muốn
cho pháp âm được lưu chuyển mà hóa hiện ra những cảnh như vậy. Ðó là lý vô
ngại dung hợp với sự vô ngại. Lại nữa, ví như trong thế giới Cực Lạc, có
ao thất bảo, có nước tám công đức, trong ao có hoa sen lớn như bánh xe,
đầy đủ các màu sắc, xanh, vàng, đỏ, trắng, hương thơm thanh khiết. Lại
nữa, nước đó lại có thiên nhạc, đất bằng vàng rồng, ngày đêm sáu thời, hoa
mạn đà trên trời rơi xuống, chúng sinh trong nước đó sáng sớm ra hứng đem
đi cúng dường mười phương chư Phật, trưa lại trở về quốc độ dùng cơm, rồi
đi kinh hành, đó đều chỉ cho sự vô ngại. Lại nữa, Ðại sư Thần Thời có nói
rằng: “Pháp môn Tịnh độ là pháp giới duyên khởi” điều đó chứng tỏ pháp
môn Tịnh độ, lý nghĩa thật thâm sâu biết dường nào (tham khảo Tịnh Ðộ Thập
Yếu, Ðại sư Ngẫu Ích tuyển định). Vậy mà Mâu Thị Tam lại dám phê bình tính
khởi của Kinh Hoa Nghiêm và bốn trí vô ngại là hư vọng, chẳng qua là giả
lập mà có. Thật không ngờ ông ta lại cho rằng lý trung tính là nhân, lễ,
nghĩa, trí, tín. Như Lai tính bao hàm vạn pháp, vạn lý trong pháp giới tất
cả các thiện đức, tự nó cũng có hàm chứa Phật tính mà vô ngại. Mâu cho
rằng lý tính là nhân, Trịnh Minh Ðạo lại cho rằng nhân là đồng thể của
đức, họ tranh luận với nhau bất phân thắng bại, ai cũng bảo thủ ý kiến của
mình. Thật ra, tất cả sự tranh luận đó bắt nguồn từ nguyên nhân sâu xa, do
lý không thông nên dẫn đến sự có chướng ngại, chỉ chấp trước vào lý mà bỏ
sự. Mười phương ba đời chư Phật, thể cũng như đạo đều giống nhau, thuyết
pháp độ sinh cuối cùng đều quy về Bồ tát đạo, đó là duyên vô ngại. Chúng
ta nói Tây phương Cực Lạc Tịnh độ. Mâu lại cho rằng thế giới Cực Lạc là
thế giới của các vị thần, trong tâm lại không tin có thế giới Cực Lạc.
Thật ra, thế giới chúng ta hiện đang sống theo kinh gọi là thế giới Ta Bà.
Trong Kinh Pháp Hoa, phẩm Ngũ Bá Ðệ Tử Thọ Ký, đoạn Phật thọ ký cho Phú
Lâu Na, có nói: “Nay ở đây quốc độ này (tức là thế giới Ta Bà), được A
nậu đa la Tam miệu Tam Bồ đề (tức là chỉ cho quả vị Vô thượng Chánh đẳng
Chánh giác). Ðức Phật đó lấy số thế giới tam thiên đại thiên nhiều như số
cát sông Hằng mà làm thành một cõi Phật, đất làm bằng bảy thứ báu, thẳng
bằng như bàn tay… Lầu, đài bằng bảy thứ báu, đầy dẫy trong đó. Cung điện
của các vị trời ở gần trên hư không, người cùng trời giao tiếp với nhau
(cụ thể là chỉ cho sự hòa hợp giữa trời và người). Trong đó không có các
đường dữ (tức là chỉ cho bốn đường Ðịa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh, A tu la).
Tất cả đều do hóa sinh, không có dâm dục… nhân dân nước đó thường dùng
hai thức ăn: Một là Pháp hỷ thực, hai là Thiền duyệt thực. Có vô lượng vô
số nghìn muôn ức na do tha các chúng Bồ tát đặng sức thần thông lớn, bốn
trí vô ngại, khéo hay giáo hóa các loài chúng sinh… Kiếp tên là Bửu
Minh, nước tên là Thiện Tịnh”. Ðiều đó có thể chứng minh cho thế giới Cực
Lạc. Thế giới Ta Bà vốn đầy dẫy tội lỗi, thế nhưng đến khi Phú Lâu Na
thành Phật thì cũng tại thế giới này lại được thực hiện thành một thế giới
lý tưởng không có bốn đường ác. Tại thế giới Cực Lạc, lý cũng như sự vô
ngại. Vô ngại tức là không có sự mâu thuẫn, ngược lại nếu có mâu thuẫn thì
không được gọi là vô ngại. Ðức Phật là người chứng ngộ vạn pháp trong vũ
trụ nhân sinh, những lời Ngài nói ra đều là những sự thật, điều đó đã được
Ngài thốt lên, ngay sau khi thành đạo. Lạ thay, tất cả các chúng sinh vốn
có Phật tính như nhau nhưng vì vô minh che lấp nên không thể nhận ra được.
Những gì Ngài chứng ngộ đều có sẵn trong vũ trụ nhân sinh, cũng như những
phát minh của các nhà khoa học về các hiện tượng vật lý, vốn đã có sẵn
trong cuộc sống, chớ không phải họ tự sáng chế ra mà họ chỉ căn cứ vào các
thí nghiệm để rồi cuối cùng đưa ra kết luận về những phát minh đó. Sự
chứng đạo của Ðức Phật cũng như thế. Ngài chỉ nói ra những hiện thực của
vũ trụ, nếu lấy cái nhìn thiển cận, với một trí óc đầy tham sân như chúng
ta để đánh giá lời dạy chư Phật, nếu phê bình sai chắc chắn sẽ mang tội
lớn. Vì lời dạy của Ðức Phật vốn được chư Thiên cũng như Hộ pháp ủng hộ.
Ðức Phật A Di Ðà phát bốn mươi tám lời nguyện độ chúng sinh trong mười
phương, quang minh của Ngài vô lượng vô biên chiếu khắp mười phương, không
có một chướng ngại. Mười phương hằng hà sa số các chư Phật đều tán thán
công đức không thể nghĩ bàn của Phật A Di Ðà, tinh thần pháp giới duyên
khởi của Phật A Di Ðà cũng không có một chướng ngại, vốn hòa hợp với lý
tưởng mười phương thế giới.


2.-
Tâm làm Phật thì tâm là Phật


Lý tưởng văn hóa mười phương thế giới sở dĩ hòa hợp vì giữa tâm Phật và
tâm Phật có sự tương tức tương nhập với nhau, hiển phát bốn trí vô ngại.
Tâm vốn là nguồn gốc của vạn pháp trong thế giới, cũng là nguồn gốc của
nền văn hóa tinh hoa của nhân loại. Bản tâm của chúng sinh cùng với bản
tâm của chư Phật vốn đồng thể vô ngại. Song, chúng sinh vì hiện tiền bị
nghiệp thức làm chướng ngại, nên sự hiểu biết có chướng ngại, bị cục bộ
trong phạm vi nhỏ bé. Chư Phật Thế Tôn là những người đã đạt được sự hiểu
biết cùng khắp không thể đo lường. Chư Phật là “người biết đạo, khai đạo
và dạy đạo” (Kinh Pháp Hoa, quyển thứ ba, phẩm Dược Thảo Dụ). Nhưng vì mục
đích xuất hiện ở đời là vì muốn rộng độ
tất cả chúng sinh. Chúng sinh chỉ cần thực hành lời Phật dạy, nhớ
Phật, niệm Phật, hiện tiền và tương lai
nhất định được thấy Phật. Ðức Thế Tôn còn dạy: “Các Ðức Phật Như
Lai, chính là pháp giới thân, in sâu vào tâm tưởng của hết thảy chúng
sinh. Vì vậy, trong khi tâm các người
tưởng Phật, thì tâm ấy tức là ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ
đẹp theo thân hình Ðức Phật, cái tâm đó làm Phật, cũng tức tâm đó là Phật.
Sự hiểu biết chân chính cùng khắp không thể đo lường của chư Phật, đều từ
nơi tâm tưởng mà sinh ra, vì thế nên
các người phải chăm lòng buộc niệm lại” (Kinh Quán Vô Lượng Thọ).
Tổ thứ mười hai Liên tông, Triệt Ngộ Ðại sư có nói: “Tâm làm Phật thì tâm
là Phật, so với việc trực chỉ bản tâm, kiến tính thành Phật của Thiền tông hoàn toàn khác nhau”. Vì
sao? Vì việc kiến tính thì khó, thế nhưng tâm làm Phật thì tâm là
Phật thì lại dễ. Thế nào gọi là kiến tính? Kiến tính là ly khai cái ý
thức của tâm, cái vọng tưởng điên đảo
nghĩ suy theo trần cảnh. Người muốn dừng những phân biệt của tâm,
muốn tâm không khởi niệm khi đối duyên
xúc cảnh, chuyện đó đâu có dễ
làm, vì những tập khí chúng sinh trong chúng ta đã tích chứa nhiều
đời nhiều kiếp không thể tính kể. Nếu đối duyên xúc cảnh mà không khởi
niệm, giữ cho tâm được sáng suốt đâu có
dễ làm. Kiến tính là xa lìa ý thức của tâm, trí tuệ quang minh phải
hiển lộ thì mới được gọi là kiến tính. Như thế nào tâm làm Phật thì tâm là Phật? Là tâm
trì niệm danh hiệu Phật, quán y
chính trang nghiêm của Phật, tức là tâm làm Phật, điều này dễ. Kinh
còn nói: “Khi tâm các người tưởng
Phật, thì tâm ấy là ba mươi hai
tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, há chẳng phải tâm tưởng Phật thì tâm là Phật hay
sao, cho nên người niệm Phật thì nhất định thấy Phật”. Trong Kinh Lăng
Nghiêm, chương “Ðại Thế Chí Niệm Phật Viên Thông”, Bồ tát Ðại Thế Chí có
nói: “Mười phương Như Lai, thương nhớ chúng sinh như mẹ nhớ con; nếu con
trốn tránh, dù mẹ có nhớ cũng chẳng có lợi ích gì, nếu con nhớ mẹ, như mẹ
nhớ con, thì mẹ con đời đời không xa cách nhau. Nếu chúng sinh đem tâm nhớ
Phật, niệm Phật thì hiện tại hay tương lai chắc chắn thấy Phật, cách Phật
không xa, chẳng cần tu thêm bất kỳ một phương tiện nào khác mà tự nhiên
tâm được khai ngộ… Gốc tu hành, nhân địa của con là ngộ được vô sinh
pháp nhẫn. Nay con nguyện ở thế giới này để nhiếp hóa mọi người vãng sinh
Tịnh độ. Nay Phật hỏi viên thông, con vốn không lựa chọn, chuyên thâu
nhiếp sáu căn, khiến cho tịnh niệm nối liền liên tục, được vào tam ma địa
(Tam muội) đó là thứ nhất”.


Căn cứ vào những lời kinh điển trên, chúng ta có thể rút ra ba điểm: Một
là niệm danh hiệu A Di Ðà và quán y chính trang nghiêm của Phật thì tâm là
Phật. Trong thời khóa tụng niệm mỗi ngày hay dù làm tất cả công việc gì,
nếu tâm chúng ta nghĩ Phật, niệm Phật thì tâm là Phật. Do tâm chuyên chú
vào danh hiệu Phật nên tâm bị tác động bởi công đức rộng lớn không thể
nghĩ bàn của Phật, những trần cấu vọng tưởng sẽ không có cơ hội nuôi
dưỡng, dần dần chân tâm sẽ hiển lộ. Nếu tâm cứ vọng tưởng theo trần cảnh
thì chân tâm khó mà hiển lộ. Hai, nếu tâm từ sáng đến chiều đều nhớ Phật
niệm Phật, thì không cần tu thêm một pháp môn nào cả, mà tâm tự nhiên được
khai ngộ, tâm được khai ngộ đó là minh tâm kiến tính. Ba, điều nhiếp lục
căn, tịnh niệm liên tục, đắc tam ma địa, nhiếp tâm niệm Phật. Ấn Quang Ðại
sư có nói: “Niệm Phật cần nên nhiếp tâm, vọng niệm từ tâm mà khởi, âm
thanh từ miệng mà lưu xuất, do đó niệm Phật cần phải niệm từng câu từng
chữ rõ ràng, tai nghe rõ ràng. Câu niệm Phật từ trong tâm mà lưu xuất, một
khi nhĩ căn được nhiếp phục, thì các căn còn lại không thể hướng ngoại,
nhanh chóng đưa đến nhất tâm bất loạn, điều mà Bồ tát Ðại Thế Chí gọi là
điều nhiếp sáu căn, tịnh niệm tương tục, được tam ma địa, đó là đệ nhất,
tức là điều đó vậy” (xem “Văn Sao Tịnh Ðộ” quyển 1).


Việc niệm Phật, điều quan trọng là phải từ tâm phát khởi, từ miệng mà lưu
xuất, miệng niệm từng câu từng chữ rõ ràng, tai nghe từng câu từng chữ rõ
ràng. Việc này ban đầu tuy khó, cần phải dụng công lâu ngày mới có được
kết quả, một khi nhĩ căn có sự tập trung vào danh hiệu, thì vọng niệm
không thể xen tạp vào được. Ðôi tai chúng ta có tác dụng đón nhận và phân tích âm
thanh từ bên ngoài, nếu một khi tai chuyên chú vào danh hiệu, tâm
không phân tán, mà tâm cũng nghe từng câu từng chữ rõ ràng, tâm, miệng,
tai phối hợp cùng niệm, thì việc nhất tâm thật không khó khăn gì.


3.-
Một niệm hiện tại là nhân của việc thăng trầm trong vui khổ


Tâm đầy đủ của linh tri, niệm là hoạt động của linh tri. Là người tu học
Phật pháp, điều căn bản là phải nắm bắt được những hoạt động của linh tri.
Triệt Ngộ Ðại sư có nói: “Phàm phu hầu hết đều có niệm. Tâm thể không có
niệm chỉ có Phật là người duy nhất chứng được. Từ hàng Ðẳng Giác trở xuống
đều có niệm. Phàm phu chúng ta khi khởi một niệm đều nằm trong phạm vi của
thập pháp giới, không có niệm nào thoát khỏi phạm vi thập pháp giới. Mỗi
một niệm khởi làm duyên cho việc thọ sinh”. Nếu đã biết được lý như vậy mà
không khởi niệm Phật thì người đó chưa được gọi là người hiểu đạo. Nếu tâm
chúng ta khởi đại từ, đại bi, công đức y chính trang nghiêm, đồng thời tâm
cùng tương ưng với vạn đức hồng danh, tức là niệm pháp giới Phật. Tâm
tương ưng với lục độ vạn hạnh của Bồ tát tức là niệm pháp giới Bồ tát. Tâm
tương ưng với Thập nhị nhân duyên đó là niệm pháp giới Duyên giác. Lấy tâm
vô ngã và quán sát Tứ đế đó là niệm pháp giới của Thanh văn. Hoặc cùng
tương ưng với tứ thiền bát định, cho đến thượng phẩm thập thiện, là niệm
pháp giới cõi Trời. Nếu tâm tương ưng với ngũ giới thì đó là niệm pháp
giới cõi Người. Nếu tu tập các bất thiện pháp, tâm hay ôm lòng sân hận,
cống cao, hơn thua đó là đã rơi vào pháp giới A tu la. Tâm nghĩ hạ phẩm
thập ác, tức là đọa vào pháp giới Súc sinh. Hoặc tâm hay ôm lòng keo kiệt
bỏn sẻn, tương ưng với trung phẩm thập ác, tức là rơi vào pháp giới Ngạ
quỷ. Nếu tâm tương ưng với thượng phẩm thập ác, tức là đọa vào pháp giới
Ðịa ngục. Thập ác gồm có: Sát sinh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, nói lời
thêu dệt, nói lời thô ác, nói lưỡi đôi chiều, tham lam, sân hận, si mê.
Ngược lại là thập thiện. Biết được như vậy rồi, trong đời sống thường ngày
chúng ta phải luôn xem xét, kiểm điểm xem tâm chúng ta rơi vào pháp giới
nào, có như vậy mọi người mới không để cho tâm khởi lên những niệm ác, gây
hại cho người và mình. Nếu ta để cho tâm suy nghĩ thường xuyên các niệm
xấu, chắc chắn hiện tiền cũng như trong tương lai khó mà tránh được những
nghiệp xấu.

Một
sát na chỉ xảy ra trong nháy mắt. Tham Huyền Ký, quyển thứ ba có nói:
“Trong một nháy mắt có đến sáu mươi sát na”. Như vậy, trong một nháy mắt
thôi, tâm của chúng ta đã có thể khởi ra sáu mươi niệm. Kinh Ðại Bát Nhã
có chép: “Người sống trên thế gian này, trong một ngày một đêm đã có thể
khởi lên tám nghìn bốn mươi vạn niệm”. Ðiều đó cho thấy vọng niệm trong
tâm chúng ta khởi lên liên tục không bao giờ dừng nghỉ. Vì vậy, không cho
niệm khởi là điều quan trọng. Không cần phải bàn nhiều, phương pháp đối
trị vọng niệm không gì khác hơn là dùng chánh niệm để đối trị lại vọng
niệm. Niệm Phật là phương pháp giúp chúng ta giữ được chánh niệm hơn hết.
Trong Luận Ðại thừa có nói: “Nhớ Phật niệm Phật là con đường tắt đạt đạo
nhanh nhất”. Ðại sư Ấn Quang cũng có nói: “Pháp niệm Phật là bối trần hợp
giác, là diệu pháp đệ nhất phản bản quy nguyên” (Văn Sao Tịnh Ðộ). Người
niệm Phật đến phút lâm chung, nếu tâm giữ được chánh niệm phân minh thì
quyết định được vãng sinh không nghi ngại. Chánh niệm ở đây tức là chỉ cho
tâm nhớ Phật, niệm Phật. Tâm không rời danh hiệu, thì tâm không có một mảy
may tâm niệm tham ái, sân hận. Lâm chung chánh niệm phân minh, trong
khoảng sát na được Phật tiếp dẫn vãng sinh Tịnh độ. Người muốn được như
vậy, không gì khác hơn là trong đời sống hằng ngày, phải giữ cho tâm chánh
niệm niệm Phật, tạo thành thói quen, không được lơ là chểnh mảng.


4.- Người niệm Phật tâm lực cần phải chuyên nhất

Tâm
lực vốn là nguồn sức mạnh không thể nghĩ bàn, tiếc thay nhân loại không
biết dựa vào đó mà tinh tấn tu hành phát huy diệu dụng của tâm. Trong pháp
giới, vật lực đã rất lớn, mà tâm lực lại càng lớn hơn.

Sau
đây là biểu đồ:

TRIẾT LÝ VÀ THỰC TIỄN Của Pháp Môn Tịnh Ðộ 2


Nhìn chung, hiện nay tất cả nhân loại đều sợ hãi về sức mạnh công phá vĩ
đại của nguyên tử, thật ra nguồn nguyên tử đó cũng từ tâm lực mà phát
sinh, tâm lực chính là năng lực, sức mạnh nguyên tử cũng từ tâm lực mà có.
Chúng ta chỉ cần y theo Phật pháp chí thành tu hành đến ngày thành Phật,
thì thần lực của tâm có thể đạt đến cảnh giới tối cao không thể nghĩ bàn.
Lúc đó, tha hồ mà biến đổi tam thiên đại thiên thế giới.


Kinh Pháp Hoa, quyển thứ tư, phẩm “Hiện Bảo Tháp” có chép rằng: “Ðức Phật
Ða Bảo đã diệt độ, toàn thân ở trong tháp, bản nguyện đã viên mãn liền vọt
lên khen ngợi Kinh Pháp Hoa. Ðức Phật Thích Ca bảo rằng: “Phật Ða Bảo có
thệ nguyện rộng lớn, Ðức Phật nào muốn đem thân ta mà chỉ bày cho bốn
chúng, thời các vị Phật của nước đó phân thân ra nói pháp ở các nước trong
mười phương đều phải nhóm họp ở một chỗ”. Bấy giờ, Ðức Phật Thích Ca từ
lông trắng giữa chặng mày phóng ra một luồng hào quang, rộng chiếu khắp
sáu phương: Ðông, Nam, Tây, Bắc, trên dưới. Lúc đó các Ðức Phật phân thân
trong mười phương, đều bảo chúng Bồ tát: “Các ngài phải qua chỗ của Ðức
Thích Ca Mâu Ni, để cúng dường tháp báu của Ða Bảo Như Lai”. Lúc bấy giờ,
cõi Ta Bà liền biến thành thanh tịnh, đất bằng lưu ly, cây báu trang
nghiêm. Ðó là lần biến hóa thứ nhất. Ðức Phật chỉ lưu lại chúng trong hội
Pháp Hoa, dời các hàng trời người đi chỗ khác. Lúc đó, các Ðức Phật ở
phương Ðông đã nhóm họp, ngồi xếp bằng trên tòa sư tử, như thế lần lượt
đến khắp đầy cả tam thiên đại thiên, mà ở thân Phật của Ðức Thích Ca Mâu
Ni phân thân ra khắp cả mười phương mà vẫn chưa hết. Lúc đó, Phật Thích Ca
vì muốn dung thọ các vị Phật của mình phân thân, nên ở nơi tám phương lại
biến thành hai trăm muôn ức na do tha cõi nước, đều làm cho thanh tịnh.
Hai trăm muôn ức, tám phương lại kết thành một nghìn sáu trăm vạn thiên
thế giới, rồi biến các nước đó thành một nước của Phật. Ðó lần thứ hai
Phật biến hóa. Vì các Ðức Phật sẽ đến ngồi, nên ở tám phương lại biến hóa
thành hai trăm muôn ức na do tha cõi nước, đều làm cho thanh tịnh. Ðó là
lần biến hóa thứ ba. Như vậy, trong ba lần biến hóa mà đã có tám phương
Tịnh độ, ba vạn hai nghìn muôn ức na do tha các nước, lại có thể dung chứa
mười phương phân thân của chư Phật. Các Ðức Phật đều bảo các thị giả của
mình qua thăm viếng Ðức Thích Ca Mâu Ni. Các Ðức Phật trụ trong hư không,
đều thấy Ðức Ða Bảo Như Lai, ở trong tháp ngồi tòa sư tử, toàn thân như
vào cảnh thiền định. Ba vạn hai nghìn muôn ức na do tha các nước, đều do
thần lực của chư Phật biến hóa ra. So sánh hoạt động của nguyên tử với
thần lực của chư Phật làm sao mà bằng cho được. Qua đó chứng tỏ rằng tâm
lực luôn thắng vật lực, vạn pháp đều do tâm, điều này chúng tôi đã có
trình bày trong bài viết “Vạn pháp duy tâm”, xin quý vị tham khảo. Chỉ có
thần lực của chư Phật mới xứng đáng cho chúng ta nương tựa. Người niệm
Phật cần phải có tâm lực chuyên nhất, tha thiết liễu sinh thoát tử, tin
sâu, nguyện thiết, hành chuyên, nhất định sẽ được vãng sinh. Một khi đã
được vãng sinh rồi thì chuyện thành Phật không còn gì để lo ngại.    

Tổ
thứ hai Liên Tông là Thiện Ðạo Ðại sư, khuyên người chỉ niệm danh hiệu A
Di Ðà Phật. Lại có người gạn hỏi: “Sao Hòa thượng không dạy người quán
tưởng Phật mà chỉ dạy chuyên trì danh

thôi, chẳng hay có ý gì?”. Ngài đáp: “Chúng sinh

đời nay phần lớn chướng nặng tâm thô,
thần thức
tán
loạn. Trong khi
đó, cảnh Tịnh độ rất tế diệu, nên
quán tưởng khó thành tựu. Chính
vì thế, Ðức Phật
xót thương nên chỉ dạy
niệm Phật. Tại sao? Vì
xưng danh hiệu là việc dễ làm, nếu có thể
giữ mỗi niệm nối nhau không dứt, tu như thế suốt đời thì: Mười kẻ niệm
mười kẻ sẽ vãng sinh, trăm người tu trăm người về Tịnh độ. Tại sao thế?
Vì không có duyên tạp bên ngoài, nên dễ được chánh niệm, vì cùng với
bản nguyện của Phật hợp nhau, không
trái với
kinh
giáo, thuận theo
lời Phật và chư Thánh chỉ dạy.
Nếu
bỏ chuyên niệm Phật mà tu xen tạp những hạnh
khác, thì trong trăm ngàn người chỉ hy
vọng ba
bốn kẻ được vãng sinh. Tại sao? Vì duyên tạp niệm khiến
cho mất chánh niệm, không khế hợp với bản nguyện của Phật, vì trái với
kinh giáo và lời chư
Phật, chư Thánh
dạy, hệ niệm không tiếp nối
nhau, tâm không thường nhớ
Phật. Vì
thân tuy hành đạo mà tâm lại tương ưng với lợi danh, vì thích theo
duyên
tạp mà làm chướng ngại chánh nhân vãng sinh của mình và người. Các
hàng
ngoại đạo, tục có kiến giải không giống nhau, như là: Kẻ thích
chuyên tu,
người ưa tạp hạnh. Nếu như chuyên tâm niệm Phật thì mười người
niệm đều
vãng sinh cả mười. Nếu như tu tạp niệm mà tâm không chí thành thì
trong
ngàn người tu khó mong được một. Nguyện xin tất cả hãy nên chín
chắn mà
suy nghĩ kỹ. Lại nữa, người niệm Phật khi đi, đứng, nằm, ngồi phải
cố gắng
nhiếp tâm, ngày đêm chớ rời danh hiệu, quyết giữ câu niệm Phật cho
đến hơi
thở cuối cùng. Như thế thì đến giây phút mãn phần, niệm trước vừa
thọ
chung, niệm sau liền vãng sinh Cực Lạc. Từ đây vĩnh viễn hưởng
được sự vui
“pháp lạc” vô vi mãi cho đến ngày thành Phật. Há là chẳng đáng vui
sướng ư?”. (Tham khảo “Tịnh Ðộ Thánh Hiền”, quyển thượng, tập 2)


Tương truyền Ðại Sư Thiện Ðạo, là hóa thân của Phật A Di Ðà. Mỗi khi ngài
niệm “Nam Mô A Di Ðà Phật”, thì có một tia hào quang từ nơi miệng ngài
phóng ra, ngài niệm Phật từ mười câu cho đến trăm câu đều có hào quang như
vậy. Do tâm lực của ngài đã thành tựu nên mới có việc hiển hiện những điều
kỳ diệu như thế. Qua đó cũng đủ chứng minh cho chúng ta thấy diệu dụng của
niệm Phật, một khi chúng ta chuyên chú tâm niệm danh hiệu A Di Ðà Phật,
thì khiến cho tâm lực tập trung chuyên chú vào một chỗ, tạo nên một năng
lực chánh niệm rất lớn và hiện hữu mọi lúc mọi nơi, thì sự kiện “niệm
trước vừa thọ chung, niệm sau vãng sinh Cực Lạc” là việc có thể thực hiện,
lời nói đó hoàn toàn không sai trái. Do đó, trong thời tu tập mỗi ngày,
chúng ta phải định cho mình một thời khóa công phu rõ ràng. Nếu công việc
thật sự bận rộn, trong nghi lễ của thời khóa công phu chỉ cần tụng Kinh A
Di Ðà, chú vãng sinh, đọc bốn mươi tám lời nguyện trong Kinh Vô Lượng Thọ
là đủ, đối với các kinh luận khác không nhất thiết phải đọc, sau đó đọc kệ tán Phật, tiếp theo là niệm
đức hồng danh, niệm vạn câu hoặc trên vạn câu. Ngoài thời khóa chính ra,
những lúc bình thường miệng cũng không xa lìa danh hiệu Phật, tịnh niệm
liên tục, có như thế mới đạt đến nhất tâm bất loạn. Người niệm Phật cần
phải có tâm chuyên nhất, có tinh tấn, không nên vì một nhân duyên nào mà
phế bỏ công phu. Hãy xem việc niệm Phật là công việc quan trọng nhất, tâm
luôn tha thiết liễu sinh thoát tử, có như thế mới thành tựu việc vãng
sinh. Một khi tâm có tin sâu, nguyện thiết, hành chuyên sẽ tạo nên tâm lực
rất lớn không gì bì kịp, vì tâm lực có diệu dụng không thể nghĩ bàn. Người
niệm Phật một khi đạt được tâm lực đó thì không khác gì tâm lực của chư
Phật trong mười phương.


5.-
Nguyện và nguyện cảm ứng đạo giao                         

Ðức
Phật A Di Ðà tu Bồ tát thừa phát bốn mươi tám lời nguyện. Phàm có chúng
sinh nào chí tâm xưng niệm danh hiệu
của Ngài, hoặc nghe
danh hiệu của Ngài, cho đến phát đại Bồ đề tâm
(nguyện lực). Nguyện lực của Ngài đã thành tựu, Ngài trải qua
muôn kiếp tu hành, nhẫn lực tu hành
thành tựu
sáu Ba la mật, siêng
năng tu Bồ tát vạn hạnh (hạnh
lực).
Hạnh lực của Ngài đã viên mãn, lại
thành tựu
chính báo quả vị Vô
thượng Bồ đề và y báo là nước Cực

Lạc trang nghiêm (công đức lực). Ba yếu
tố:
Nguyện lực, hạnh lực, công đức lực hòa hợp tạo nên thần lực
danh hiệu không thể nghĩ bàn. Ngài dùng
danh
hiệu A Di Ðà làm con thuyền
Bát nhã, cứu độ chúng
sinh. Chúng sinh, tin Phật, niệm Phật, phát
tâm đại Bồ đề thành Phật độ chúng sinh,
nguyện vãng sinh
Tịnh độ để được
sự giáo hóa của chư Phật, luôn
luôn lấy lời nguyện đó hồi hướng về
Phật A Di Ðà. Do vậy mà có sự cảm ứng
đạo giao giữa nguyện lực của
chúng sinh và nguyện lực của Phật. Ðể
có được sự cảm ứng đạo giao, người niệm Phật cần phải có tâm tin sâu, nguyện
lực phải tha thiết, hành trì phải chuyên nhất, cầu Phật lực từ bi thương
xót, gia hộ độ trì thoát ly sinh tử, tiếp dẫn vãng sinh Tịnh độ, tu tập
cho đến ngày thành Phật, trở lại Ta Bà rộng độ chúng sinh đồng thoát ly
sinh tử, đồng sinh Tịnh độ, vĩnh kiếp không còn sợ thối chuyển.


Ngẫu Ích Ðại sư có nói: “Phải tin vào Phật lực mới có thể tin sâu công
đức của danh hiệu, phải có tin trì danh mới có thể tin bản tính không thể
nghĩ bàn của chúng ta. Người có đầy đủ tâm tin sâu như vậy mới có thể phát
nguyện rộng lớn. Người niệm Phật chỉ cần ghi nhớ hai chữ “tín, nguyện”. Vì
tín, nguyện là kim chỉ nam của pháp môn Tịnh độ, chấp trì danh hiệu là
chánh hạnh. Nếu người có tín, nguyện kiên cố, đến phút lâm chung chỉ cần
mười niệm tâm không rối loạn thôi cũng được vãng sinh. Người không có tín,
nguyện dù cho niệm Phật đến trình độ gió thổi không động, mưa rơi không
thấm, kiên cố vững chắc như tường đồng, lũy sắt cũng không được vãng sinh.
Phàm là người tu tịnh nghiệp không thể không biết điều đó”. (Tham khảo
Kinh A Di Ðà yếu giải do Ðại sư trước tác). Ngài còn nói rằng: “Người có
được vãng sinh hay không vãng sinh, cũng tùy thuộc nơi chỗ có tín nguyện
hay không có tín nguyện, phẩm vị cao hay thấp là tùy thuộc ở chỗ hành trì
sâu hay cạn”.


Phật pháp chú trọng ở chỗ cảm ứng. Cũng không nằm ngoài đặc điểm đó, sự
cảm ứng là thật tướng pháp giới vốn bao trùm khắp pháp giới hư không,
không có sự ngăn ngại, vì nó vốn nhân duyên tương cảm, nương tựa nhau,
tương ứng mà có. Tại sao sự cảm ứng trong Phật pháp lại rất đặc biệt như
vậy? Vì Phật pháp vốn có pháp tính trong sạch thanh tịnh, do đó thế giới
thần linh rất ưa chuộng. Nó vốn không có sự chướng ngại như các tôn giáo
khác, nói đúng hơn thể tính của Phật pháp rất thanh tịnh bình đẳng, luôn
hướng chúng sinh về con đường chân thiện mỹ, nên rất được chư Phật cũng
như thế giới thần linh ưa thích và hộ niệm. Ðức Phật A Di Ðà khi còn là
Pháp Tạng, sau khi đứng trước Phật Thế Tự Tại Vương phát bốn mươi tám lời
nguyện rộng độ chúng sinh và sau khi nói kệ xong, lúc bấy giờ khắp các cõi
đất sáu lần chấn động, chư Thiên rải hoa đẹp lên đầu Ngài cúng dường, tự
nhiên có tiếng âm nhạc trong hư không vang lên khen ngợi và chứng quyết
Ngài nhất định sẽ thành bậc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác (Kinh Vô Lượng
Thọ). Ðó là sự biểu hiện sự thật chứng của pháp giới thật tướng đối với
lời phát nguyện của Pháp Tạng Tỳ kheo. Chỉ có chư Phật mới thấy được điều
đó, phàm phu chúng ta không thể thấy được. Lại nữa, Ðức Phật A Di Ðà tu Bồ
tát thừa, trải qua nhiều kiếp tu hành, công đức của Phật đã viên mãn, Ngài
đã thành Phật, lời nguyện lớn của Ngài đã thành tựu một thế giới Tịnh độ.
Trong thế giới Tịnh độ có vô lượng vô biên công đức trang nghiêm như: lầu
gác, ao báu, hoa sen, cây báu, đất bằng vàng ròng, lưới châu… tất cả
những loại trang nghiêm đó không chỉ một tay Phật có thể xây dựng được mà
do một phần cảm ứng của thế giới thần linh, thế giới chư Phật mà thành tựu
một thế giới Tịnh độ trang nghiêm như vậy. Trong đó tâm nguyện xây dựng
thế giới Tịnh độ, rộng độ chúng sinh của Phật A Di Ðà đóng vai trò chính.
Có gieo nhân ắt sẽ gặp quả cảm ứng. Nhân ví như hạt giống, quả ví như hoa
quả. Người tu pháp môn Tịnh độ cũng như thế, lấy tín, nguyện, hạnh làm
nhân, từ nhân được gieo đó, Phật A Di Ðà mới biết để đến tiếp dẫn vãng
sinh, để giáo hóa thành Phật là quả. Tín, nguyện của pháp môn Tịnh độ được
ví như sóng điện từ phát đi từ đài phát thanh, Phật A Di Ðà tiếp nhận
luồng sóng đó mới có thể định hướng chúng sinh đang tín, nguyện cầu về
nước Ngài, dựa vào đó Ngài mới có thể định vị chúng sinh đang ở phương
hướng nào để đến tiếp dẫn. Người niệm Phật sở dĩ được vãng sinh cũng nhờ
vào sự phát khởi tin sâu, nguyện thiết mới có cảm ứng đạo giao. Trong pháp
giới có vô lượng vô biên sự thật chứng của chư Phật, công đức trang nghiêm
các Ngài không thể nghĩ bàn, mười phương hằng hà sa chư Phật đều quy hướng
Tịnh độ. Vì vậy, có chúng sinh nào phát khởi tâm niệm Phật, các Ngài đều
hết sức tán thán và đồng hộ niệm cho người đó đạt được quả bất thối chuyển
A nậu đa la Tam miệu Tam Bồ đề. Ðiều đó có thể chứng minh rằng, nếu người
niệm Phật phát khởi tin sâu, nguyện thiết chắc chắn sẽ thành tựu vãng sinh
Tịnh độ. Vì có sự cảm ứng đạo giao không thể nghĩ bàn của chư Phật đối với
chúng sinh. Do đó, những ai từ trước đến nay chưa phát khởi tâm niệm Phật
hãy nhanh chóng phát khởi tín tâm, chắc chắn sẽ được vãng sinh Tịnh độ.

Tổ
thứ sáu Liên Tông, Vĩnh Minh Diên Thọ Ðại sư, là vị Thiền Tịnh song tu.
Ngài có trước tác cuốn “Vạn Thiện Ðồng Quy”, đó là một tác phẩm có giá trị
về Tịnh độ. Ngài được xem là hóa thân của Phật A Di Ðà. Sau khi Ðại sư
viên tịch, có một vị tăng từ miền Lâm Xuyên đến, trọn cả năm luôn đi kinh
hành và lễ bái tháp của Ðại sư, có người lấy làm lạ nên hỏi vị tăng đó, vị
tăng đáp rằng: “Năm trước tôi bị đau nặng, thần thức rơi vào cõi u minh,
thấy bên tả vua Diêm Vương có thờ tượng của một vị Hòa thượng, tôi thấy
vua Diêm Vương đang cung kính quỳ lạy tượng ấy, tôi thử hỏi nguyên do, mới
biết đó là tôn tượng của Diên Thọ Ðại sư ở chùa Vĩnh Minh tại Hàng Châu.
Ngài đã vãng sinh về nơi thượng phẩm của cõi Cực Lạc. Vua Diêm Vương do
cảm kích trọng đức hạnh của ngài nên mới tác tượng lễ lạy cúng dường như
vậy”. Qua đó cho chúng ta thấy được sự cảm ứng của Phật pháp còn cảm ứng
đến cả nơi địa ngục, vì cảm ứng của Phật pháp vốn chu biến khắp cả pháp
giới hư không. Vì vậy, người niệm Phật nếu có tâm tín, nguyện càng thành
khẩn chắc chắn sẽ có cảm ứng đạo giao.


6.-
Lấy quả địa giác làm nhân tâm địa


“Nhân quả là quyền lực lớn để Thánh nhân an dân trị nước” (lời của Ấn
Quang Ðại sư). Không có quả nào mà không có nhân, không có nhân nào mà
không có quả. Từ mạng sống, sinh hoạt và sự nghiệp, cho đến phước họa, tốt
xấu, thành công hay thất bại của con người đều không thoát khỏi sự chi
phối của vòng nhân quả. Tuy nhiên, chúng sinh tuy sinh ra trong nhân quả
lại không có trí tuệ phân biệt nhân quả có nguồn gốc từ đâu. Làm sao để
gieo những nhân tốt? Chúng sinh hoàn toàn bị nhân quả chi phối, không
biết tu hành ra sao. Việc tu hành theo đạo Phật đó là tu nhân. Nếu người
gieo nhân địa giả dối chắc chắn gặt hái những quả giả dối. Thông thường
người ta không biết nhân đó là tâm, trong mảnh đất tâm có chứa rất nhiều
hạt giống nghiệp thức khác nhau, một khi các hạt giống nghiệp thức này
chín muồi sẽ khởi hiện hành phát sinh thành quả. Tu nhân tức là thanh lọc
nghiệp thức. Nghiệp thức được thanh lọc liền thấy bản tâm, đó là chánh
đạo. Nếu không thanh lọc nghiệp thức mà lại lấy nghiệp thức của tâm làm
nhân địa nỗ lực tu hành, chẳng khác nào người nấu cát mà mong thành cơm ắt
hẳn cơm không thành mà chỉ có cát. Pháp môn niệm Phật vốn có nhân duyên
đặc biệt thù thắng hơn các pháp môn khác. Ðó là người niệm Phật lấy danh
hiệu quả địa Chánh đẳng Chánh giác của Phật A Di Ðà làm tâm nhân địa cho
việc tu hành, người có quyết tâm tin Phật, quyết tâm nguyện sinh Tây
phương, quyết tâm độ chúng sinh, quyết tâm trì niệm danh hiệu Phật, đem
toàn thể tâm lực mà hệ niệm vào danh hiệu Phật. Phật có nghĩa là giác ngộ,
tỉnh thức, hệ niệm vào danh hiệu Phật tức là đang hệ niệm vào tỉnh thức
giác ngộ. Phật là người đã chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, từ bi
nguyện lực của các Ngài cùng với tín, nguyện, hạnh của chúng sinh hòa hợp
lại tạo nên một năng lực cảm ứng không thể nghĩ bàn. Phật lực của các Ngài
sẽ khiến cho nghiệp thức của chúng sinh dần dần được thanh lọc, và tính
giác của chúng sinh dần dần được hiển lộ. Do đó chúng sinh trong tâm niệm
Phật, là đang gieo trồng chủng tử thành Phật. Nếu tín, nguyện và niệm Phật
cùng được tiến hành song song thì tâm chúng sinh cảm thông với tâm Phật.
Nếu tâm chúng sinh càng hệ niệm vào danh hiệu Phật thì nghiệp thức của
chúng sinh càng nhanh chóng được thanh lọc, và rồi bản giác càng nhanh
chóng hiển lộ.


Trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật có nói: “Niệm một câu Nam Mô A Di Ðà
Phật có thể tiêu trừ trọng tội của tám mươi vạn kiếp sinh tử”. Do đó,
người niệm Phật chỉ cần thành khẩn tha thiết mà niệm chắc chắn sẽ được cảm
ứng đạo giao, nghiệp thức sẽ được tiêu trừ. Mỗi ngày nên định thời khóa mà
niệm Phật, niệm liên tục, thiện căn càng chín muồi thì nghiệp thức dần dần
được tiêu trừ, bản giác sẽ dần dần hiển lộ. Ðối với người trung và hạ căn,
nếu không thể đạt đến nghiệp thức hoàn toàn thanh lọc thì có thể nương vào
đới nghiệp được vãng sinh. Một khi đã sinh Tịnh độ, hóa sinh trong hoa
sen, dư nghiệp liền tiêu trừ, hoa nở liền thấy Phật ngộ được vô sinh pháp
nhẫn.


Danh hiệu Phật có thần lực không thể nghĩ
bàn, có thể chuyển hóa người niệm Phật
từ chỗ tâm tính mê muội đạt đến chỗ minh tâm kiến tính. Nếu
người niệm Phật niệm danh hiệu Phật lâu dài không gián đoạn, tâm
chuyên nhất với danh hiệu, chắc chắn
người đó đến phút lâm chung chánh niệm rõ
ràng. Ngoài phương pháp
trì danh ra, mọi người có thể áp dụng “phương pháp tùy tức niệm Phật”
(theo dõi hơi thở niệm Phật), trong các oai nghi luôn mượn hơi thở làm
tràng hạt để niệm Phật. Hít vào niệm “Nam Mô A”, thở ra niệm “Di Ðà Phật”,
thực hành lâu ngày như thế, danh hiệu
sẽ nhiếp theo
hơi thở làm một, nhĩ căn sẽ hệ niệm ở tâm, do đó tạp niệm không
thể xen vào và khởi lên, từ đó có thể đạt đến “sự nhất tâm bất loạn”. Một
khi được “sự nhất tâm bất loạn” rồi, lại càng tinh tấn niệm, tâm không có
sự mong cầu các cảnh tướng, Phật hiệu và tâm nhất như. Lúc đó tâm không
niệm mà niệm, liền đạt đến “lý nhất tâm
bất loạn”, tâm cùng
tương ưng với tâm Phật, được gọi là thật tướng
niệm Phật, hay đã thành tựu niệm Phật tam muội.

Ấn
Quang Ðại sư có nói: “Nếu thật sự đạt được quả niệm Phật “nhất tâm bất
loạn” (chú ý hai chữ nhất tâm) tức là quả địa giác làm nhân cho tâm địa.
Nếu có thể đạt đến tâm tương ưng thì nhân tức là quả, rất bình thường, rất
huyền diệu. Nếu người không tin nhận được điều đó thì không thể được xem
là người trí”. Ý Ðại sư muốn nói khi tâm địa của người niệm Phật tương ưng
với tâm địa của Phật, tâm tâm tương ưng khế hợp với nhau, tức là thuộc
thật tướng niệm Phật, điều đó chứng tỏ người đó đã đạt được niệm Phật tam
muội. Chuyện đó là chuyện bình thường không có gì là cao siêu khó hiểu,
nhưng nó rất huyền diệu thâm sâu, nếu là người trí thức cho điều đó là cao
siêu khó hiểu, không thực tế thì người đó không thể xem là hạng trượng phu
trí thức được.

Ðại
sư Triệt Ngộ cũng có nói: “Sở dĩ gọi là chấp trì danh hiệu là chăm chăm
buộc niệm kiên cố ở tâm, nếu có một mảy may niệm xen tạp hoặc gián đoạn
thì chẳng được gọi là chấp trì. Nếu niệm niệm tương tục không gián đoạn,
tinh tấn niệm không dừng nghỉ dần dần đạt đến nhất tâm bất loạn. Một khi
đã đạt được nhất tâm bất loạn rồi mà càng tinh tấn không dừng nghỉ, trí
tuệ sẽ khai sáng, phát khởi biện tài, đắc được thành thông, thành tựu niệm
Phật tam muội. Chỉ có đạt đến nhất tâm loạn thì tịnh nghiệp mới viên
thành. Pháp môn Tịnh độ là cánh cửa lớn độ thoát chúng sinh thoát ly sinh
tử, người không có tín, không có nguyện chắc chắn mãi mãi không có an
toàn, mãi mãi đắm chìm trong sinh tử. Là bậc học giả hãy lấy điều đó mà
suy nghĩ cho kỹ, không nên bỏ qua”.

Tóm
lại, qua lời của hai vị Ðại sư, tuy văn tự có khác nhau, thế nhưng ý nghĩa
diễn đạt lại giống nhau. Cái được gọi là “tâm tương ưng, niệm niệm tương
tục không gián đoạn… đạt được trí tuệ biện tài vô ngại, thành tựu niệm
Phật tam muội” những cảnh giới chứng đắc đó thật cao siêu, huyền diệu,
nhưng đó là sự thực, không phải cảnh tướng xa lạ gì đối với những hành giả
niệm Phật, một khi đạt được sẽ thấy được điều đó. Muốn đạt được thành tựu
như vậy, người niệm Phật cần phải có tín, hạnh, nguyện thiết tha, công phu
phải miên mật, niệm niệm không gián đoạn, mới có khả năng thành tựu niệm
Phật tam muội. Ðối với bậc học giả chúng ta cũng không nên chấp lý mà bỏ
sự, không nên cho pháp môn Tịnh độ là hẹp hòi chỉ dành cho ông già bà cả
mà đánh mất đi nhân duyên vãng sinh Tịnh độ của chính mình, nên khởi thực
hành mới cảm nhận được sự vi diệu của nó, điều đó đã được hai vị Ðại sư
nhắc nhở như trên.



7.- Niệm Phật vãng sinh là xả khổ thọ lạc


Trong Kinh A Di Ðà, Phật Thích Ca có nói: “Này Xá Lợi Phất,
vì sao cõi ấy gọi là Cực Lạc? Cõi ấy không có những thứ khổ, chỉ có thuần
những sự vui, vì vậy mà có tên là Cực Lạc”. Thế giới Cực Lạc là thế giới
được Phật A Di Ðà xây dựng từ vô lượng vô biên các công đức trang nghiêm,
xin đơn cử vài điều như sau:


1. Trí tuệ của Phật sáng vô lượng vô biên, soi khắp các nước khắp cả mười
phương đều không chướng ngại. Phật A Di Ðà rộng độ chúng sinh khắp mười
phương, nhân dân nước Cực Lạc hằng ngày sáng sớm đều lấy xiêm y đựng các
thứ hoa có hương thơm đẹp lạ, mang đi cúng dường mười muôn ức chư Phật ở
các phương khác, đến giờ cơm lại quay về nước của mình, dùng cơm xong lại
đi dạo chơi, kinh hành niệm Phật, đó là đức đại ngã.


2. Người sống trong cõi Cực Lạc, vô minh không còn, tham, sân, si hoàn
toàn triệt đoạn, không phải sợ trở lại địa ngục, mà đều hóa sinh từ hoa
sen, đó là tịnh đức.


3. Các hàng cây báu cùng các loại chim nơi Cực Lạc đều phát ra pháp âm vi
diệu, đó là đức thuyết pháp.


4. Nhân dân sinh sống ở Cực Lạc không có những điều khổ, chỉ thọ nhận
những điều vui sướng nên gọi là Cực Lạc, đó là lạc đức.


Thế giới Tịnh độ được thiết lập từ các công đức trang nghiêm, tất cả đều
thuần sự vui sướng, không có các khổ đau, dục vọng như thế giới Ta Bà.
Kinh Pháp Hoa có nói: “Nguyên nhân của khổ đau có nguồn gốc từ tham dục”.
Lại nữa trong Kinh Thắng Thiên Vương Bát Nhã, Ðức Phật có nói: “Chúng
sinh ngày đêm luân chuyển trong lục đạo, chịu khổ không ngừng, đều do tâm
tham dục”. Thật vậy chúng sinh sở dĩ luân chuyển trong lục đạo, chịu khổ
đau cũng từ tâm tham dục. Khổ vốn có trăm ngàn loại khác nhau, vì vậy mà
chúng sinh suốt ngày ca cẩm khổ đau không dừng, nào là lương thực thiếu
thốn cũng khổ, tài nguyên, vật chất cạn kiệt cũng khổ, không khí, môi
trường ô nhiễm cũng than khổ, bệnh tật, dịch hạch phát sinh cũng khổ, thất
nghiệp khổ, chiến tranh khủng bố, bom đạn, nguyên tử hoành hành cũng khổ.
Nói tóm lại, đã làm người sống trong thế gian này phải chấp nhận muôn ngàn
khổ đau không thể nào kể hết.

Theo nhà Phật, khổ được chia làm ba loại: Ba khổ, tám khổ, trăm loại khổ. Nhưng
thông thường khổ được Ðức Phật giảng nói là tám thứ khổ, gồm các loại như
sau: 1. Sinh khổ, 2. Lão khổ, 3. Bệnh khổ, 4. Tử khổ, 5. Ái biệt ly khổ,
6. Cầu bất đắc khổ, 7. Oán tắng hội khổ, 8. Ngũ ấm xí thạnh khổ.

Sinh khổ:
Sự khổ của sinh được chia làm hai giai đoạn, khổ từ khi thọ thai nằm
trong lòng mẹ và khổ lúc sinh ra. Trong thời kỳ nằm trong lòng mẹ, thai
nhi thọ bẩm khí huyết sạch hay dơ, no hay đói, mạnh hay yếu đều tùy thuộc
vào người mẹ. Nếu người mẹ biết lo nuôi dưỡng giữ gìn thai nhi thì còn đỡ,
bằng ngược lại, người mẹ mang thai trong trường hợp ngoài ý muốn, gia đình
và xã hội không cho phép thì bắt buộc phải sử dụng thuốc phá thai, thai
nhi phải chịu muôn phần đau khổ, èo uột, dở sống, dở chết thật thảm thương
vô cùng… Thời kỳ thứ hai, sau chín tháng mười ngày nằm trong lòng mẹ
chịu biết bao đau khổ, thai nhi một lần nữa phải chịu đau đớn như ai cắt
thân xé thịt mới có thể lọt ra khỏi lòng mẹ, đó là chưa kể sau khi ra khỏi
lòng mẹ nếu có khóc thì đỡ, bằng ngược lại bị đánh đến khi nào chịu khóc
mới thôi, vì có khóc buồng phổi của thai nhi mới hoạt động được, thai nhi
mới có khả năng sống sót.

Lão
khổ
:
Bình thường ai cũng lo lam lũ làm ăn, ít có ai nhớ nghĩ đến cái già, vì
thế khi có ai nhắc đến cảnh già thì tự nhiên giật mình lo sợ. Cho nên
người xưa thường than “đa thọ thì đa khổ”. Nếu người biết suy tưởng thì sẽ
thấy được rằng người ta càng sống lâu chừng nào càng gánh chịu nhiều khổ
đau chừng ấy. Về thể xác, tuổi càng già thân thể càng tiều tụy, yếu đuối,
đầu bạc da nhăn, mắt mờ tai điếc, mũi nghẹt, lưỡi đớ, răng thì cái rụng
cái lung lay, đau nhức vô cùng tận. Muôn việc đều nhờ con cháu giúp đỡ.
Nếu con cháu có đạo đức và hiếu thuận thì còn đỡ và an ủi được phần nào,
bằng ngược lại, làm khổ con cháu quá nhiều thì chúng nó đâm ra bỏ bê không
chăm sóc, đã khổ lại càng khổ muôn phần. Về mặt tinh thần, người càng già
thần kinh càng yếu, trí nhớ bất thường, quên trước nhớ sau, đôi khi lú lẫn
làm trò cười cho thiên hạ. Do đó người đến tuổi già thường than “già khổ
lắm”.

Bệnh khổ: Ðối với con người, sức khỏe là vàng bạc, có sức khỏe là có tất cả. Một
người mắc bệnh thì dường như họ mất cả lẽ sống, thân xác uể oải, đau nhức,
tâm thần bất định. Ðó là chưa kể những người mắc các bệnh trầm kha như ung
thư, bệnh thế kỷ như HIV/AIDS chưa có thuốc chữa trị, đang đứng giữa hai
bờ sống chết. Những người này tuy sống mà như đã chết, lẽ sống đối với họ
dường như không còn. Thế nên mới nói bệnh là khổ.

Tử khổ: Nói đến cái chết thì từ con người cho đến các loại động vật, loài nào
cũng hoảng sợ. Vì trước khi chết phải chịu biết bao cực hình đau khổ. Chết
có nhiều hình thức khác nhau: Chết vì bệnh tật, chết vì đâm chém, chết vì
cướp của giết người, chết bất đắc kỳ tử như bị tai nạn giao thông, máy bay
hư, khủng bố chiến tranh giết chóc, bom đạn nguyên tử. Cái chết làm cho
con người phải kinh sợ.

Ái biệt ly biệt khổ: Gia đình, chồng vợ, con cháu… đang sống đầm ấm
hạnh phúc, bỗng nhiên có một người nào đó đi xa hoặc chết, cảnh biệt ly
giữa kẻ ở người đi thật không có nỗi buồn nào bằng, nên nói thương yêu xa
lìa là khổ là vậy.

Cầu bất đắc khổ: Là sự mong muốn mà không toại ý. Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta
thường mắc phải những thất vọng sau: Thất vọng vì công danh, thất vọng vì
lợi lộc, thất vọng vì giàu sang phú quý, thất vọng vì tình duyên trắc trở
v.v… các thất vọng trên đây thường tạo nên những móc xích trói buộc,
khiến cho chúng sinh mãi mãi đắm chìm trong sinh tử, thậm chí có người đôi
khi vì những thất vọng đó mà đánh mất đi thân mạng của chính mình, thật
đau đớn vô cùng.

Oán
tắng hội khổ:

Là chỉ cho nỗi khổ giữa hai người có oán thù mà phải ở chung. Người ở thế
gian thường than: “Thấy mặt kẻ thù như kim đâm vào mắt, sống chung với kẻ
thù như nếm mật nằm gai”. Ý nghĩa lời than trên đây có thể đã diễn đạt
phần nào giữa hai người không có yêu thương mà phải sống chung. Ðôi khi
trong một gia đình, nếu có tình trạng đó thì thật không có nỗi khổ nào
bằng. Vợ chồng không thương yêu mà phải sống chung tất nhiên sẽ dẫn đến
phải ly thân hoặc ly dị, làm cho con cái không đủ cha, đủ mẹ, chúng sẽ mặc
cảm với bạn bè, không có người chăm sóc dạy dỗ, ắt hẳn sẽ đi vào con đường
tội lỗi, tạo nên mối đe dọa gây khó khăn cho xã hội.

Ngũ ấm xí thạnh khổ:
Ngũ ấm bao gồm sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Sắc là nghiệp cảm thuộc về phần vật
chất, thọ tưởng hành thức là nghiệp cảm thuộc về phần tinh thần. Ngũ ấm xí
thạnh khổ là chỉ cho thân ngũ uẩn quá sung mãn, mập, dẫn đến thúc dục thân
tâm đòi hỏi xung đột, chi phối bất thường, gây nhiều vọng tưởng, vọng thức
tà vạy. Thật vậy, nói đến khổ đau mà con người gánh chịu từ kiếp này sang
kiếp khác thì không ngôn ngữ nào diễn đạt cho hết, cho nên trong kinh có
nói: “Nước mắt chúng sinh nhiều hơn biển cả” là vậy. Thế nhưng, hằng ngày
con người tiếp xúc với những đau khổ đó mà nào có hay có biết, họ chỉ một
lòng hăng say tạo tác nghiệp. Ðối với họ đó là những niềm vui, là lẽ sống,
vì thế mà thế giới Ta Bà chúng ta đang sống mới có nghĩa là “kham nhẫn”,
nghĩa là chúng sinh trong thế giới Ta Bà kham nhẫn mọi khổ đau để mà sống.


Ấn Quang Ðại sư có nói: “Thời đại mạt pháp tất cả chúng sinh nên tha
thiết mà niệm Phật, nương nhờ Phật lực mà vãng sinh Tịnh độ. Ðã được vãng
sinh rồi thì từ hoa sen mà hóa sinh, sẽ không còn nỗi khổ về sinh sản nữa.
Tất cả đều được thọ thân người nam, thọ mạng ngang bằng với hư không,
không có tai biến, không có các nỗi khổ về già, bệnh, chết, được gần gũi
Phật A Di Ðà và chư Thánh chúng, được nghe pháp âm vi diệu phát ra từ các
hàng cây báu, từ các loại chim. Tùy theo căn tính, một khi nghe pháp rồi
liền chứng được vô sinh pháp nhẫn, làm gì còn khổ đau. Nghĩ ăn là có ăn,
nghĩ mặc là có mặc, sống trong lầu gác nguy nga tráng lệ đều bằng bảy báu,
không cần phải lao động, không có nỗi khổ cầu bất đắc, cho đến thân thể có
đại thần thông, đại uy lực, không cần phải xa lìa xứ của mình, mà chỉ
trong một niệm thân đã ở mười phương chư Phật làm các Phật sự, thượng cầu
hạ hóa, có đại trí tuệ, đại biện tài, ở trong một pháp mà thấu rõ thật
tướng của muôn pháp, tùy theo căn cơ mà nói pháp, hoàn toàn không còn sự
mê lầm, tuy nói lời tục đế, mà đều khế hợp với diệu lý của chân đế, không
còn nỗi khổ về ngũ ấm, thân tâm thường an trụ trong tịch tịnh vô vi. Nên
Kinh A Di Ðà có nói: “Cõi nước đó không có những khổ đau, chỉ thuần những
vui sướng, cho nên mới gọi là Cực Lạc”. Người trong thế gian, thường cho
rằng đạo Phật là đạo bi quan, vì chỉ nói toàn là khổ đau. Ðó là do họ
không có nghiên cứu áp dụng. Những lời Phật dạy như toa thuốc tùy theo
bệnh chúng sinh mà chữa trị. Phương pháp trao truyền giáo pháp của Ngài
thật khoa học và thực tiễn, cụ thể được Ngài thể hiện qua bài pháp Tứ diệu
đế đầu tiên cho năm anh em Kiều Trần Như và Bát chánh đạo trong ba mươi
bảy phẩm trợ đạo.


Thật vậy, trong tám cái khổ được nêu trên, khổ đầu tiên là sinh khổ có ý
nghĩa rộng lớn vô cùng, không có gì so sánh kịp. Sinh vốn là vô sinh, vô
sinh vốn là sinh mà không sinh. Chúng sinh do mê lầm về thân ngũ uẩn mà
quên đi bản tính vốn không
sinh không diệt. Ngũ ấm bản thể vốn là không,
đối với các pháp cũng giống như vậy. Duy chỉ có bản tính vô sinh, là
thường trụ bất biến, không sinh cũng không diệt, không có điểm khởi đầu và
cũng không có điểm kết thúc. Bản thể thường trụ đó, tuy thể của nó vốn
không sinh không diệt, thế nhưng nó lại tùy theo nhân duyên. Nếu tùy theo
duyên tịnh, lại được tu hành theo Phật pháp, nó sẽ phát triển không thôi,
tu Bồ tát hạnh, thượng cầu hạ hóa cho đến ngày thành Phật. Nếu tùy theo
duyên nhiễm, thì nó bị luân chuyển trong vô minh lục đạo, chấp trước thế
giới hư vọng là thực có, từ đó sinh tâm tham đắm gieo nhân khổ đau. Do đó,
người niệm Phật phải có chánh tri kiến về thế gian cũng như thân thể, hiểu
rõ thế gian tất cả vốn đều hư vọng, khổ, không, vô thường và vô ngã, nên
phát nguyện niệm Phật mà vãng sinh Cực Lạc, để xả ly thân thể và thế giới
Ta Bà đầy dẫy đau khổ này, được thọ nhận thân thể thanh tịnh và được sống
trong thế giới Tịnh độ đầy vui sướng.


8.-
Thời đại mạt pháp niệm Phật kiên cố


Vào tháng 4 năm 1965, Ðại sư Tuyên Hóa trụ trì chùa Kim Sơn tại nước Mỹ
trở về thăm Ðài Loan cùng với phái đoàn Phật tử nước ngoài. Trong một buổi
nói chuyện với Phật tử tại giảng đường Tuệ Nhật, Ðại sư có nói một câu làm
cảnh tỉnh rất nhiều người. Ðại sư nói: “Sau khi tôi xuất gia, trong thời
gian lưu lại ở phương Ðông hai năm, tôi nhận thấy có một thái độ rất bi
quan của nhiều tín đồ, họ cho rằng: “Thời đại mạt pháp tu hành cũng vô
dụng”. Thái độ đó nếu không chuyển hóa thì rất có hại cho những tín đồ
Phật giáo phương Ðông. Do đó, tôi kính khuyên chư vị, chỉ cần chúng ta
nhận chân được việc tu hành, thì thời đại mạt pháp làm gì đủ khả năng
chướng ngại được chúng ta”. Lời nói đó của Ðại sư như một lời cảnh tỉnh đã
làm cho nhiều người rất xúc động.


Thật vậy, phần lớn chúng ta là tín đồ Phật giáo đều biết rằng thời đại này
là thời đại mạt pháp. Pháp nhược ma cường, tại sao lại không quyết tâm tu
pháp môn Tịnh độ? Phải nên nhận thức được rằng chỉ có niệm Phật là bền
vững nhất. Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni thành đạo tại thế giới Ta Bà ngũ trược
này, được sáu phương chư Phật ca ngợi việc làm của Ngài thật hy hữu hiếm
có ở đời. Ðức Phật Thích Ca là hiện kiếp của Ðức Phật thứ tư. Hiện kiếp
Phật thứ nhất là Ðức Phật Câu Lưu Tôn Như Lai, vào kiếp này thọ mạng con
người là sáu vạn tuổi. Hiện kiếp Phật thứ hai là Ðức Phật Câu Na Hàm Mâu
Ni Như Lai, thọ mạng con người vào kiếp này là bốn vạn tuổi. Hiện kiếp
Phật thứ ba là Ðức Phật Ca Diếp Như Lai, thọ mạng của con người vào kiếp
này là hai vạn tuổi. Ðến thời kỳ Phật Thích Ca thì tuổi thọ con người chỉ
còn trên dưới một trăm tuổi. Ðiều đó chứng tỏ rằng thế giới Ta Bà chúng ta
đang sống hiện nay rất ô trược. Ðức Phật xuất hiện ở thế giới Ta Bà, nói
pháp 49 năm, những người có nhân duyên với Ngài tu hành trong hội Pháp Hoa
đều được Ngài thọ ký về sau thành Phật. Sau khi Phật diệt độ, thời đại
chánh pháp trụ thế ở đời được 500 năm, thời kỳ tượng pháp được 1000 năm.
Chúng sinh ra đời vào thời kỳ chánh pháp, cũng như sau thời kỳ tượng pháp
khoảng 100 năm, tu hành đều có thể chứng đạo. Duy chỉ có thời đại mạt pháp
cách Phật rất xa, nên phần lớn căn tính chúng sinh kém liệt, nghiệp chướng
sâu dày, trợ duyên ít, ngược lại chướng duyên thì nhiều. Người đọc Kinh Di
Giáo của Phật tuy có hiểu biết, song ít có người tu tập chứng ngộ. Có thể
thấy được rằng vào thời đại mạt pháp, nếu tu tập mà chỉ nương nhờ tự lực
thì đạo nghiệp khó viên thành. Chỉ nương nhờ tha lực là chính, tự lực phối
hợp với tha lực tu trì mới có khả năng thành tựu. Trong Kinh Ðại Tập có nói: “Thời
đại mạt pháp ức ức người tu hành, ít có một người chứng đạo, duy
chỉ có nương nhờ niệm Phật thì mới có thể thoát sinh tử”, có thể minh
chứng cho điều nói trên vậy.


Trong Kinh Tượng Pháp Quyết Nghi có nói: “Sau Ðức Phật diệt độ, thời kỳ
chánh pháp người tu trì giới bền vững được 500 năm, thời kỳ tượng pháp tu thiền định bền vững được 1000 năm,
đến thời kỳ mạt pháp người tu
niệm Phật bền vững được một vạn năm”. Từ khi Ðức Phật Niết bàn đến
nay thời gian đã trải qua hơn 1700 năm, chúng ta đã bước vào thời đại mạt pháp 200 năm. Vì thế thời đại ngày nay chính là
thời đại niệm Phật để liễu sinh thoát tử.


Pháp Chiếu Ðại sư là Tổ thứ tư Liên Tông. Vào một buổi sáng, lúc thanh
trai nơi tăng đường, ngài thấy trong bát cháo hiện ra bóng mây ngũ sắc,
trong mây ấy hiện rõ một cảnh sơn tự, phía Ðông Bắc sơn tự có một dãy núi,
dưới chân núi có một khe nước, phía Bắc khe nước có một cái hang bằng đá,
trong hang ấy có một ngôi chùa lớn, có biển treo ở trước đề tên Ðại Thánh
Trúc Lâm Tự. Mấy hôm sau, ngài lại thấy nơi bát cháo hiện ra cảnh chùa ấy,
trong chùa lại thấy có vườn cây, ao nước lầu đài tráng lệ nguy nga, có một
vạn (10.000) vị Bồ tát đang ở trong đó. Thấy cảnh lạ ấy, ngài mới đem hỏi
các bậc tri thức, có một vị cho rằng: “Sự biến hiện của chư Thánh khó thể
nghĩ bàn, nhưng nếu luận riêng về địa thế non sông, thì đó đích thực là
Ngũ Ðài Sơn vậy”. Nghe lời ấy, ngài có ý muốn đến xem Ngũ Ðài Sơn để xem
sự thật như thế nào. Mãi đến năm Ðại Lịch thứ năm, vào ngày mồng 6 tháng
4, Ðại sư cùng các bạn đồng tu đến được chùa Phật Quang ở huyện Ngũ Ðài.
Vào khoảng canh tư đêm đó, ngài thấy có một ánh sáng lạ từ xa chiếu đến
thân ngài, ngài liền lần theo ánh sáng đó mà đi, đi được 50 dặm thì đến
một dãy núi, dưới chân núi có khe nước, có cửa cổng bằng đá, nơi cửa cổng
có hai vị đồng tử đang đứng chờ ngài. Ngài theo chân hai vị đồng tử dẫn
đến một ngôi chùa cực kỳ nguy nga lộng lẫy, biển đề Ðại Thánh Trúc Lâm Tự.
Ngài vào chùa, lên giảng đường, thấy đức Văn Thù ở phía bên Tây, đức Phổ
Hiền Bồ tát ở phía bên Ðông, Pháp Chiếu Ðại sư bước đến chí thành đảnh lễ,
rồi quỳ thưa rằng: “Kính bạch Ðại Thánh, hàng phàm phu đời mạt pháp, cách
Phật đã xa, lại thêm bị chướng nặng nghiệp sâu, trí thức kém hẹp. Tuy có
Phật tính mà không biết làm sao cho hiển lộ, trong khi giáo pháp Phật quá
mênh mông. Chưa rõ pháp môn nào thiết yếu tu hành để cho mau được giải
thoát?”. Văn Thù Bồ tát bảo rằng: “Thời kỳ này chính là vào lúc các
ngươi nên niệm Phật, trong tất cả pháp môn không chi hơn là niệm Phật,
cúng dường Tam Bảo, phước huệ song tu, đó là cửa tu rất thiết yếu. Thở đời
quá khứ, ta nhờ quán Phật, niệm Phật, cúng dường Tam Bảo mà chứng được
“nhất thiết chủng trí”. Tất cả các pháp Bát Nhã Ba La Mật, những môn thiền
định rộng sâu, cho đến chư Phật cũng từ nơi niệm Phật mà sinh. Vì thế nên
biết “Niệm Phật là vua trong các pháp”. Ngài Pháp Chiếu lại hỏi rằng:
“Kính bạch Ðại Thánh, chúng con nên niệm Phật như thế nào?”. Ðức Văn Thù
lại đáp: “Về phương Tây của thế giới này, có Phật A Di Ðà là giáo chủ của
cõi Cực Lạc. Ðức Phật ấy có nguyện lực lớn không thể nghĩ bàn. Ngươi nên
niệm danh hiệu Ngài tiếp nối nhau không gián đoạn, thì khi mạng chung,
quyết định được vãng sinh, chẳng còn bị thối chuyển nữa”. Nói xong hai vị
Bồ tát đồng đưa tay xoa đầu ngài Pháp Chiếu và bảo rằng: “Do nơi ngươi
niệm Phật, không còn bao lâu nữa sẽ chứng quả Vô thượng Bồ đề. Nếu có
thiện nam tín nữ nào muốn thành Phật thì không có gì hơn là niệm Phật. Kẻ
ấy nhất định sẽ mau lên ngôi Chánh đẳng Chánh giác”. Ðược hai vị Ðại Thánh
thọ ký xong, ngài Pháp Chiếu vui mừng đảnh lễ rồi lui ra (Tham khảo “Tịnh
Ðộ Thánh Hiền” quyển thượng, tập 3).


Thật vậy, hai vị đại Bồ tát Văn Thù và Phổ Hiền còn phải khuyên răn chúng
sinh thời đại mạt pháp, nếu muốn thành Phật không có gì hơn là niệm Phật,
điều đó đã được hai vị Ðại Thánh thông qua Ðại sư Pháp Chiếu, trở lại thế
giới Ta Bà mà xiển dương vậy.


Ðạo Kính Ðại sư và Thiện Ðạo Ðại sư, trong các tập sách do hai
ngài trước
tác đều có dẫn chứng một đoạn trong “Kinh Nguyệt Kinh Tam Muội”,
thuộc Ðại
Tạng Kinh quyển thứ 47. Ðoạn kinh đó như sau: “Tất cả mười phương
ba đời
chư Phật, quá khứ, hiện tại và vị lai, đều học niệm Phật mà nhanh
chóng
chứng quả Vô thượng Bồ đề. Do đó nên biết ba đời chư Phật, đều
nhân nơi
niệm Phật mà được thành Phật. Có người lại hỏi Phật rằng: “Tại sao
không
niệm Phật trong mười phương, mà chỉ niệm Phật A Di Ðà?”. Ðức Phật
lại đáp: “Trong mười phương Phật thì Phật A Di Ðà là Phật thù thắng
nhất, cao quý
nhất, từ bi nhất. Lại nữa trong mười phương chư Phật, Phật A Di Ðà
là Phật
kết duyên cùng chúng sinh thâm sâu nhất. Hiện tại trong mười
phương chư
Phật, Phật A Di Ðà có nguyện lực nhiếp độ chúng sinh nhiều nhất.
Lại nữa,
hiện tại trong các thế giới Tịnh độ của mười phương chư Phật, thế
giới
Tịnh độ của Phật A Di Ðà là tốt nhất. Lại nữa, trong các thế giới
Tịnh độ
của mười phương chư Phật, thế giới Tịnh độ của Phật A Di Ðà là gần
với thế
giới Ta Bà nhất. Lại nữa, trong danh hiệu của các Ðức Phật, danh
hiệu Phật
A Di Ðà có công đức nhiều nhất”. Ngoài ra, trong Kinh Quán Vô
Lượng Thọ,
Ðức Phật cũng có nói: “Nếu có người nào niệm danh hiệu của một vị
Phật
hay hai vị Bồ tát, thì trừ diệt được những tội trong vô lượng
kiếp, hà
huống gì là người đó nhớ Phật, tưởng Phật mà chí tâm niệm Phật.
Các ông
nên biết những người niệm Phật đó giống như hoa Phân đà lợi ở
trong cõi
người vậy”.


Tóm lại, thời đại mạt pháp này chính là thời đại niệm Phật. Ðiều đó đã
được chư Phật nhắc nhở chúng ta, thông qua chư Tổ và các bậc Ðại Thánh, vì
thế chúng ta hãy cùng nhau tin sâu, nguyện thiết mà niệm Phật, nhất định
sẽ được vãng sinh Tịnh độ, chứng quả Vô thượng Bồ đề.



9.- Qua lại tam giới chứng đắc pháp
thân thanh tịnh


Cổ đức có nói: “Hãy diệt sự suy nghĩ, mà sống với pháp thân thanh tịnh”.
Thật vậy, sự suy nghĩ của chúng ta phát khởi liên tục và sinh diệt, diệt
rồi sinh trong từng sát na, không có lúc nào dừng. Từ suy nghĩ và ý niệm
liên tục đó đã tạo nên nhiều nghiệp cảm khác nhau, kiến hoặc, tư hoặc,
trần sa hoặc, căn bản vô minh, đều là những nghiệp cảm vô cùng quan trọng.
Là người tu đạo, tất cả những nghiệp cảm đó cần phải nhất nhất đoạn tận,
mới có thể chứng được pháp thân thanh tịnh mà bước vào quả vị Phật. Song,
việc đoạn trừ kiến, tư hoặc và các phiền não là cả một lộ trình dài thăm
thẳm. Ðoạn trừ nghiệp cảm, chứng pháp thân, lời nói nghe qua sao mà dễ
dàng, thế nhưng nếu dựa vào tự lực để thoát khỏi tam giới, cần phải trải
qua ba đại A tăng kỳ kiếp, con số thời gian đó là cả một lộ trình dài đầy
vất vả gian lao. Hà huống gì thời đại mạt pháp, chúng sinh túc nghiệp thâm
trọng, chỉ có cách xả tự lực, nương nhờ Phật lực, mới có thể thoát ly tam
giới.


Trong công phu tu đạo, có hai cánh cửa tự lực và tha lực. Người tu tự lực
là chỉ y theo lời dạy của Phật trong tam tạng Thánh giáo mà tu hành. Từ sơ
phát tâm, nếu không có chướng duyên, phải trải qua một đại A tăng kỳ kiếp
mới có thể đạt đến sơ địa (tức là Hoan Hỷ Ðịa). Lại phải trải qua một đại
A tăng kỳ kiếp tu hành nữa thì hành giả mới có thể đạt đến Bát địa (tức là
Bất Ðộng Ðịa). Trong khi đó hành giả tu tập theo tha lực, niệm Phật A Di
Ðà, theo Kinh Di Ðà thì nhanh nhất là một ngày, chậm nhất là trong bảy
ngày, đạt được nhất tâm bất loạn, liền vãng sinh Cực Lạc. Theo Kinh Lăng
Nghiêm thì ở địa vị thứ bảy của thập trụ Bồ tát (Bất Thối Trụ). Nói theo
Kinh Niệm Phật ở địa vị thứ tám của thập đại bộ kinh Bồ tát (Bất Ðộng
Ðịa). Tuy dùng ngôn từ khác nhau nhưng đều chỉ cho ngôi vị bất thối
chuyển. Nói theo Kinh Di Ðà được ở ngôi bất thối chuyển là đắc quả A nậu
đa la Tam miệu Tam Bồ đề. Người đã được quả vị bất thối chuyển là người có
năng lực không còn sợ bị thối chuyển mà tiến thẳng đến quả vị thành Phật.
Do đó người tu đạo không có chi tốt hơn là nương vào pháp môn Tịnh độ, cầu
vãng sinh để được ra khỏi tam giới thoát ly sinh tử luân hồi. Ấn Quang Ðại
sư có nói: “Nếu luận về việc xuất ly tam giới, thì không có một năng lực
nào có thể giúp hành giả tu giới định tuệ mà có thể đoạn tận phiền não và
nghiệp cảm. Giả như nghiệp cảm đoạn trừ được chút ít thì người tu vẫn trở
lại tam giới như cũ. Hà huống gì chúng sinh thời mạt pháp, thiện căn kém
cỏi, mạng sống ngắn ngủi, mà nương vào tự lực tu hành, ức ức kiếp phiền
não mới chỉ đoạn trừ được chút ít. Nếu muốn thoát tam giới, chỉ có y theo
pháp môn niệm Phật, tin sâu, nguyện thiết, niệm danh hiệu Phật, cầu sinh
Tây phương, kiêm tu luân thường, thận trọng không làm các việc ác, chỉ làm
các việc lành, thì không còn sợ thối chuyển, được vãng sinh Tịnh độ. Ðã
được vãng sinh thì siêu phàm nhập thánh, thoát ly sinh tử, vĩnh kiếp xa
lìa khổ não, thọ hưởng vui sướng, công đức thuần thục liền sinh vào hoa
sen thượng phẩm. Người tu niệm Phật, nếu công phu chưa được thành thục,
cũng được đới nghiệp vãng sinh, dự vào hàng thánh. So sánh lợi ích giữa tự
lực và tha lực, thật không khác một trời một vực” (theo Hoằng Sơn Liên Xã,
phần Duyên khởi).


Người tu niệm Phật được vãng sinh Tịnh độ, đã được vãng sinh thì từ hoa
sen mà hóa sinh. Khi còn nằm trong hoa sen, những dư nghiệp sẽ hoàn toàn
đoạn tận, hoa nở liền thấy Phật ngộ vô sinh pháp nhẫn, toàn thân pháp tính
hiện tiền, được thọ thân nam, thọ mạng bằng hư không, không có sinh, già, bệnh,
khổ. Tại thế giới Tịnh độ, nếu hành giả tu tập một đời tinh tấn, đời sau
được quả nhất sinh bổ xứ, tức là được chuẩn bị bổ nhiệm thành Phật. Do đó
chỉ có niệm Phật vãng sinh, mới có thể ra
khỏi tam giới, điều đó chứng tỏ pháp
môn Tịnh độ
có lợi ích rất lớn, không có pháp môn nào sánh bằng.

Tam
giới là chỉ cho ba cõi Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. 1. Dục giới: Dục là chỉ cho sự ham muốn. Chúng
sinh ở cõi này chỉ thuần ham muốn
về
thực phẩm, ước muốn vật chất và dục
vọng thể xác.
Nói chung ở cõi
này dục vọng rất thịnh hành. 2.
Sắc giới: Cõi này không có
sự ham muốn như cõi dục, nhưng hình tướng vật chất, thân thể, cung điện ở
cõi này rất vi diệu và thù thắng. Các
vị trời ở cõi
này chỉ thuần sống trong thiền định, không có tướng
nam nữ như cõi Dục giới. 3. Vô sắc giới: Cõi này
hoàn toàn không còn sắc chất, hình thù
mà chỉ có
thuần các nghiệp thức trú trong thiền định thâm
diệu. A lại da thức tuy đã hàng phục ở
trong thiền
định, thế nhưng
những hạt giống nghiệp thức vẫn

còn tồn tại. Tam giới có tất cả 28 cõi trời. Từng trời
cao nhất có
tên gọi Phi Tưởng Phi Phi Tưởng. Người tu thiền đạt được định Phi tưởng
phi phi tưởng sẽ sống ở cõi trời đó. Tuổi thọ ở cõi này là tám vạn kiếp,
có thể nói là khá thọ. Tuy nhiên, có tuổi thọ tám vạn kiếp như vậy, song,
đến khi tuổi thọ hết cũng tùy theo
nghiệp lực của tâm thức mà
bị rơi lại trong luân hồi, so với thế
giới Tịnh độ khác nhau rất xa. Phàm là người tu theo đạo tiên nếu được lên
cõi trời, nghiệp thức cũng chưa hết, đến khi hưởng hết phước cũng trở lại
trong luân hồi, trôi lăn trong lục đạo, tất cả đều không cứu cánh.


Kinh Pháp Hoa phẩm “Thí Dụ”, quyển thứ
tư, có nói rằng: “Tam giới không an,
giống như nhà lửa, chúng sinh khổ đầy dẫy, thường có sinh, già bệnh, chết,
ưu não, giống như ngọn lửa bừng cháy, không có lúc dừng”. Do đó nhà Phật
lấy pháp thanh tịnh dạy đạo cho chúng sinh, nhằm mục đích giúp chúng sinh
thoát tam giới, xa lìa khỏi lục đạo luân hồi, thoát ly sinh tử. Pháp môn
Tịnh độ, tin sâu, nguyện thiết, niệm Phật vãng sinh là con đường vắn tắt
giúp chúng sinh được thoát ly tam giới, là pháp môn tối viên mãn nhất.


B. THỰC TIỄN

Ấn
Quang Ðại Sư có nói: “Pháp môn niệm Phật là pháp bối trần hiệp giác, phản
bổn quy nguyên, là diệu pháp tối thực tiễn”.

1.
Thực tiễn là có tín, nguyện và hạnh. Người niệm Phật chỉ nương vào ba món
tư lương đó, không nên tu thêm bất kỳ pháp môn nào nữa.

2.
Người niệm Phật nên có tín, nguyện, quyết tâm xả ly thân thể và cõi Ta Bà
đầy ô trược, nguyện vãng sinh Tịnh độ thành Phật độ chúng sinh cùng thoát
ly biển khổ sinh tử.   

3.
Người niệm Phật cần phải nghiêm trì ngũ giới, trì trai mà niệm Phật.


4. Ngũ vị tân không được dùng, là người
Phật tử đã thừa biết điều ấy, lại
không được hút thuốc vì khi hút, làm cho thân khẩu trở nên hôi hám, không
thích hợp với việc niệm Phật thanh tịnh.

5.
Người niệm Phật phải giữ giới dâm, thường quán thân bất tịnh. Trong “Thập
Nghi Luận” của Ðại sư Trí Giả có nói rõ điều đó.

6.
Nói lưỡi đôi chiều, nói lời hung ác của giới vọng ngôn cũng nên tuân giữ.

7.
Bình thường tất cả các loại rượu không được uống, không được mua bán rượu,
ngay cả rượu thuốc cũng không nên uống.

8.
Khi xem kinh, đọc sách không được nằm.

9.
Nếu nhà cửa quá chật hẹp không thể đặt bàn thờ để lễ bái, nên hướng về
phía Tây mà lễ lạy. Phàm khi tôn trí bàn thờ Phật, nên đặt giữa nhà, không
nên đặt những nơi ẩm thấp, thiếu ánh sáng, hoặc nơi để tạp vật. Trong
phòng ngủ không được tôn thờ hình ảnh Phật, Bồ tát, tượng ảnh để thờ, nên
lấy Tam Thánh, hoặc Phật Bổn Sư, ngoài ra không được thờ các hình tượng
tạp nhạp khác.

10.
Người sơ cơ niệm Phật, nên đọc ba kinh Tịnh độ (Kinh Di Ðà, Quán Vô Lượng
Thọ Kinh, Vô Lượng Thọ Kinh). Có thể tham khảo thêm các loại sách luận
liên quan Tịnh độ, như: “Văn Sao tập” của Ấn Quang Ðại sư, sách “Tịnh Ðộ
Thánh Hiền”, “Tịnh Ðộ Thập Nghi”… tiến thêm một bước có thể đọc thêm các
Kinh Lăng Nghiêm, chương “Ðại Thế Chí Bồ tát Niệm Phật Viên Thông”, “Phổ
Hiền Hạnh Nguyện Phẩm”. Ngoài ra, dù có nghe ai nói kinh này hay, chú kia
tốt cũng không bỏ pháp niệm Phật mà tin theo tà kiến. Ngoại trừ các kinh
chú do chính kim khẩu Phật nói.

11.
Người niệm Phật nếu công việc quá bận rộn, nên áp dụng phương pháp thập
niệm. Phải định cho mình thời khóa tu tập rõ ràng, ngoài ra trong các oai
nghi nên tùy duyên mà niệm Phật, nhớ lúc nào nên phát khởi niệm lúc đó. Dù
sao có tâm chí thành, nhớ Phật, niệm Phật, cầu vãng sinh vẫn tốt hơn những
người không có niệm. Ðối với người nhàn rỗi, có thể tăng cường thời khóa,
trong các oai nghi, nên luôn dụng công niệm Phật, mặc niệm cho nối tiếp
nhau không để gián đoạn.   

12.
Người niệm Phật, bình thường có làm được phước điền gì nên thành tâm hồi
hướng vãng sinh Tây phương. Không nên cầu hưởng phước báo nhân thiên mà
chướng ngại cho việc vãng sinh.

13.
Người niệm Phật có Phật gia hộ, đó là một thuận duyên rất lớn. Thế nhưng
do nghiệp lực quá nặng, trong quá trình dụng công niệm Phật tâm khó chuyên
nhất, hành giả nên chí tâm sám hối, tu tập thêm các phước lành như: Bố
thí, cúng dường, phóng sinh, ấn tống kinh sách thì nghiệp lực có thể tiêu
trừ đôi phần, công phu niệm Phật có thể được chuyên nhất hơn.

14.
Người niệm Phật trong khi niệm, nên suy tưởng như mình đang lâm chung,
chuẩn bị đọa địa ngục, thì tâm không khẩn thiết, cũng trở nên khẩn thiết
(lời Vĩnh Gia Ðại sư).  

15.
Người niệm Phật không nên chuyên chú sự tướng bên ngoài (tức là chuyên lo
chưng diện bề ngoài, mua danh, cầu lợi) mà còn phải lo việc dứt trừ các sự
tướng trong nội tâm (Ấn Quang Ðại sư).

16.
Khi niệm Phật nếu như thường xuyên lâm vào cảnh hôn trầm, buồn ngủ, đó
không phải là do sức yếu, mà chính là do nghiệp chướng khiến xui ngăn cản,
nên khẩn thiết chí thành mà niệm Phật. Nếu niệm không ra câu, ra tiếng
được thì phải thường nhớ tưởng đến Phật. Khi nào thấy có thể niệm được nên
ứng thanh mà niệm (niệm ra tiếng). Như thế lâu ngày, nghiệp sẽ tiêu trừ
(Ấn Quang Ðại sư).

17.
Người niệm Phật phải giữ sao cho “tâm niệm” cùng với “hành vi” luôn luôn
thuận hòa, hiền hậu mới có thể thành tựu được công đức, phước lành. Nếu
chẳng như thế, mà lại còn kiêm tu thêm gian xảo, thâm hiểm, ác độc… thì
cũng như chót núi đá trơ vơ, mưa bao nhiêu cũng không có đọng lại chút
nước nào, mà cây cỏ cũng không sao sinh trưởng lên nổi (Ấn Quang Ðại sư).

18.
Người niệm Phật phải có tin sâu, nguyện phải cho thiết tha. Mỗi ngày ít
nhất tự tâm phát nguyện vãng sinh ba lần, phải tha thiết có tâm cầu liễu
sinh thoát tử, có như thế mới thành tựu việc vãng sinh Tịnh độ.     

 

 


TỪ
PHÁP MÔN TỊNH ÐỘ NÓI ÐẾN


ÐẠI THỪA VÀ TIỂU THỪA

 


Trương Tuệ Minh
 


Phật pháp là pháp pháp bình đẳng, hoàn toàn không có cao thấp, tu tập bất
kỳ pháp môn Phật pháp nào, cũng có công đức và cũng có thể thành Phật.
Phật pháp vốn không phân biệt Tiểu thừa và Ðại thừa. Phật dạy vô lượng
pháp môn, chẳng qua là tùy bệnh mà cho thuốc. Vì chúng sinh nghiệp lực
không giống nhau, tâm lượng lại có lớn nhỏ, Phật phương tiện dẫn đạo chúng
sinh nên nói Tiểu thừa và Ðại thừa. Tất cả các pháp, vốn là không hai,
không khác, đồng về một thật tướng.


Trong các pháp môn, chỉ có pháp môn Tịnh độ là đầy đủ phương tiện nhiếp độ
tất cả các căn chúng sinh, thượng, trung, hạ. Từ kẻ ngu dốt cho đến người
trí, trên các bậc Thánh nhân, dưới cho đến phàm phu nếu người nào có tin
sâu, nguyện thiết, hành chuyên, phát nguyện vãng sinh, đều có thể thành
tựu. Vì pháp môn Tịnh độ lấy bốn chữ “A Di Ðà Phật” làm cương yếu tu trì,
phương pháp đơn giản, dễ thực hành, lại thực tiễn, đầy lý nghĩa thâm sâu.
Vì thế từ xưa đến nay, các bậc Thánh nhân thường nói: “Một câu A Di Ðà
Phật là vua các pháp”.


Pháp môn Tịnh độ đã thù thắng như vậy rồi, tại sao Như Lai lại sáng lập
thêm tám vạn bốn nghìn pháp môn nữa làm gì? Vì Như Lai thấy được căn cơ
chúng sinh phần lớn đều không giống nhau, nhân duyên lại thiên sai vạn
biệt. Nếu như không phương tiện tạo nên nhiều pháp môn thì không thể nào
độ hết tất cả chúng sinh được. Chẳng qua các pháp môn khác cũng từ pháp
môn Tịnh độ mà lưu xuất, tu các pháp môn khác chung quy cũng trở về pháp
môn Tịnh độ. Người tu pháp môn Tịnh độ nếu đạt đến tu trì cao thì không có
pháp môn nào mà không đắc.


Phật nói Tịnh độ ở phương Tây, chúng ta có tin hay không là một vấn đề,
cũng không chấp trước làm gì, chẳng qua đó chỉ là một thí dụ, vì mặt trời
vốn mọc phương Ðông và lặn ở phương Tây. Phật lấy phương Tây làm thí dụ để
cho chúng sinh quy túc về đó. Thật ra, thế giới Tịnh độ không chỉ có giới
hạn ở phương Tây mà bao trùm khắp cả hư không pháp giới. Như vậy, các vị
trí Ðông Tây có cố định hay không? Chẳng qua chúng sinh căn cơ có lợi
độn. Ðối với người có căn tính chậm chạp, tâm lượng nhỏ hẹp, không thông
hiểu tự tâm, chỉ tham cầu Phật ở bên ngoài, Ðức Phật phương tiện, tùy bệnh
mà cho thuốc, nên chỉ cho họ thế giới Tịnh độ ở phương Tây. Ðối với người
có căn tính lanh lợi, tâm lượng rộng lớn, Phật dạy thế giới Tịnh độ ở tự
tâm, tâm tịnh thì Phật độ tịnh, tâm nhiễm thế giới Tịnh độ cũng trở thành
ô trược. Do đó, có thể thấy được Tịnh độ Tây phương cũng do tâm mà sở
hiện. Nếu tự tâm chúng ta không thanh tịnh thì thế giới Tịnh độ cách xa
mười cõi ức Phật, ngược lại tâm thanh tịnh, thì thế giới Tịnh độ chỉ trong
một niệm, một khảy móng tay. Thế nhưng, luận về việc vãng sinh thì ngày
nay đa số người được vãng sinh là ông già bà cả, những người có căn tính
thấp kém, trong khi đó ít thấy người trí thức hay học giả vãng sinh là
phát xuất từ nguyên nhân nào? Vì các bậc học giả trí thức phần lớn bị mắc
vào sở tri chướng, họ chấp lý mà quên sự, cứ cho Phật tại tâm, tâm thanh
tịnh thì Phật độ tịnh, từ đó bỏ quên sự, rồi không thực hành. Vì vậy, các
bậc Tổ sư sợ chúng ta bỏ lý mà quên sự, cho nên có nói: “Lý tuy đốn ngộ,
nhưng sự phải lần lượt tu hành” là vậy. Người tu Tịnh độ phải có lý sự
viên thông, không được chấp lý mà quên sự.        


Như vậy tóm lại, thế giới Tịnh độ cứu cánh là có thật hay không?
Xin thưa! Như chúng ta hiện nay đang ở thế giới Ta Bà, đều nhận thức thế
giới này
là thế giới đầy ô trược là có thật, thì thế giới Tịnh độ bằng bảy
báu
trang nghiêm cũng chính xác là có thật. Ðiều đó đã được Phật nói
trong các
kinh Tịnh độ như Quán Vô Lượng Thọ Kinh, Vô Lượng Thọ Kinh và Kinh
Di Ðà,
ngoài ra các kinh Ðại thừa, cũng như lịch đại Tổ sư cũng đều tán
thán và
khuyên răn chúng sinh nên về thế giới đó mà tu hành. Chư Tổ, nhất
là chư
Phật và chư đại Bồ tát không lẽ lại nói dối chúng ta, do đó đối
với thế
giới Tịnh độ chúng ta phải nên tin sâu, không nên có nghi ngờ gì
hết.
Người tu Tịnh độ có bốn phương pháp thực hành là: 1. Trì danh niệm
Phật.
2. Quán tượng niệm Phật. 3. Quán tưởng niệm Phật. 4. Thật tướng
niệm Phật.
Trong bốn phương pháp đó thì Trì danh niệm Phật là thịnh hành hơn
cả. Vì
người tu trì danh niệm Phật, nếu đạt được đến nhất tâm bất loạn
thì nghìn
người tu, nghìn người được vãng sinh. Do đó, hành giả đang tu Trì
danh
niệm Phật nên có tin sâu, nguyện thiết, niệm cho đến ngày lâm
chung, nếu
giữ cho tâm không tạp loạn mà chỉ có thuần một niệm niệm Phật
thanh tịnh,
liền có cảm ứng Phật A Di Ðà hiện ra tiếp dẫn vãng sinh Tịnh độ.
Ðiều đó
hoàn toàn có thật không có chi mà nghi ngại. Bình thường có một
hạng
người, tuy không biết đạo niệm Phật, thế nhưng đến phút lâm chung,
gặp
được thiện hữu tri thức khai thị, do túc nghiệp thiện căn nhiều
đời gieo
hạt giống niệm Phật, nên phát khởi tâm tha thiết niệm Phật cũng
được vãng
sinh.


Người vãng sinh Tây phương còn gọi là đới nghiệp vãng sinh. Vì sao? Vì
một khi chúng ta khởi tâm động niệm đã là tạo nghiệp rồi. Song, người vãng
sinh Tây phương đến lúc lâm chung, các tư tưởng thiện ác hiện đời cũng như
quá khứ chưa khởi hiện hành, mà chỉ có thuần một niệm thanh tịnh là niệm
Phật, mà một niệm thanh tịnh cũng gọi là nghiệp, vì thế tu Tịnh độ còn
được gọi tu tịnh nghiệp, hay người vãng sinh Tây phương còn gọi là đới
nghiệp vãng sinh là vậy.


Người muốn đới nghiệp vãng sinh, cần phải gia công tu hành. Nếu như bình
thường miệng niệm Phật, mà tâm nhớ nghĩ chuyện thế gian thì đến lúc lâm
chung nói đến việc vãng sinh thật khó. Vì sao? Vì đến lúc lâm chung, một
mặt do tâm niệm Phật hằng ngày không tha thiết, mặt khác bị bệnh khổ
nghiệp chướng hiện hành, thì biết dựa vào đâu mà phát khởi tâm niệm Phật.
Ðó cũng chính là phần giải đáp cho câu hỏi tại sao người niệm Phật nhiều
mà chỉ có số ít được vãng sinh.


Phương pháp Quán tưởng và Quán tượng niệm Phật chỉ là phương tiện giúp
hành giả thu nhiếp vọng tâm chứ không có cứu cánh. Vì sao? Kinh Kim Cang
có nói: “Phàm những vật có hình tướng tất cả đều hư vọng”, nghĩa là bất kỳ
sự việc gì đã có hình tướng hoàn toàn đều là hư vọng, do đó Quán tưởng hay
Quán tượng đều nằm trong phạm vi hư vọng, vì vậy không được gọi là cứu
cánh. Chỉ có ngộ đến “vô sinh” mới được coi là chứng được thật tướng;
chứng được thật tướng mới được xem là cứu cánh. Thật tướng là đối với
tướng hư vọng mà giả lập, thật tướng vốn là vô tướng, đã là vô tướng thì
có thể quán và tưởng được không?

Vì vậy, chỉ có Thật tướng niệm Phật là không có dính mắc vào tướng Phật cũng
như tướng niệm, đạt đến chỗ niệm mà không niệm, không niệm mà niệm, đó là
niệm Phật tam muội. Khi niệm đạt đến trình độ “năng” là người niệm Phật,
“sở” là câu niệm Phật không hai, thì thật tướng hiện tiền. Không cần phải
chờ đến phút lâm chung nhờ Phật tiếp dẫn nữa mà hiện đời đã thân hành
chứng Bồ đề vô tướng, đó mới là cứu cánh tối thượng.

Căn
cứ những điều đã nói chúng ta thấy được rằng, tuy cũng đồng là một pháp
môn Tịnh độ thế nhưng cũng có phân chia thành Ðại thừa và Tiểu thừa. Người
niệm Phật mà chỉ cầu vãng sinh là Tiểu thừa, Thật tướng niệm Phật là Ðại
thừa. Phương pháp niệm Phật thì pháp nào vốn cũng rất tốt, chẳng qua một
bên cầu vãng sinh Tây phương là thuộc về hữu tướng, hữu tướng thì có chỗ
trụ, mà còn chỗ trụ là đã có giới hạn,
có giới hạn nên gọi là
Tiểu thừa. Còn Thật tướng niệm Phật, niệm
đến trình độ toàn thể chân tâm hiển lộ, liền chứng được thật tướng. Thật
tướng thì không có hình tướng, không có hình tướng thì không có giới hạn,
cho nên gọi là Ðại thừa. Hơn nữa, người tu được đới nghiệp vãng sinh, luôn
luôn phải trở lại Ta Bà hành Bồ tát đạo. Trong khi đó người đạt được Thật
tướng niệm Phật, niệm Phật là Phật, thân là thân
Phật, hiện đời có thể độ sinh, điều đó
rất thù thắng.

Thế
nhưng, chỉ vì cảnh giới Thật tướng niệm Phật quá cao, nên không có người
nào có thể thực hành được. Vì hiện đời phần lớn chúng ta đều có căn cơ
thấp kém, nên không thể tương ưng được với phương pháp Thật tướng niệm
Phật. Chúng ta có thể đọc Kinh Kim Cang nhiều lần, vì đây là một bộ kinh
thuộc về thật tướng Bát Nhã. Ðọc nó cũng có lợi, trước tiên gieo chủng tử
Bát Nhã vào tâm thức, tiến cao hơn có thể ngộ được Thật tướng niệm Phật,
hoặc được kiến tính. Không thì trong ba pháp: Trì danh, quán tượng, quán
tưởng, chọn lấy một pháp thích hợp rồi gia công tu hành, đắc được nhất tâm
bất loạn cũng có thể vãng sinh. Tóm lại, không luận là hạng người nào, nếu
có thể tin sâu, nguyện thiết niệm một câu “A Di Ðà Phật” là đã có thể gieo
được thiện căn, công đức đã vô lượng rồi. Ðiều thiết yếu là chúng ta phải
bỏ đi tất cả những tâm hơn thua, ích kỷ, ngã mạn, cống cao… vì đó chính
là những chướng ngại rất lớn cho việc vãng sinh, nếu người tu hành mà
không trừ diệt những thứ đó thì không có một pháp nào mà đắc được, lại
thêm hoang phí thời gian và sức lực tu hành.

Chỗ
cứu cánh của việc học Phật là chuyển hóa tâm thành thanh tịnh. Tất cả pháp
môn đều có thể làm cho tâm hành giả tu hành trở nên thanh tịnh. Vì thế có
nói “Pháp môn tuy vô lượng, nhưng chỗ cứu cánh không hai” là ý vậy. Pháp
môn Tịnh độ thống nhiếp tất cả các pháp môn, tất cả các pháp môn cũng
thống nhiếp pháp môn Tịnh độ. Thí như, Thiền tông trọng ở minh tâm, học
giả Thiền tông thường nói, tu hành Phật pháp nếu tự tâm không thông, thì
không thể thành tựu một pháp gì, vì ngoài tâm không có một pháp nào có thể
đắc. Ðối với pháp môn Tịnh độ, tu pháp trì danh, nếu có thể trì đến nhất
tâm bất loạn thì cảnh giới nhất tâm đó không phải là thiền chứ là cảnh
giới gì? Trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Phật có nói: “Tâm làm Phật thì
tâm là Phật”, đó chính là thiền chứ cái gì? Lại nữa, tu Thật tướng niệm
Phật, nếu đạt đến tam muội hiền tiền liền nhập vào chánh định. Nhập vào
chánh định là cảnh giới thiền, ngoài ra không có cảnh giới nào khác. Vì
thế, trong Kinh Ðại Tập có nói: “Nếu người nào niệm Phật thì người đó
được gọi là tu thiền vô thượng thậm thâm vi diệu”. Ðã nói là niệm Phật, tại sao
lại còn nói tu thiền? Qua đó, cho chúng ta thấy được niệm Phật chính là
thiền vậy.


Tịnh độ và Mật tông cũng không sai biệt, bốn chữ “A Di Ðà Phật” chính là
tổng trì tất cả các kinh điển, mà tổng trì cũng là ý nghĩa của mật chú.
Niệm Phật mà không tác ý và mong muốn thành Phật thì chính là mật chú. Bốn
phương pháp niệm Phật của Tịnh độ và sơ quán tưởng trì chú của Mật tông
hoàn toàn giống nhau. Chẳng qua tu Tịnh độ, trong bốn phương pháp niệm Phật, chọn
lấy một pháp rồi chuyên tu,
trong khi đó tu mật phải theo thứ lớp mà tiệm nhập. Chỉ có điểm
khác nhau như vậy.


Do đó có thể thấy được, Thiền chính là Tịnh, Tịnh chính là Mật, một là tất
cả, tất cả là một. Tại sao lại có phân biệt đại tiểu? Chỉ vì hàng hậu học
chúng ta, chỉ nghiên cứu một pháp, đối với các pháp còn lại không thông,
từ đó cho pháp mình là lớn, là Ðại thừa, có ai chấp trước cũng sẵn sàng
tranh biện. Do chấp trước sự tướng nên tư tưởng bị sự tướng trói buộc.
Thật ra chỗ cứu cánh của Phật pháp không đại, tiểu mà tất cả các pháp môn
chung cuộc đều quy về một thừa. Niệm Phật đạt đến tam muội hiện tiền, tu
Thiền đạt được minh tâm kiến tính, tu Mật đạt đến tam mật nhất như, tất cả
không ngoài mục đích chuyển hóa tâm thức trở thành thanh tịnh, tâm thanh
tịnh thì thành Phật có gì là khác nhau.


Pháp môn tu học của Phật giáo tuy nhiều, thế nhưng trì giới được xem là
quan trọng nhất. Giới có nhiều loại khác nhau, nhưng cũng không ngoài hai
loại giới: Giới tâm và giới thân. Thân là không vọng động, tâm là không
vọng tưởng. Không luận là Ðại thừa hay Tiểu thừa, nếu có trì giới thì được
xem là Phật pháp, không trì giới thì không phải là tu theo Phật pháp. Ðại
thừa hay Tiểu thừa phải xem trọng giới luật, có khác nhau ở chỗ xem trọng
giới này hay giới nọ. Tu Ðại thừa, thường thường vì hằng thuận theo chúng
sinh, tùy duyên làm lợi ích cho tha nhân, tự lợi lợi tha, cho nên trọng ở
giới tâm. Tu theo Tiểu thừa, vì phải giữ gìn gia nghiệp Như Lai, trong bốn
oai nghi đi đứng nằm ngồi, cần phải giữ gìn thanh tịnh trang nghiêm để cho
người đời kính trọng Phật pháp, vì thế coi trọng ở giới thân. Bất luận là
Tiểu thừa hay Ðại thừa, ngũ giới vẫn là giới điều căn bản. Bất kỳ một loại
giới luật nào, chỉ cần chúng ta tha thiết trì giữ, không những có công đức
rất lớn mà còn tạo nên niềm tin, dẫn người khác vào đạo. Bằng ngược lại,
đã thọ giới mà không giữ gìn, chẳng những mang tội mà còn tạo cơ hội cho
ngoại đạo phỉ báng Phật pháp, đồng thời làm mất chánh kiến đối với những
người sơ học. Qua đó chúng ta thấy được rằng, nếu có trì giới thì Tiểu
thừa cũng tốt, Ðại thừa cũng tốt, mục đích cứu cánh đều đưa đến thành
Phật. Nếu không trì giữ giới luật, dù tu Tiểu thừa hay Ðại thừa, chẳng
những không thành tựu được gì, mà lại còn bị đọa lạc nữa là khác.


Giới Ðại thừa không trụ ở tướng, giới Tiểu thừa thì trụ ở tướng. Trụ tướng
thì dễ thấy, dễ phát hiện, không trụ tướng thì khó thấy khó biết, người
khác không thể nhìn thấy được, do đó phải giữ gìn, so với giới tướng thì
khó giữ hơn nhiều.


Ðứng trên mặt giới tướng và giới tính, tuy có phân biệt khó dễ như thế,
thế nhưng công đức trì giới cả hai hoàn toàn giống nhau, do đó chúng ta
phải tự mình giữ giới không nên nói lỗi của người. Trong Kinh Duy Ma Cật
có nói: “Tự mình nên giữ giới, đừng nên chê trách lỗi người”, có như thế
mới thích hợp với tông chỉ của Phật pháp. Có rất nhiều người, do không
thông hiểu lý sự, tự mình đặt ra rồi phân biệt môn này môn khác, hủy báng
người này chê bai người kia, thật đáng tiếc vô cùng. Cụ thể lấy giới đoạn
dâm, giới này là giới trọng căn bản của người học Phật. Theo Tiểu thừa là
đoạn dâm, vì đó là cội gốc liễu sinh thoát tử. Thế nhưng đối với Ðại thừa
Bồ tát, tâm không trụ tướng, tâm không lìa tướng, Bồ tát tại gia chỉ đoạn
tà dâm, không đoạn chánh dâm. Tại sao? Vì Bồ tát tùy căn cơ mà thị hiện,
hòa mình vào thế tục, để giáo dục chúng sinh, nên nhất thời phải đồng sự,
có hành dâm. Tuy nhiên, họ hành động với tâm vô nhiễm, không có tâm tham
ái như chúng sinh. Bồ tát thị hiện nhiều thuận cảnh, nghịch cảnh khác
nhau, phàm phu chúng sinh không thể đo được. Trong Kinh Viên Giác, Bồ tát
Di Lặc hỏi Phật: “Bạch Thế Tôn! Những hàng Bồ tát muốn vào trần lao,
phải dùng những phương tiện nào?”. Phật đáp: “Bồ tát phải dùng tâm đại
bi, thị hiện thuận cảnh, nghịch cảnh, đồng sự làm phương tiện nhập thế”.
Bồ tát Phổ Giác lại hỏi Phật: “Bạch Thế Tôn, chúng sinh đời mạt pháp nên
cầu những người nào, nên y theo pháp gì để không rơi vào tà kiến?”. Phật
đáp: “Chúng sinh phải cầu tất cả người có chánh tri kiến, tâm không trụ
tướng, chẳng chấp vào cảnh Thanh văn, Duyên giác, tuy hiện trong trần lao
mà tâm hằng thanh tịnh, dù có thị hiện những lỗi lầm mà vẫn tán thán hạnh
thanh tịnh…”. Phật còn nói: “Bồ tát tuy thị hiện các thứ tội lỗi mà tâm
không kiêu mạn, huống nữa là tài sản vợ con quyến thuộc”. Qua đó chúng ta
thấy, tu theo pháp Ðại thừa là không trụ tướng, tuy Bồ tát thị hiện các
hành động bất chính tà vạy, thuận cảnh, nghịch cảnh, thế nhưng tâm vẫn
thanh tịnh vô sự, không đắm trước chấp thủ, nhiễm ô như chúng sinh. Nếu
người tâm không thanh tịnh, mạo miệng xưng ta đây là Ðại thừa, không trụ
tướng, rồi hành động các nghịch cảnh Bồ tát, thì người này không tránh
được A Tỳ địa ngục, vì luật nhân quả vốn không sai khác. Vì thế, đã là
người học Phật, chúng ta phải luôn luôn có chánh tri kiến, phải luôn luôn
nhận thức đâu là tà, đâu là chánh, pháp nào phù hợp hay không phù hợp với
mình, không nên chê bai phỉ báng pháp môn này hay pháp môn kia dở. Có như
thế mới không đắc tội với chư Phật, chư Tổ, phù hợp với tông chỉ của người
học Phật.


Phật pháp chú trọng ở chỗ giải ngộ, song thực chứng vẫn quan trọng hơn
hết. Cho nên, Lục Tổ có nói: “Thấy nghe tụng đọc là Tiểu thừa”, vì tụng
đọc, chỉ là học rộng nghe nhiều, chỉ tăng thêm phần tri kiến, đối cảnh tâm
vẫn khởi niệm, tâm còn vọng động, cho nên gọi là Tiểu thừa. “Ngộ pháp liễu
nghĩa là trung thừa”, vì Phật pháp vốn có ý nghĩa thậm thâm, cho nên hiểu
được ý nghĩa đã có công đức, thế nhưng tuy có hiểu, mà không tu hành thì
sự hiểu biết vẫn không đạt đến hiện thực, cho nên gọi là trung thừa. “Y
Phật pháp tu hành là Ðại thừa”, vì Phật pháp, Pháp pháp vốn bình đẳng, vốn
không có đại, tiểu. Tất cả các pháp môn đều lấy tu hành làm căn bản. Nếu
có thể y theo Phật pháp tu hành từ đầu chí cuối thì có thể thành tựu đạo
quả, cho nên gọi là Ðại thừa. “Muôn pháp trọn thông, muôn pháp đầy đủ, tất
cả không nhiễm, ly các pháp tướng, một cũng không có, gọi là tối thượng
thừa”. Nếu có thể ngộ được thật tướng vốn là vô tướng, thông đạt tất cả
các Pháp, không lìa các Pháp, ở trong các Pháp mà không bị các Pháp làm ô
nhiễm, chuyển đổi, không có sở cầu cũng không có sở đắc, lìa ngôn thuyết
gọi là tối thượng thừa. Qua bốn thừa mà Lục Tổ đã trình bày ở trên thì hai
thừa đầu không có thực hành, không có thân chứng, cho nên đối với cảnh
giới hiện thực và thực tiễn của Phật pháp không có kinh nghiệm. Vì vậy, y
theo Phật pháp tu hành là điều căn bản của người học Phật, giả như có hiểu
biết Phật pháp mà không thực hành, hoặc thực hành mà không y theo Phật
pháp, thì có hiệu quả gì.

Ðã
là người học Phật, không luận là theo tông phái nào đều được gọi là đệ tử
Phật. Thế nhưng, có người tự mình đã không y theo Phật pháp tu hành, lại
còn phân biệt đại tiểu. Hiện tại chánh pháp suy vi như thế, cũng là do
hạng người này. Ðã là đệ tử Phật, chúng ta phải trừ khử hạng người này ra
khỏi Giáo hội, nhằm mục đích Phật pháp xương minh. Chúng ta phải luôn y
theo Pháp và giới luật mà tu hành, không luận là tâm giới hay thân giới,
chỉ cần chúng ta trì giữ là chánh đạo, không trì giữ không phải là chánh
đạo. Lục Tổ có nói: “Muốn được thấy đạo chân chính, phải hành đạo chân
chính”, hành đạo chân chính là phải xuất phát từ tâm chân chính. Ðối với
hay hoặc dở cũng không nên phân biệt, vì các pháp vốn bình đẳng. Ðối với
người cũng không nên hủy báng, với chính mình cũng không được ca ngợi.
Ngay thời Phật còn tại thế, Phật còn bị người hủy báng, huống hồ gì là
hàng phàm phu chúng ta. Hơn nữa, bị người hủy báng chính là cơ hội cho
chúng ta tiêu nghiệp, không lợi cũng không có hại gì. Nên xem những lời
hủy báng đó như pháp vị cam lồ, đón nhận nó một cách vui vẻ, không nên có
tâm sân hận. Chúng ta tu pháp môn tâm địa, lấy lợi tha, vô ngã làm tâm
niệm, cần gì phải chú ý đến việc khen chê của người khác.

Tóm lại, có thể thấy được rằng, người được gọi là Ðại thừa, người đó phải có tâm
nguyện lớn, trí tuệ lớn, hạnh nguyện lớn, công đức lớn, không chấp tướng.
Bằng ngược lại, tâm lượng nhỏ hẹp, hạnh nguyện nhỏ, trí tuệ nhỏ, lại hoan
hỷ chấp trước sự tướng, tuy tu Ðại thừa cũng trở thành Tiểu thừa.

 


BẢY NGÀY KHAI THỊ PHẬT THẤT

 


 Hòa thượng Diệu Liên

  


NGÀY THỨ NHẤT

 


Núi
non đêm ngày thanh tỉnh,


Danh hiệu Phật rửa sạch trần
tâm.


1.- Trời cao không phụ công lao người khổ nhọc

Chư
vị về chùa Linh Nham tu Phật thất, ngày nay chỉ là ngày đầu tiên của khóa
tu. Chư vị biết niệm Phật rất tốt, song trong khi niệm Phật cần phải giữ
nhịp độ ổn định, không nên niệm cao quá, sẽ tổn hao thần lực, cũng không
nên niệm nhỏ quá, sẽ bị hôn trầm. Nhịp độ niệm phải vừa phải, không nhanh
cũng không chậm. Vì thời gian chúng ta còn dài, chúng ta niệm Phật làm sao
phải như dòng suối tuôn chảy, êm đềm mà không gián đoạn. Có như thế thân
tâm mới an tịnh, nghiệp chướng mới tiêu trừ, phước đức mới tăng trưởng.
Nếu có thể niệm niệm không gián đoạn thì đạo nghiệp nhất định sẽ mau thành
tựu.


Cách dụng công niệm Phật phải như thế nào
? Chúng ta phải có thời gian, công phu
tu tập phải trường kỳ khổ nhọc mới có thể thành tựu, cho nên tục ngữ có
câu: “Trời cao không phụ người khổ nhọc” ý là thế. Ðây là ngày khởi điểm
của khóa tu, chư vị phải dụng công cho tốt, có như thế những ngày còn lại
mới có kết quả. Ðiều đáng sợ nhất của người tu niệm Phật là không có tâm
thành kính.


2.-
Trong cung kính ngoài mới chí thành


Phật pháp có thành tựu hay không cũng ở tâm chí thành, cho nên người xưa
có nói: “Trong cung kính, ngoài mới chí thành”. Nội tâm nếu có thành kính
sẽ biểu hiện ra bên ngoài sự cung kính. Hiện tại, chư vị đang chắp tay
nghe khai thị, hành động chắp tay là hành động biểu hiện cho sự cung kính
của nội tâm. Nếu chư vị có tâm thành kính, không bảo chư vị chắp tay, chư
vị cũng tự nhiên chắp tay, không bảo chư vị quỳ, chư vị cũng tự quỳ. Chắp
tay là hành động thể hiện cho sự cung kính. Nếu chư vị thấy chắp tay là
việc khó nhọc thì tạm thời có thể bỏ xuống. Hiện tại, chúng tôi nghiêm
khắc bắt chư vị chắp tay, là muốn cho chư vị có hành động cung kính. Hành
động chỉ là biểu hiện của thân, chẳng những thân cung kính, mà miệng phải
niệm niệm rõ ràng, tai nghe rõ ràng, tâm cũng thấu suốt rõ ràng, tâm miệng
nhất như. Nếu chư vị mặc niệm, tuy miệng không niệm, tâm phải luôn luôn
niệm, tai cũng nghe rõ ràng. Tai và tâm nhất như, niệm Phật một thời gian
dài, thân tâm sẽ an nhiên, lúc đó chư vị sẽ không còn thấy chắp tay là
việc khổ nhọc nữa.


Chắp tay chỉ là phương tiện, song trong khi ngồi công phu, nhất định mọi
người cần phải ngồi xếp bằng, tối thiểu nhất là phải ngồi được bán già, vì
sao? Vì chân không chịu đau được thì thời gian công phu sẽ ít, dẫn đến
công phu tâm lực không tương ưng, tâm khó an định. Vì thế, chư vị phải
nhẫn nhịn chịu đau một thời gian thì công phu mới có thể tiến bộ vào sâu
được, sự nhẫn nhịn đó cũng phải xuất phát từ tâm thành kính. Vạn sự khởi
đầu nan. Ban đầu chư vị thấy khó chịu nhưng dần dần sẽ quen thôi, chúng ta
có ý chí quyết tâm hay không đó mới là quan trọng.


3.-
Người học đạo như kẻ chèo thuyền ngược nước


Người tu đạo thuận duyên không có, thế nhưng chướng duyên lại nhiều. Ðơn
giản nói về thân thể thôi, nếu không được khỏe một tí, công phu tu hành đã
bỏ bê, ngồi thiền một chút đã không chịu được, hà huống là làm công việc
gì lớn, đó là do nghiệp chướng của chúng ta từ vô thỉ đến nay. Nghiệp
chướng thì dày trong khi thiện căn lại
mỏng. Chúng ta đã tạo tác nghiệp chướng rất
nhiều.
Song, người có thiện căn, tuy biết dụng
công tu
hành là khổ nhọc, biết
nghiệp chướng tuy nặng, thế
nhưng họ lại không sợ chướng ngại mà
lại còn phát tâm tu hành, để tiêu trừ
nghiệp chướng, hạng người
này
rất có hy vọng. Ngược lại, người biết nghiệp
chướng của mình đã
nặng rồi, thấy tu hành khó khăn, lại nản
chí, dù có gặp được thiện duyên đi
chăng nữa, cũng
khó phát tâm tu hành. Do đó, chúng ta phải xét lại
mình là người có thiện căn hay không, phải dùng
trí tuệ chiếu soi lại chính mình. Ðã
biết mình là
người có nghiệp dày
phước mỏng, nếu không phát
tâm
tu hành nghiệp chướng khó mà tiêu trừ được,
nghiệp chướng không
tiêu trừ làm sao dám nói đến việc liễu
sinh thoát tử. Chư vị! Cần phải nỗ lực
tinh tấn quyết tâm hạ thủ
công phu thì không có việc gì khó. Trong thế gian không có việc gì là khó,
mà sợ lòng người không có quyết tâm. Cho nên tục ngữ có câu: “Ðường đi
khó, không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e
sông”.


Giống như học sinh cùng học một bài văn,
thế nhưng đứa có trí thông minh, đọc
hai, ba lần, thậm chí nghe qua liền
thuộc. Còn đứa không thông
minh thì phải đọc đi đọc lại ba bốn mươi
lần mới có thể thuộc. Người dụng công niệm Phật cũng như thế.


Phật pháp giảng nói ba đời nhân quả. Nếu
đời
trước chư vị là người nghe pháp nhiều, tu hành
nhiều, thiện căn
dày, tu hành phước báo nhiều mà đời nay không gặp được Phật pháp, thậm chí
sinh ra một xứ sở hoàn toàn không có
Phật pháp thì
thiện căn của các bạn cũng không bao giờ bị thối
chuyển, cũng không tạo tác việc ác. Các bạn chỉ cần nhìn cảnh mùa Xuân
trăm hoa đua nở, mùa Thu lá vàng rơi lả tả, thấy được cảnh sinh diệt vô
thường của vạn vật, các bạn có thể khai ngộ, hay minh tâm kiến tính liền.
Giống như thời Phật còn tại thế, các vị nghe Phật giảng pháp, rồi y theo
pháp thập nhị nhân duyên mà ngộ được đạo, gọi là “Duyên giác”. Còn có một
số vị sinh ra đời không gặp Phật, không được nghe pháp, thế nhưng họ nhờ
vào việc quán sát sự thay đổi vô thường của vạn vật mà ngộ được, gọi là
“Ðộc giác”, những người này có thiện căn không thể nghĩ bàn mới được như
thế.


Người có thiện nghiệp dày, ác nghiệp mỏng, tu hành rất thuận lợi. Thế
nhưng, chúng ta ở đây toàn là những người có phước mỏng nghiệp dày, cho
nên con đường tu của chúng ta như khách lữ hành chèo thuyền ngược nước,
nếu chúng ta không vững tay chèo, không có nỗ lực tinh tấn, chắc chắn sẽ
bị nước cuốn trôi. Vì thế, cổ đức có nói: “Người tu đạo như người chèo
thuyền ngược dòng, không tiến sẽ bị lùi”. Chúng ta phải dụng công hết
mình, thậm chí phải dùng hết sức mình
họa may mới
không bị trôi theo
dòng sông sinh tử. Người thế
gian, đa phần là buông mình theo dòng
sinh tử, nên đối với họ không còn gì
phải nói. Chúng ta là người tu

đạo, là người đang lội ngược lại dòng sinh tử, cho
nên
khó khăn rất nhiều, do đó xin chư vị
hãy dụng
công, vào đây niệm Phật rồi không nên lãng phí thời giờ.



4.- Gia công tinh tấn tiêu nghiệp chướng


Người có phước đức nhân duyên, nếu gia công tu hành tốt, dễ dàng được cảm
ứng. Cho nên họ xưng niệm Bồ tát Quán
Thế Âm, cầu tài được tài,
cầu
con được con, cầu tam muội được tam muội, cầu Bát

Nhã được Bát Nhã, nói chung cầu chi
được nấy.
Cho nên nói: “Có cầu ắt sẽ có ứng” là vậy. Song, đối với
người không có phước đức dù cầu nguyện
bất cứ
điều gì cũng không có cảm ứng. Nói như vậy Quan Âm Bồ tát
có thiên vị không? Xin thưa là không! Bạn cầu nguyện cũng có cảm ứng.
Vậy cảm ứng cái gì? Cảm ứng nghiệp chướng tiêu trừ, một khi nghiệp chướng
của bạn tiêu trừ hết rồi, thì bạn cầu gì đều được nấy. Bằng ngược lại,
nghiệp chướng chưa tiêu trừ thì dù bạn có cầu nguyện đến đâu cũng không có
cảm ứng, một khi nghiệp chướng được tẩy sạch, bạn không cần cầu cũng tự
nhiên có cảm ứng.


N
hững
người lần đầu tiên vào đây dụng công tu hành, tâm lý có loạn động, liền
nghĩ: “Không hiểu tại sao ở nhà bình thường mình niệm Phật ít thấy có vọng
tưởng, tâm lý lại được định tĩnh, thế nhưng vào đây niệm Phật, cứ một khi
khởi niệm Phật lại thấy vọng tưởng quá nhiều, tâm lý lại không an, nguyên
nhân đó xuất phát từ đâu? Chỉ vì ở nhà niệm Phật không có tập trung, niệm
Phật một cách mơ mơ hồ hồ, vọng tưởng suy nghĩ cái này, nhớ nghĩ việc kia,
vọng khởi triền miên, lại thêm ngoại cảnh ồn ào, nhộn nhịp nên khó nhận
thấy được vọng tưởng. Vào đây thì cảnh núi non yên tĩnh, nương nhờ ánh
sáng từ bi của chư Phật, tâm cảnh được sáng suốt, trí tuệ phát sinh, tự
nhiên nhận thấy được vọng tưởng tạp niệm nhiều. Chư vị nhờ vào đây mới có
cảm nhận như vậy, nếu nói ở nhà niệm Phật tốt hơn, là chư vị không có
lương tâm rồi.


5.-
Phải cầu diệu pháp xuất thế gian


Như trên vừa nói, người niệm Quan Âm Bồ tát cầu tài được tài, cầu
làm
thân trai được thân trai, cầu thân gái được thân gái… Như vậy,
chúng ta
là người học Phật có phải cầu tài không? Xin thưa  là có! Nhưng
tài ở
đây là công đức pháp tài. Lại nữa, có nên cầu thân trai hay thân
gái không? Cũng có, nhưng cầu trí tuệ phước đức của người nam, cầu tướng
đoan chính
của người nữ, thế nhưng quan trọng hơn hết vẫn là cầu pháp xuất
thế gian.

Như
Phật Ðà “ba kỳ tu phước đức, trăm kiếp mới có tướng đoan nghiêm”. Do đó,
chúng ta phải có trí tuệ, có phước đức mới có thể độ chúng sinh được. Có
trí tuệ, có phước đức, lại phải có tướng tốt; tướng nếu không tốt, mọi
người nhìn thấy khó mà khởi tâm cung kính. Như thời Ðức Phật còn tại thế,
mọi người một khi được nhìn thấy ba mươi hai tướng tốt trang nghiêm của
Ngài, tự nhiên liền sinh tâm cung kính, Ngài rất dễ dàng hóa độ. Cho nên
người học Phật cũng có cầu nguyện, nhưng cầu nguyện ở đây phải cầu nguyện
thật tướng diệu pháp xuất thế gian, chứ không phải cầu nguyện pháp hư vọng
đối đãi của thế gian.


6.-
Lìa tướng tu tất cả thiện pháp

Mọi
người cần phải chú ý! Tuy nói chúng ta cầu nguyện, song phải cầu như thế
nào cho hợp với Phật pháp đây? Phải cầu với nhận thức không có tướng ngã,
tướng nhân và tướng chúng sinh. Tuy là không tướng, nhưng phải tu tất cả
thiện pháp, nếu ngộ nhận rằng, đã không có tướng ngã, tướng nhân, tướng
chúng sinh, từ đó không chú trọng đến nhân quả, xả bỏ tu sự mà chuyên tu
lý thì có hại cho bản thân bạn vô cùng.

Cần
phải biết, Phật pháp giảng nói nhân quả sự lý cần phải phối hợp hài hòa.
Nếu thiên lệch về lý mà phế bỏ nhân quả, không tu sự tướng nhân quả thì
không thể nào đạt được chân lý thực tiễn của Phật pháp. Tuy là không có
tướng ngã, tướng nhân, lìa tất cả pháp, lìa tất cả tướng, nhưng đứng trên
mặt sự tướng cần phải tu tất cả các pháp. Muốn tu được tốt, chúng ta phải
có tinh tấn, thành khẩn tha thiết, trong tương lai chúng ta sẽ cảm ứng quả
báo vô vi. Quả báo vô vi thì không sinh, không diệt, đó mới chính là Phật
pháp thiết thực. Nếu lấy tâm hữu tướng tu hành tất cả các pháp thì
sẽ cảm ứng quả báo hữu vi. Tất cả quả
báo hữu vi
đều là vô thường, sinh diệt. Tu thiện cảm ứng quả báo
thiện, một khi hưởng hết rồi lại hoàn không. Tạo ác nghiệp phải thọ ác
báo, quả khổ thọ rồi cũng trở nên không. Tất cả đều vô thường sinh diệt.


Chánh nhân vô thường, cho nên “sinh” vẫn mãi mãi sinh, “chết” cũng vĩnh
viễn chết. Chánh nhân đã như vậy, sinh không ngừng, chết cũng không đoạn,
sinh sinh tử tử, tử tử sinh sinh, mãi mãi chịu khổ không cùng tận. Chúng
ta phải tu hành thôi, tại sao phải tu? Chỉ có tu thì chúng ta mới có trí
tuệ Bát Nhã thấu rõ các pháp vốn không có sở hữu, tuy không có sở hữu,
nhưng phải luôn tu hành sự tướng cho viên tròn, tôi không bảo chư vị phải
lìa xa chúng sinh trong thế gian để mà tu, vì Phật pháp vốn không xa lìa
thế gian. Ðức Phật Bổn Sư cũng là chúng sinh, từ chúng sinh mà thành tựu
đạo quả. Do đó, chúng ta không thể xa lìa chúng sinh trong thế gian mà tu
hành được. Ngược lại còn phải rộng kết thiện duyên với họ mới có thể độ
được họ. Chư vị có hiểu không?


7.-
Có không trong mộng đều là hư giả


Phật pháp giảng “vô ngã” có thật là vô ngã không? Nếu tất cả các pháp đều
là vô ngã rồi thì tu hành làm gì? Nếu đã là vô ngã thì tạo nghiệp ác ai
là người thọ khổ địa ngục? Nếu quả thật vô ngã, tu phước tu thiện ai là
hưởng thọ? Cho nên nói “hữu ngã” mới có thể thông được, nếu nói “vô ngã”,
Ðức Phật giảng nhân quả “nhân” ai tạo, “quả” ai hưởng?


Như vậy làm sao giảng cho chư vị tiếp thọ được đạo lý vô ngã đây? Vì đây
là đạo lý không dễ dàng gì nghe qua có thể hiểu được. Nay xin đơn cử thí
dụ cho chư vị hiểu được. Chư vị! Chúng ta ai cũng có nằm mộng. Trong mộng
tất cả chúng sinh hữu tình, đại địa vô tình, chung quy có hay không? Nếu
có thì không thể nói là không được. Tuy nói có, song tất cả là hư giả,
huyễn hóa không có thật. Nếu tất cả trong mộng đều là thật, khi nằm mơ bạn
thấy mình mua vé số trúng, khi tỉnh dậy, bạn có phát tài hay là không?
Trong mộng vui không có, khổ cũng không. Trong giấc mơ bạn thấy mình bị
rắn cắn, sợ quá liền thức dậy, bạn thấy thân thể mình có bị rắn cắn hay
không? Trên giường có con rắn nào không? Ðó chẳng qua tự ý thức của bạn
khởi vọng tưởng mới thấy có thật, nói theo góc độ Duy thức học thì những
hình ảnh đó hoàn toàn do Ðộc Ðầu Ý Thức tạo nên, tất cả đều là hư giả
không có thật, như vậy bạn làm sao nhận cái giả cho là thật được? (Lời
chú giải của người dịch: Ý thức là thức thứ sáu trong tám loại thức tâm
vương, thức này tác dụng rộng sâu hơn năm thức trước và làm chủ năm thức
trước. Thức này duyên với các tâm sở, căn bản phiền não và tùy khởi phiền
não mà tạo nên nghiệp. Vì nó có tác dụng suy đoán, phân biệt và quyết định
đưa đến thể hiện hành động cụ thể của thân và miệng, hoặc bằng hành động
tình cảm như: Yêu ghét, tham muốn… Về suy nghĩ làm việc phải thức này
đứng đầu, còn tính toán tạo việc ác thức này cũng hơn các thức còn lại.
Cho nên trong Duy thức có nói: “Công vi thủ, tội vi khôi”, chính là nói
đến hoạt dụng của thức này vậy. Thức này có đủ ba tính: Thiện, ác và vô
ký. Khi nó duyên với 51 món tâm sở thì nó được chia thành hai loại: Ðộc
đầu ý thức và Ngũ câu ý thức. Ý thức độc đầu là ý thức hoạt động độc lập,
không cộng tác với năm thức trước. Ý thức độc đầu lại được chia thành năm
loại: 1. Ý thức tán vị là ý thức phát khởi trong trạng thái phân
tán. 2. Ý thức trong mộng là hoạt động trong trạng thái mê ngủ hoặc
nằm chiêm bao. Vì trong mộng mị, người ta thường nghĩ rằng thế giới trong
mộng là thế giới có thật, thật ra những cảnh tượng đó chỉ là những phát
hiện của chủng tử độc ảnh trong kho chứa A lại da thức. 3. Ý thức cuồng
loạn
là ý thức phát khởi khi điên loạn. 4. Ý thức trong định
ý thức trong trạng thái thiền định, ý thức này chỉ có những người tu thiền
định mới có kinh nghiệm. 5. Ý thức tán loạn là ý thức bị loạn động
phát khởi. Chúng ta làm việc quá sức, cũng gọi là trạng thái lơ đãng,
hoảng hốt… (Hòa thượng Diệu Liên đang nói đến loại thứ hai của ý thức
độc đầu).

Theo bạn, những cảnh tượng trong mộng có hay là không? Nếu nói có thật, thì
trong mộng có sợ hãi, lúc tỉnh
dậy tâm cũng vẫn còn sợ hãi, trong mộng vui sướng lúc tỉnh dậy tâm cũng
còn vui sướng, như vậy cứu cánh
có hay là không? Kỳ thật “chẳng có cũng chẳng không”. Nói có nói
không đều rơi vào biên kiến, không còn
trung đạo. Từ góc độ tục đế mà
nói thực tại của vạn vật vừa có lại vừa không. Nhưng đứng từ góc độ
chân đế, phải xa lìa thực tại, lìa ngôn ngữ thì đó mới là cứu cánh. Nếu
chư vị có thể hiểu được bản chất thực tại, lý giải được tính không hữu
thật tướng của vạn pháp, trì danh với cái nhận thức như thế chắc chắn vãng
sinh thượng phẩm.


Phật pháp nói tất cả đều vô ngã, là muốn nói tất cả vạn vật không có tướng
hay một cái ngã cố định, vì bản chất của vạn vật là duyên sinh, do nhiều
yếu tố hợp lại mà thành không có gì gọi là thật ngã. Nếu bạn không hiểu
được điều đó thì chứng tỏ bạn là người kém phước đức trí tuệ. Vì vậy, bạn
phải tu phước và trí tuệ, một khi phước trí viên mãn bạn sẽ nhận thức được
vạn vật là hư giả, thế gian là mộng huyễn. Trong kinh có nói: “Vô ngã thì
không có người tạo và người thọ, nghiệp thiện nghiệp ác cũng đều không”.
Do đó, kính khuyên chư vị đối với Phật pháp hãy đọc nhiều, nghe nhiều, suy
tư cho sâu, siêng năng lễ bái và niệm Phật cho nhiều thì nhất định đến một
ngày nào đó quý vị tự nhiên sẽ đại ngộ.


8.-
Cuộc sống Ta Bà tất cả đều là mộng


Chư vị! Khi chúng ta ngủ nằm mộng liền sực tỉnh, khi tỉnh rồi thì những
cảnh mộng không có thật nữa. Song hằng ngày tuy chúng ta thức nhưng tất cả
đều như nằm mộng, có lúc nào là thật sự tỉnh đâu! Thật thương thay cho
chúng ta, đã bao kiếp sống như mộng, mà cứ ngỡ mình đang tỉnh, khổ đau
chúng ta thọ nhận không ngừng mà vẫn chưa có ngày nào sực tỉnh. Nói thì
như vậy, thế nhưng là người tu hành chúng ta không nên sợ khổ đau, mà phải
luôn luôn dụng công niệm Phật. Một khi chúng ta được vãng sinh đến thế
giới Tây phương rồi, đến lúc đó chúng ta mới thật sự tỉnh. Thế giới Ta Bà
tất cả vốn là giả danh, mộng huyễn, bản lai của nó vốn không có khổ vui,
mà khổ vui đó do chúng ta tạo nên rồi trở lại thọ nhận lấy nó. Do vui khổ
mà chúng ta đã tạo ra biết bao nhiêu tội chướng. Ðến một lúc nào đó chúng
ta tỉnh ngộ rồi mới nhận được tất cả đều không.   


Chúng ta phải thấy tất cả mọi vật trên thế gian không có cái gì trường tồn
bất diệt, không có gì là có ngã, tất cả như mộng như huyễn. Có nhận thức
như thế mới có đầy đủ nhân duyên thành Phật. Nếu thấy tất cả đều là thật
thì mãi mãi chịu khổ đau. Tại sao? Vì thấy tất cả vạn vật trên thế gian
đều là thật, tất nhiên là thấy không biến đổi, không dao động thì làm sao
có thể dụng công tu hành và cũng làm sao có thể thành Phật được. Ðó là đạo
lý quan trọng mà mọi người cần phải giác ngộ. Hiện tại, chúng ta đã biết
và đang tu thì làm sao chúng ta phải chứng được đạo lý vô ngã đó. Có như
thế mới có thể phóng hạ vạn duyên thành tâm niệm Phật, cầu phước đức chân
thật. Không nên nhàn rỗi, tán gẫu, suy nghĩ tà vạy, chỉ thêm mang nghiệp
chứ không có lợi ích gì. Phải giác ngộ vạn pháp là vô ngã, chân thật dụng
công tu niệm Phật, có như thế đời nay mới mong được giải thoát. Cổ đức có
nói: “Thân này đời nay không độ, biết có khi nào độ được thân”.


NGÀY THỨ HAI

 


Trí
tuệ Bát nhã đủ phước đức,  


Niệm Phật vãng sinh trọng trì
danh.


1.-
Vô tướng là chân thật tướng

Mọi
người đến đây dự Phật thất, chủ yếu là niệm Phật. Có bốn phương pháp niệm
Phật: Thật tướng niệm Phật, Quán tưởng niệm Phật, Quán tượng niệm Phật và
Trì danh niệm Phật. Tu Thật tướng niệm Phật phải có trí tuệ Bát nhã và sự
hỗ trợ của phước đức. Thật tướng là vô tướng, vô tướng là thật tướng. Vì
phàm phu chúng ta có sự nhận thức mâu thuẫn, cho vô tướng là không có gì,
đã không có làm sao nói là chân thật được. Ví như nhà bếp không có gạo làm
sao nấu cơm, trong nồi không có cơm thì những người hành đường lấy cơm ở
đâu châm thêm cho các bạn? Phàm phu chúng ta cho rằng, đã là vật có sự
tướng thì nhất định là có thật, nói như vậy là mê lầm. Phật pháp chân thật
là không, vạn pháp tuy là giả tướng, song bản thể cứu cánh của nó là bất
khả đắc, không thể thông qua hình tướng mà có thể nhận thức được, phải
trải qua quá trình văn, tư, tu mới có thể hội nhập được, không niệm Phật,
không giữ giới thì không thể lãnh hội được. Ðó là một điều xin chư vị cần
phải chú ý!


2.-
Y theo lời Phật dạy mà tín thọ phụng hành

Bản
thể của Phật pháp vốn thậm thâm vi diệu không thể nghĩ bàn, nếu không học
hỏi nghiên cứu cho thấu đáo chắc chắn sẽ có sự nhận thức mâu thuẫn. Ðối
với hạng người thế trí biện thông trong thế gian, họ không thể nào tiếp
nhận được Phật pháp. Thế trí biện thông là chỉ cho những bậc học giả, hoặc
những người có địa vị chức quyền, giàu sang phú quý. Ðối với hạng người
này họ chỉ ưa luận bàn những triết lý sâu xa, cái hiểu biết của họ không
có dính dáng gì đến đời sống của họ. Họ là những học giả có kiến thức uyên
thâm về thế gian pháp, nên khi nghe Phật pháp có thể sinh ra hủy báng, hay
chê bai, cho Phật pháp là cao xa, là huyễn hoặc, là mê tín, là bi quan yếm
thế, chán đời, chỉ toàn nói đến khổ đau. Ðối với hạng thế trí biện thông
này, là người con Phật, chúng ta nếu có gặp họ cũng không nên luận bàn hay
tranh biện làm chi cho vô ích. Vì sao? Vì từ xưa đến nay họ đâu có được
phước duyên nghe Phật pháp như chúng ta. Từ chỗ không nghe, không hiểu
biết nên trong tàng thức của họ không có hạt giống Phật pháp, cho nên đối
với họ, việc chê bai chánh pháp là điều không thể tránh được. Hãy thương
yêu họ vì họ không thể lãnh thọ được Phật pháp để tu hành như chúng ta.

Người có thiện căn, mặc dù có nghe Phật
pháp không hiểu được, thế nhưng đối với họ vẫn đủ niềm tin để tiếp thọ
Phật pháp, vẫn có nhận thức Phật pháp vốn là điều chân thật, không phải là
lời nói hư dối. Họ vẫn khẳng định rằng, những lời Phật nói họ vẫn đủ đức
tin và vẫn thực hành. Tuy nhiên, nếu lý họ không thể hội nhập được, họ vẫn
tin kiên cố y theo sự để thực hành. Ðối với hai hạng người trên, chúng ta
nên nương theo hạng người có thiện căn với Phật pháp để học hỏi và tu tập,
không nên học theo người Thế trí biện thông mà bị dính mắc vào sở tri
chướng, để rồi muôn kiếp phải luân hồi sinh tử. Chỉ nên nương theo lời
Phật dạy mà thực hành.


3.-
Mượn giả tu chân cần hiểu lý

 Tu
trí tuệ Bát nhã phải từ tướng hư giả mà khởi tu, từ tướng hư giả mới có
thể đạt đến tướng chân thật. Giả tướng là pháp hư vọng, làm sao có thể đạt
đến tướng chân thật được. Từ tướng hư giả bạn phải liễu giải được tính
duyên khởi “không” của vạn pháp. “Không” tức là chân thật tướng. Trong
Kinh Kim Cang, Ðức Phật có nói: “Nếu thấy các tướng chẳng phải là tướng,
tức thấy Như Lai”. Như Lai tức chỉ cho thật tướng pháp thân vậy.

Chúng ta đắp tượng Phật nhằm mục đích
gì? Nhằm giúp chúng sinh nương nơi tướng tốt của Phật mà phát khởi tâm
cung kính tu hành, nếu không mượn tượng Phật hư giả thì chúng sinh nương ở
đâu, lấy cái gì lễ bái cúng dường, làm mô phạm cho chính mình. Tất cả đều
phải từ tướng hư giả mà khởi tu hành. Nói duyên khởi là hư giả, thế nhưng
không thể xa lìa tướng hư giả mà tu đạo xuất thế được.

Vì vậy, chúng ta cần phải phát tâm tu
tập theo sự tướng. Phải liễu giải được thật tướng sự tướng của vạn pháp
vốn là không, sự tướng vốn là vô tướng, vô tướng chính là phước Bát nhã,
phước vô tướng. Phước Bát nhã vô tướng là gì? Ðó là loại phước khi chúng
ta tạo mà không có sự chấp trước. Ví như khi làm phước, bạn còn thấy mình
là người cho, thấy kia là người nhận, và chấp trước vào công đức đó, đó là
bạn dụng tâm thế gian tu thiện để cầu phước báo rồi. Phước báo của việc
làm đó đương nhiên là có, có gieo nhân tất phải có quả. Song phước báo đó
chỉ là phước báo của trời người, là Ðệ nhị nghĩa đế. Nếu bạn lấy phước đó
mà mong liễu sinh thoát tử, muốn thành Phật thì không thể nào có được. Như
vậy, chúng ta phải tu phương pháp nào mới có thể liễu sinh thoát tử?
Chúng ta phải lấy vô ngã tướng, vô nhân tướng và vô chúng sinh tướng, mà
tu tất cả thiện pháp, thì mới có thể thành tựu việc liễu sinh thoát tử.


4.-
Tu thật tướng phải nương vào trí tuệ

Như
thế nào mới là Thật tướng niệm Phật chân chính? Ðứng về phương diện duyên
khởi mà nói, như đã nói ở trên, hư tướng là không có tướng chân thật, tất
cả đều do nhân duyên hợp lại mà thành. Bản thân của nó không có tướng chân
thật. Y theo lý duyên khởi nhất tâm chỉ quán, đó là niệm Phật thật tướng.
Dù bạn có lý giải như thế nào đi chăng nữa, tuy nhiên hư giả vẫn là hư
giả. Thế nhưng vẫn phải tu cái chân thật, nếu nói hư giả không có tu thì
hoàn toàn sai lầm, nếu không từ sự mà khởi tu thì làm sao thể nhập được
Thật tướng niệm Phật. Bạn không thâm nhập Thật tướng niệm Phật, làm sao có
thể liễu đạt đến chỗ chân thật “phàm những vật có hình tướng, tất cả đều
hư vọng” (Kinh Kim Cang). Như khi bạn ăn cơm, nếu thấy cơm là hư giả không
chịu ăn thì làm sao bạn có thể giữ gìn thân để tu hành vãng sinh được. Tuy
cơm là duyên sinh, là vô ngã, là giả, nhưng nó có thể nuôi dưỡng thân xác
của bạn. Bạn có thân thể khỏe mới có thể tu hành tự lợi, lợi tha và làm
tất cả các việc. Cho nên, tuy là hư giả nhưng nó cũng có công năng; nếu
bạn cho nó là hư giả rồi không ăn, bạn không ăn chắc chắn sẽ chết. Phật
pháp giảng “không” là muốn cho bạn nhận thức được nguyên lý chân thật. Nói
có là muốn cho bạn tu tập tất cả các thiện pháp, không xa lìa sự tướng. Do
đó Tổ Huệ Năng có nói: “Phật pháp tại thế gian, không lìa thế gian mà
giác ngộ”. Chúng ta phải ở tại thế gian mà tu hành mới có thể thành tựu
các pháp.

Nếu
nói các pháp xuất thế gian là hư vọng, như thế thì pháp của phàm
phu có hư
vọng hay không? Ðương nhiên là càng thêm hư vọng. Chúng ta cần
phải chú ý: “Phàm những vật có hình tướng đều là hư vọng”, nếu bạn có
thể “thấy các
tướng chẳng phải là tướng, tức thấy Như Lai”. “Không”, không phải
là không
có, cũng không phải lìa sự tướng mới là không. Bạn phải liễu đạt
tất cả
các pháp chỉ là một khối duyên sinh giả tướng, không có tính chân
thật,
như vậy mới liễu giải được tính không. Tuy là không, nhân ngã là
giả
tướng, thế nhưng phải y theo nhân quả mà tu hành, thuận theo nhân
quả mà
tạo tác. Có nhân tất phải có quả, làm ác phải đọa tam đồ. Vì vậy,
lý sự
cần phải hiểu rõ mới có đủ trí tuệ để tu niệm Phật Thật tướng.
Trong thật
tướng có vô tướng, trong vô tướng có thật tướng. Không là Chân đế,
có là
Tục đế. Muốn hiểu rõ Chân đế, chư vị phải dụng công nghiên cứu tu
hành mới
có thể thấu hiểu được.


5.-
Ðệ nhất nghĩa đế cứu cánh là không

Nếu
y theo Ðệ nhất nghĩa đế mà nói, thật tướng chân như cứu cánh là không. Nói
nhiều thì lại càng sai, nói đúng hơn “tâm suy nghĩ tức là sai”. Tâm phải
không có một mảy may trụ chấp vào bất kỳ một pháp nào, ngay cả danh từ
“không” cũng không trụ, cũng phải bỏ đi, đó mới gọi là niệm Phật Thật
tướng, niệm Ðệ nhất nghĩa đế không, cũng là niệm mà vô niệm, mọi người
nghe qua khó mà hiểu được. Học Phật pháp điều đáng sợ nhất là không hiểu,
vì không hiểu sẽ đưa đến hiểu lầm rồi sinh ra hủy báng, nhưng chúng ta
nghe dần dần sẽ liễu giải được thôi. Nếu không giảng, mãi mãi chư vị sẽ
không thể hiểu được. Hiện tại trong khóa tu, chúng ta không dùng phương
pháp Thật tướng niệm Phật, mà chỉ chú trọng Trì danh niệm Phật thôi. Niệm
Phật Thật tướng là chuyên nhờ vào tự lực, trong khi đó căn cơ chúng ta ở
đây còn thấp kém nên chỉ chú trọng Trì danh niệm Phật là chính, vì Trì
danh niệm Phật là nhờ vào tha lực. Thời đại mạt pháp ngày nay, nếu không
nhờ vào tha lực sẽ không bao giờ có ngày liễu sinh thoát tử, chư vị nên
chú ý điều đó!

Phật pháp giảng bản thể muôn vật là
không. Song tất cả hiện tại sự vật là có. Giống như hư không, bản chất của
nó vốn là không, song trời đất, sông, núi, tất cả các tinh cầu, nhân vật
đều trụ trong hư không, từ hư không mà lưu xuất. Bản thể hư không không có
cái gì nên gọi là không. Chính vì bản thể vốn là không đó mới có năng lực
chứa tất cả các pháp. Không có một pháp nào mà không trụ trong hư không,
nếu lìa “không” sẽ có pháp gì nữa? Chúng ta hằng ngày theo tập quán, chỉ
cho rằng “không” là không có gì cả. Song, “không” không phải là không có
gì. Như chư vị xem, hiện tại trong niệm Phật đường này, bản chất là không,
nếu không có “không” thì làm sao có thể dung chứa được tượng Tam Thánh?
Làm sao có thể chứa đựng được những thứ trang nghiêm khác? Lại nữa, làm
sao có chỗ cho chúng ta niệm Phật, lạy Phật? “Không” chính mới có thể
dụng, “không” có không thì không có thể
dụng. Do đó, chư vị nghe qua trí tuệ có thể phát khởi rồi, hy vọng
từ đây chư vị không còn ngộ nhận cho “không” là không có gì nữa. Xin chư
vị hằng ngày cứ lấy hư không quán sát làm thí dụ, chắc chắn trí tuệ sẽ
phát sinh. Một lúc nào đó, chư vị sẽ liễu giải được nghĩa lý vi diệu chân
không của Phật pháp. Chúc chư vị thành công!



6.- Vô thường biến các pháp thành không

Phật pháp giảng vạn pháp là vô thường.
Thế giới có thành, trụ, hoại, không; con người có sinh, lão, bệnh, tử; tâm
có sinh, trụ, dị, diệt, tất cả các pháp đều là vô thường. Trong Kinh Bát
Ðại Nhân Giác, Phật có dạy chúng ta rằng: “Quốc độ hư giả, mạng sống vô
thường”. Quốc độ thuộc về khí thế gian, con người thuộc về hữu tình thế
gian. Tất cả vũ trụ là khí thế gian, hữu tình thế gian đều ở trong vũ trụ.
Vũ trụ dung chứa tất cả vạn pháp, song vạn pháp thì không thường trụ, niệm
niệm biến diệt, từng giây từng phút sinh diệt không ngừng. Thân thể con
người chúng ta, các tế bào cũng sinh sinh, diệt diệt biến đổi trong từng
sát na. Một người không phải sống đến tám mươi, chín mươi tuổi chết rồi
mới gọi là diệt, mà ngay cả những khi còn nằm trong bào thai cũng đã sinh
diệt không ngừng rồi.


Chẳng những hữu tình là vô thường, mà tất cả vạn vật trong vũ trụ, chỉ là
giả danh tạm thời, không có thường trụ chân thật. Niệm niệm biến diệt, đều
là vô thường, đến một lúc nhất định nào đó cũng phải tiêu diệt. Bạn thử
tìm xem có một vật nào là trường tồn bất diệt không? Không có một vật nào
trên thế gian này trường tồn bất diệt cả. Tất cả đều biến đổi không ngừng,
bản chất của chúng thay đổi trong từng sát na. Trong một phút thôi, thân
thể của bạn không hoàn toàn giống một phút trước đó nữa, mà các tế bào
biến đổi không ngừng. Tế bào này chết, tế bào khác lại sinh, cứ luân phiên
nhau thay đổi không có lúc nào dừng nghỉ. Vì thế, Phật mới dạy cho chúng
ta, thế gian này không có gì gọi là trường tồn cả, mà ngược lại tất cả đều
bị luật vô thường chi phối. Tất cả vạn vật đều phải chịu quy luật tự nhiên
đó là sinh, trụ, dị, diệt, hoặc thành, trụ, hoại, không. Ðối với chúng hữu
tình thì phải chịu quy luật sinh, lão, bệnh, tử. Do bản thể các pháp vốn
là vô thường nên nó vốn là không, không có thật ngã mà tất cả đều là vô
ngã, là duyên sinh thôi.

Bản tính của chúng ta vốn thanh tịnh như thái không, nhưng chỉ vì hiện tại
chúng ta khởi nhiều vọng tưởng nên mới bị phiền não, khổ đau, luân chuyển
trong biển khổ phàm phu. Một khi còn ở
địa vị phàm phu, chúng sinh chắc chắn không thể nào tránh khỏi tạo nghiệp luân hồi. Còn
nếu chúng ta nhớ Phật, niệm Phật tức là chúng ta đang đi trên lộ
trình tiến đến quả vị Phật. Như vậy, tại sao cần phải niệm Phật? Vì niệm Phật là
đình chỉ vọng tưởng. Vọng tưởng dừng tâm liền thanh tịnh. Tâm thanh
tịnh thì ba nghiệp thanh tịnh. Ba nghiệp thanh tịnh, tức đồng Phật vãng
sinh Tây phương.


7.-
Một câu A Di Ðà đầy đủ vạn đức

Bậc thiền giả tham thiền, cũng thuộc vô tướng. Mục đích của người tham thiền
là thể nhập được chân tính. Thông thường, họ lấy các câu thoại đầu như:
“Người niệm Phật là ai?”, “Trước khi cha mẹ chưa sinh ra, ta là ai?”…
Ðứng về lý mà nói, tại sao cần phải tham thiền hoặc tham thoại đầu? Cổ
đức có nói: “Vì căn tính con người vốn hạ liệt, không đủ trí tuệ, không đủ năng lực thâm nhập
được bản tâm, nên chư Tổ từ bi
mà lập ra các phương tiện như vậy”. Giống như người già cả, người
bệnh hoạn không thể tự mình nỗ lực đi
một mình được nên cần phải mượn
cây gậy, nhờ vào cây gậy mới có thể đi được.

Hiện tại chúng ta đang
niệm Phật, thì “tâm là Phật, Phật là tâm”. Thế nhưng, có một số người dám
mạo muội cho tâm là Phật, vì thế họ không cần phải niệm Phật hay tu hành
làm chi cho nhọc xác. Song tuy tâm là Phật, nhưng bạn phải biết chúng ta
hiện đang là phàm phu nghiệp chướng rất nặng nề, tâm còn đầy dẫy ô nhiễm,
cho nên cần phải niệm Phật. Vì danh hiệu Phật A Di Ðà vốn đầy đủ vạn đức
trang nghiêm. Phật thường an trụ trong pháp thân thanh tịnh, tất cả các
nghiệp ác và tội chướng của Ngài đều đã tiêu trừ, tất cả các công đức tu
hành đều đã viên mãn. Nếu có người nào dám mạo muội tự xưng họ đã là Phật
rồi, chứng tỏ người này không có thiện căn. Hạng người này dù có gặp được
nhân duyên tốt cũng không thể nào tu tập được, vì không có chủng tử của
Phật pháp.

Chúng ta không cần
phải lý luận làm gì sâu xa, mà chỉ cần luôn biết an phận, lão thật niệm
Phật. Cứ niệm Phật giống như đứa bé chăm chú mớm sữa mẹ, ngày qua ngày đứa
bé sẽ lớn dần. Cứ niệm Phật như ăn cơm. Có ăn thân thể mới có sức khỏe để
làm việc. Việc niệm Phật cũng như vậy. Chúng ta không cần phải lý luận làm
gì cho mất thời gian, chỉ cần có tin sâu, nguyện thiết, hành chuyên, chắc
chắn sẽ dần dần đạt được nhất tâm bất loạn, tâm bất loạn liền được vãng
sinh. Kính thỉnh chư vị hãy chí thành mà niệm Phật.

 


NGÀY THỨ BA

 


Chấp trì Thánh hiệu nhất tâm,


Ðời
nay quyết định không lầm vãng sinh.


người hỏi: “Chấp trì Thánh hiệu có thể đạt được nhất tâm hay không? Niệm
Phật có chắc chắn được vãng sinh không?”. Trong Kinh A Di Ðà yếu giải có
nói: “Tán loạn xưng danh gieo giống Phật, chấp trì danh hiệu đăng bất
thối”. Bạn phải biết rằng Phật có công đức không thể nghĩ bàn, danh hiệu A
Di Ðà Phật cũng có công đức không thể nghĩ bàn. Nếu bạn niệm Phật tâm bị
tán loạn sẽ tạo thành chủng tử. Như trong Kinh Pháp Hoa có nói: “Nếu người
tâm tán loạn, đi vào trong bảo tháp, nhất tâm xưng niệm Nam Mô Phật, đều
được thành Phật đạo”. Do đó có thể biết, lấy tâm tán loạn mà xưng niệm
danh hiệu Phật công đức còn thù thắng, hà huống gì là chấp trì danh hiệu
Phật được nhất tâm bất loạn, công đức lớn lao biết dường nào!


Kỳ thật có được vãng sinh Cực Lạc hay
không, tất cả đều phụ thuộc nơi bạn.
Nếu bạn hỏi tôi: “Tôi có thể vãng sinh hay không?”. Tôi cũng xin thành
thật trả lời với bạn rằng: “Ðiều đó hoàn toàn phụ thuộc nơi bạn”. Chỉ cần
bạn chân thật nhận thức và có quyết tâm: “Thân này đời nay không độ, đời
sau làm sao độ được thân”, đồng thời tin sâu, nguyện thiết, cầu vãng sinh
Tây phương thì nhất định đời nay quyết định được vãng sinh. Cho nên, bạn
không cần phải phân vân tán tâm hay nhất tâm, chỉ cần bạn thường biết an
phận, xưng niệm danh hiệu Phật cho thành tâm là tốt rồi.


1.-
Thường hằng chấp trì đặng bất thối

Tóm lại, bạn chỉ cần “chấp trì” danh hiệu Phật không quên là tốt. Thế nào gọi là “chấp
trì”? Giống như việc bạn nắm một vật quý giá trong tay, chẳng những bạn phải nắm giữ cho chắc mà tâm
phải trông chừng nó không cho nó rơi rớt, nếu rớt e rằng sẽ bị bể.
Cho nên đòi hỏi bạn phải chú ý tập trung gọi là “trì”. Nói tóm lại, chấp
trì chính là “niệm niệm tương tục không gián đoạn”. Trước ngọ cũng niệm
Phật, sau ngọ cũng niệm Phật; ngày nay niệm Phật thì ngày mai cũng niệm
Phật, đó chính là chấp trì. Bình thường phải niệm, đến khi có bệnh hay gặp
khó khăn cũng phải niệm, cứ niệm Phật cho đến khi nào giải thoát hết mọi
khổ nạn mới dừng.

Nếu bạn không niệm Phật, tham, sân, si
trong tâm bạn sẽ khởi lên. Song trong tâm bạn có niệm Phật thì tham, sân
không thể nào khởi lên được. Vì bản chất của tam độc không phải là chân
hữu, mà chúng chỉ là pháp huyễn tưởng, hư vọng mà thôi. Duy chỉ có niệm
Phật mới là công đức chân thật. Những pháp hư huyễn làm sao có công đức
được. Vì vậy, bạn không cần phải quan tâm đến việc tán tâm hay nhất tâm,
mà chỉ cần bạn tin sâu, nguyện thiết, chấp trì một câu A Di Ðà Phật. A Di
Ðà Phật, A Di Ðà Phật, A Di Ðà Phật… không kể là đi, đứng, nằm, ngồi,
hoặc may vá hay ăn uống. Từ sớm đến chiều, một câu Phật hiệu không cho
gián đoạn, dù có bệnh khổ hoành hành hay dù gặp việc bất như ý, chỉ có một
lòng niệm Phật, bạn cần gì phải lo sợ có được vãng sinh hay không.

Như
thế nào mới là người chân chính chấp trì danh hiệu? Giống như có người
khen bạn tốt, bạn đáp “A Di Ðà Phật”, hoặc có người đến phá hoại bạn, hoặc
chửi bới bạn, bạn cũng đáp lại “A Di Ðà Phật”. Không kể gặp thuận cảnh hay
nghịch cảnh, cứ một câu A Di Ðà Phật bạn chấp trì đừng cho gián đoạn, thì
không bao giờ bị hoàn cảnh dẫn
dắt, lại
giữ được chánh niệm vãng sinh Tây phương.


Không những bạn phải bảo trì mà còn phải nhậm trì nữa. Nhậm tức là chỉ cho
trạng thái tự nhiên, để tâm tự nhiên mà niệm Phật. Lúc bình thường bạn
chấp trì, dần dần lâu ngày sẽ tự nhiên trở thành nhậm trì, tức là không
niệm mà niệm. Chấp trì danh hiệu là “nhân”, vãng sinh Tây phương là “quả”. Một
khi bạn được sinh Tịnh độ rồi thì không còn sợ thối chuyển nữa. Vì vậy,
nếu có người nào hỏi tôi: “Tôi có được vãng sinh hay không?”. Tôi cũng
xin hỏi lại bạn: “Bạn có niệm Phật hay không?”. Nếu bạn có niệm Phật thì
có vãng sinh, bằng ngược lại không có thì không được vãng sinh. Ðịnh luật
nhân quả quy định rõ ràng như vậy.


2.-
Có chí thành tức có thể nhất tâm
         

Một câu Thánh hiệu chỉ cần bạn chấp trì
không gián đoạn. Tán loạn mặc cho tán loạn, cái tột cùng là tự nhiên có
thể đạt đến nhất tâm bất loạn. Nếu bạn không chấp trì Thánh hiệu, làm sao
có thể nói đến nhất tâm? Không gieo nhân làm sao có quả cảm ứng? Có
người một khi niệm Phật liền muốn nhất tâm, điều đó làm sao nói dễ dàng
như vậy? Nếu bạn không gieo nhân dụng công niệm Phật thì làm sao cảm quả
nhất tâm? Ðiều đó chẳng qua là vọng tưởng mà thôi. Tôi nói như thế sẽ có
nhiều người dị nghị rằng tôi không dạy quý vị niệm Phật nhất tâm. Nếu tôi
không dạy quý vị niệm Phật nhất tâm là trái ngược với kinh điển, trái
ngược với lòng từ bi của cổ đức. Tôi dạy nhất tâm là có từng lớp.

Ðứng
về phương diện lý mà nói, phàm phu
muốn nhất tâm là phải có tâm tàm quý, có tâm chí thành. Nếu không
có hai
loại tâm trên không nên nói đến nhất tâm làm gì cho vô ích. Trong
Kinh Di
Giáo, Phật có dạy: “Người có hổ thẹn là có thiện pháp, người không
có hổ
thẹn cùng với loài cầm thú không khác chút nào vậy”. Nếu bạn không
có tâm
hổ thẹn và chí thành, đối với việc thế tục khó mà thành tựu, hà
huống gì
nói đến việc xuất thế gian. Một người cần phải làm gì để đối trị
ba độc
phiền não? Chỉ cần người đó dụng tâm chí thành và hổ thẹn mà niệm
Phật, lạy Phật. Con người
chúng ta một khi khởi niệm đã là
vọng tưởng rồi. Do đó, chúng ta
thời thời, khắc khắc phải có tâm cảnh giác. Một khi tham, sân, si
và các phiền não khởi lên, không nên tùy trước theo nó mà tạo
nghiệp, cần
phải tức thời tỉnh ngộ, phát tâm hổ thẹn, chớ nên đem tâm phiền
não đối xử
với người, mà tự mình cần phải từ bi tha thứ cho người. Bạn phải
nghĩ rằng: “Bản thân mình đã không thể giúp người liễu sinh thoát tử,
sao lại còn
tạo nhân đưa người vào tam đồ ác đạo?”. Chỉ cần bạn có suy nghĩ
như thế
thì cũng đủ giúp bạn không tạo thêm ác nghiệp rồi.


3.-
Thánh hiệu A Di Ðà diệt ngũ dục

Thế giới Ta Bà này là cả một thế giới
đầy dẫy ma quỷ. Những loại ma quỷ đó không phải là loại ba đầu sáu tay,
lưỡi dài, móng sắc… Ma quỷ tôi muốn nói đây chính là ma ngũ dục: Tài
của, danh lợi, sắc đẹp, ăn uống, ngủ nghỉ. Năm loại ngũ dục này được ví
như rắn độc, hổ dữ. Thế nhưng, rắn độc hay hổ dữ cắn thì chúng ta chỉ có
chết một đời này thôi, còn nếu bị ngũ dục dắt dẫn thì chẳng những làm
chướng ngại cho việc vãng sinh, mà chúng còn khiến chúng ta mãi mãi đọa
lạc trong tam đồ ác đạo. Ðây là một điểm mà mọi người cần phải đặc biệt
lưu ý, không thể không cảnh giác được. Hiện tại chúng ta tu hành là đang
cùng ma quỷ giao chiến, là đang chiến đấu lại ma ngũ dục. Nếu chúng ta
không anh dũng, không quyết tâm hạ thủ nó, chắc chắn nó sẽ dẫn dắt chúng
ta đi vào tam đồ.

Bình thường, đối với người cần phải từ
bi. Song, đối với thất tình lục dục không nên tùy thuận theo nó mà bị dẫn
dụ. Nhất là người học Phật tại gia rất đáng thương, vì sống giữa trần lao,
nhìn trước ngó sau đều bị ngũ dục bao vây chi phối. Thảo nào trong kinh Ưu
Bà Tắc Giới Khinh, Ðức Phật có nói: “Có hai hạng Bồ tát: Bồ tát tại gia tu
hành thì khó, Bồ tát xuất gia tu hành thì dễ”. Bạn xem, hiện tại bạn về
đây tu tập, nhất cử nhất động đều an trụ trong câu niệm Phật, lại được
nhất tâm tu hành. Nếu có phạm oai nghi tế hạnh hay nội quy hoặc phạm giới,
đều được người khác nhắc nhở. Chẳng những không tạo ác nghiệp mà còn gieo
thiện duyên nữa. Ngược lại sống giữa đời thường, một khi bạn sai lầm, có
ai ở cạnh bạn để nhắc nhở đâu?

Người tại gia tu hành thuận duyên thì
ít mà ác duyên lại nhiều. Do đó, bạn là Bồ tát tại gia phải tự mình nỗ lực
tu hành, đồng thời phải cúng dường Tam Bảo, rộng làm các phước lành. Nếu
bạn là người có gia đình thì trách nhiệm cũng lớn. Bạn phải cần tận lực
hiếu thuận, lại hành từ bi, mọi việc trước sau, trên dưới cần phải chu
toàn. Một khi mắc phải lỗi lầm, được người nhắc nhở nên vui vẻ đón nhận,
không nên oán trách. Ðối với mọi việc cần phải nhẫn nhục, chịu thương chịu
khó mới có thể thành tựu được công đức.

Tôi thường nói, người xuất gia tu hành
là người đại trượng phu. Thế nhưng, nếu người tại gia chân chính tu hành
cũng là một người đại trượng phu, vì hằng ngày phải đối diện với ngũ dục,
chướng duyên khó khăn vô cùng. Vậy bạn phải làm gì để có thể thắng được ma
ngũ dục? Không gì tốt hơn là niệm Phật. Cứ một câu A Di Ðà Phật, bạn chấp
trì không cho gián đoạn, không luận là tán tâm hay nhất tâm, chẳng những
tiêu trừ được ngũ dục mà bạn lại còn thành tựu đạo nghiệp, được vãng sinh
Tây phương.


4.-
Tình không trừ, sinh tử khó thoát
     

Con
người và trời đất gọi là tam tài. Người xuất gia tu hành là Tăng. Phật,
Pháp, Tăng được gọi là Tam Bảo. Con người thuộc hạng cao quý nhất, thế
nhưng chỉ vì vọng tưởng điên đảo mà trở nên thấp kém, quên mình vốn
cao quý. Khi có người lôi kéo bạn làm ác, hoặc tìm bạn làm phiền, việc đó
không quan trọng, chỉ cần bạn niệm A Di Ðà Phật, mọi việc trở nên vô sự.
Song, việc đáng sợ nhất là mọi người đối xử với bạn tốt, từ đó phát sinh
tình cảm luyến ái, luyến ái một khi phát sinh rồi thì khó mà đoạn trừ
được.


vậy, phàm phu chúng ta nhất định phải phá bỏ quan hệ tình cảm. Nếu không
phá bỏ khó mà liễu sinh thoát tử được. Căn bản sinh tử là ô nhiễm. Ô nhiễm
cái gì? Ðó là ngũ dục. Học Phật là việc lớn của người đại trượng phu. Ðối
với quan hệ tình ái nam nữ, phải dùng kiếm trí tuệ Bát nhã mà chặt đứt nó
đi, có như vậy mới có thể liễu sinh thoát tử. Nếu chỉ còn một mảy may tình
cảm cũng vẫn còn bị trói buộc. Thế nhưng ai là người trói buộc bạn? Chính
bạn chứ ai.


Tình cảm ở đây không đơn thuần là tình cảm nam nữ. Nếu bạn chân thật muốn
cầu giải thoát sinh tử, hành Bồ tát đạo không chướng ngại, tôi thành thật
bảo với bạn rằng, ngay cả quan hệ cha mẹ, anh em cũng phải đoạn trừ. Ðạo
xuất thế gian hoàn toàn khác với đạo thế tục. Thế tục người ta lấy tình
cảm luyến ái làm trọng, chính sự luyến ái đó là căn bản của sinh tử. Ðạo
xuất thế gian hoàn toàn ngược lại, là con đường liễu sinh thoát tử, cho
nên ái dục cần phải đoạn trừ. Ðó là “chân lý vô tình”, mọi người cần phải
chú ý.


5.-
Ðạo Bồ tát đại nhân đại nghĩa


Ðứng về phương diện thế tục, làm con nhất
thiết phải vâng lời cha mẹ, vì cha mẹ
là người có

công dưỡng
dục. Bổn phận làm con là phải hiếu thuận. Cha mẹ sai bạn làm gì bạn phải
vâng làm cái đó, có như vậy mới
đúng với lời dạy của thiên kinh. Song, bạn muốn tu hành để liễu sinh thoát
tử thì đối với quan hệ gia đình bạn nhất định cũng phải cắt đứt, bạn mới
có thể hành đạo Bồ đề, đạo nghiệp mới viên thành được. Bạn có độ cha mẹ
phước tuệ viên mãn mới là đại hiếu chân chính. Bằng ngược lại bạn không có
quyết tâm, một khi bạn đến chùa xuất gia, họ sẽ tìm mọi cách đưa bạn trở
về thế tục. Vì vậy, đòi hỏi bạn phải có ý chí của kẻ xuất trần thượng sĩ,
phải dũng mãnh cắt đứt tình cảm luyến ái đó, mong ra mới có thể liễu sinh
được.

Bạn
phải suy nghĩ rằng, tự mình sinh tử là việc nhỏ, cha mẹ bị sinh tử mới là
việc lớn. Hơn nữa, không những cha mẹ hiện đời của bạn bị sinh
tử mà còn cha mẹ nhiều đời nhiều kiếp,
đang chờ
đợi
bạn đến độ cho họ. Do đó bạn phải có chí, phải có trí tuệ tư duy của
người xuất thế gian, không nên
chỉ
vì chướng ngại của cha mẹ hiện đời mà
làm ảnh
hưởng
đến việc liễu sinh thoát tử của cha mẹ nhiều kiếp.
Tạm thời hiện đời bạn phải nhẫn nhục,
chịu khổ

chịu cực thì tương lai
mới có giải thoát. Nếu bạn
không nỡ xa rời cha mẹ thì bạn đã cắt
đứt con đường Bồ đề của chính mình, lại làm cho cha mẹ nhiều đời nhiều
kiếp tiếp tục chìm đắm trong sinh tử. Bạn tha thiết liễu sinh thoát tử,
phải chí thành
mà niệm Phật, phải xuất gia, đồng thời cắt đứt mọi
quan hệ tình ái thì mới mong có ngày ra
khỏi sinh tử.

Mọi
người về đây tham dự Phật thất, tất cả đều có nghiệp chướng nặng nề, đều
bị quan hệ tình cảm làm chướng ngại. Cho nên, các bạn muốn trừ nó không gì
hơn là câu A Di Ðà Phật, niệm cho chí thành khẩn thiết, nhất định nghiệp
chướng sẽ tiêu trừ, lại thành tựu việc vãng sinh Tịnh độ.

 


NGÀY THỨ TƯ


Sinh đại tàm quý phát tâm chí thành


Như
vậy niệm Phật mới đạt nhất tâm.


1.-
Tâm chúng sinh đầy đủ bảo tạng

Mọi
người về đây tham dự Phật thất, sớm, trưa, chiều đều được nghe khai thị.
Nói đến khai thị thật là hổ thẹn, vì tôi không đủ trình độ, chẳng qua lấy
kinh nghiệm tu hành của chính mình mà nói cho chư vị nghe thôi. Nếu chư vị
thấy được thì giữ lấy, không được thì bỏ đi. Ðương nhiên nếu có sai lầm,
xin chư vị chỉ giáo cho.

Hai
chữ “khai thị” nghĩa là gì? “Khai”
nghĩa là mở, là hiển bày, hiển bày cái gì? Ðó là hiển bày bản tâm
vốn thanh tịnh nơi mỗi người, mà bản tâm này cùng với chư Phật vốn không
khác.
Người người trong tâm đều có bảo tạng, không phải chỉ riêng Phật
mới có. Chỉ vì bản tâm chúng ta bị trói buộc bởi tham
sân, phiền não, nên bảo tạng không thể chiếu soi được. Tuy nó
không được
phát hiện, nhưng nó vẫn ẩn chứa trong
tâm của mọi người, không bao giờ hư hoại. Ðiều đó thật đáng tiếc
cho chúng ta.

Ðức Phật có vô lượng trí tuệ. Ngài biết
chúng sinh cũng có bảo tạng như Ngài, biết rằng chúng sinh không thể biết
được bảo tạng quý báu đó, do đó Ðức Phật vì muốn cho chúng sinh khai thị
ngộ nhập Phật tri kiến nên từ trong
Thường Tịch Quang mà hạ sinh đến thế gian, từ bi “khai thị” cho
chúng sinh, chỉ cho chúng sinh thấy
được bảo tạng quý giá của chính mình. Mỗi chúng sinh trong tâm đều
có đầy đủ gia tài quý báu đó, không cần tìm kiếm bên ngoài. Song, phải tự
mỗi người thâm nhập, phát huy bản tâm
diệu dụng đó. Ðức Phật không thể thay thế cho chúng sinh làm hiển
lộ chân tâm được.

Chúng ta hiện tại,
tuy là chúng sinh đang khổ
não, song, chúng ta phải biết rằng bảo tạng của Phật với mình vốn
giống nhau. Ðức Phật là người đã đạt được bảo tạng mà tại sao chúng ta vẫn
chưa đạt được? Nói ra thật hổ thẹn, chỉ vì chúng ta quá giải đãi, quá
lười biếng, không có quyết tâm giải quyết sinh tử, cho nên nói “ông tu ông
đắc, bà tu bà đắc” là vậy. Nếu bạn
không tu thì lấy gì để đắc. Chúng ta ngày nay, có đủ thiện duyên
nghe được Phật pháp rồi, đã hiểu được lý đạo rồi, cần phải theo đó mà tu
hành thì sự hiểu biết Phật pháp mới có lợi ích. Chỉ có tu là tốt, nếu bạn
không tu sẽ bị ác nghiệp làm chướng ngại. Cho nên có nói “nghiệp lực không
thể nghĩ bàn” là vậy. Song bạn cần phải biết bên cạnh nghiệp lực đó có
Phật lực, lại càng không thể nghĩ bàn
hơn. Mọi người niệm Phật không nên sợ nghiệp chướng nặng, chỉ cần
mọi người có tâm thành khẩn tha thiết mà niệm Phật, lão thật lễ lạy, đến
một lúc nào đó công phu thành tựu, nhân duyên đầy đủ, quả báo sẽ thành tựu
viên mãn.


2.- Chuyển tâm phàm phu thành tâm Phật

Chư
vị về đây đả thất, cần phải khéo dụng hoàn cảnh thanh tịnh mà tinh tấn
dụng công niệm Phật, không nên như người thế tục quanh năm suốt tháng chỉ
sống say chết ngủ trong vòng giả danh mộng huyễn, cũng không nên quá yêu
thương, chăm sóc cho thân thể này. Tại sao? Chỉ vì lo cho nó mà chúng ta
đã tạo biết bao nhiều tội lỗi. Chính vì nó mà cha mẹ chúng ta đã khổ nhọc
biết bao để thành tựu như ngày nay,
chúng ta phải mượn nó

tinh tấn dụng công niệm Phật để báo đáp công ơn nuôi dưỡng của cha
mẹ. Hy vọng mọi người phóng hạ thân tâm, tập trung dụng công niệm Phật. Có
như thế công phu mới thành tựu, mới không phụ công sức của chư vị bỏ hết
việc nhà về đây niệm Phật.


Chúng ta tham dự Phật thất cần phải khắc kỳ thủ chứng. Trước tiên, thân và
tâm cần phải giữ gìn không cho nó loạn động cũng không nên nói chuyện tạp,
chuyện thị phi thế gian, phải giữ gìn thân tâm, có như thế bảy ngày mới có
thành tựu. Sở dĩ gọi là “đả thất”, đứng trên mặt văn tự mà giải thích,
“thất” là bảy, là chỉ cho thức thứ bảy, nghĩa là chúng ta phải đem thức
thứ bảy mà chuyển thành “Bình Ðẳng Tính Trí”. Vì sao? Vì thức thứ bảy là
cội gốc của chấp ngã, là đầu mối của tham, sân, si. Giả như bạn muốn bố
thí, chính thức này sẽ cản trở không cho bạn làm phước. Thức thứ bảy chấp
vào kiến phần của thức thứ tám là thức A lại da làm ngã. Ngoài ra, phải
chuyển tiền ngũ thức thành Thành Sở Tác Trí, thức thứ sáu
thành Diệu Quan Sát Trí, chuyển thức
thứ tám

thành Ðại Viên Cảnh Trí.
Vì thế, tác dụng của
Phật thất là chúng ta đem tám thức mà chuyển
thành bốn trí. Có như thế, mới biến đổi tâm phàm phu thành tâm
Phật được. Bạn niệm Phật chính là đang
chuyển
tâm phàm phu của chính mình thành tâm Phật vậy.

Như
thế nào là tâm Phật? Tâm Phật chính là tâm thanh tịnh, tâm không thanh
tịnh chính là tâm phàm phu. Cho nên tâm Phật và tâm chúng sinh vốn không
hai, chỉ khác nhau ở chỗ là thanh tịnh hay không thanh tịnh mà thôi. Tại
sao tâm chúng ta không thể thanh tịnh? Chỉ vì chúng ta không có tâm hổ
thẹn và tâm chí thành. Một người làm việc ác như sát sinh, trộm cắp, tà
dâm… toàn thân đều có tội chướng, song chỉ cần người đó sinh tâm đại hổ
thẹn, chí tâm sám hối, phát tâm đại chí thành, nguyện không tái phạm, đồng
thời ra sức làm việc thiện thì tội chướng liền tiêu trừ. Cho nên nói:
“Ngày ngày hướng phía Ðông, quay đầu là hướng Tây” hay “không sợ niệm
khởi, chỉ sợ giác chậm”. Vì thế, phát tâm đại hổ thẹn, đại chí thành chính
là nương vào giới. Công đức niệm Phật thật vô lượng, có thể khiến cho tội
chướng tiêu trừ, một khi tội chướng tiêu trừ tâm trở nên thanh tịnh, tâm
thanh tịnh sẽ khiến lục căn được viên minh, biến thành lục thông tự tại.
Nếu bạn có thể phát tâm đại tàm quý, đại chí thành mà dụng công niệm Phật
nhất định có thể vãng sinh Tây phương, viên thành quả Bồ đề, rộng độ chúng
sinh đồng vãng sinh Tịnh độ.  


3.- Vãng sinh Tây phương viên chứng
tam bất thối


Vãng sinh đến thế giới Cực Lạc có một điểm rất tốt là chứng tam bất thối:
1. Vị Bất Thối, 2. Hạnh Bất Thối, 3. Niệm Bất Thối. Tức là một khi được
vãng sinh đến Tây phương liền chứng một lần ba loại tam bất thối. Không
giống như một số kinh điển nói rằng chứng tam bất thối phải có thứ lớp.


Hành giả tu tập tại thế giới Ta Bà phải phá trừ ngã chấp, đoạn phiền não
kiến tư hoặc, chứng quả A la hán liền dự vào dòng Thánh, không còn rơi lại
địa vị phàm phu đó là Vị Bất Thối. Người chứng được sơ quả nhất định sẽ
chứng được quả A la hán. Chứng được sơ quả thì không còn rơi vào ba đường
ác mà chỉ luân hồi trong hai cõi trời và người. Những người này tu chậm
nhất là bảy đời mới có thể thoát khỏi tam giới, tuy nhiên, nếu tinh tấn tu
hành thì không nhất định là bảy đời mà có thể ba hoặc năm đời. So sánh
giữa họ và phàm phu chúng ta, phàm phu chúng ta đáng thương vô cùng, vì
chỉ lui tới trong sáu nẻo luân hồi, nếu người nào làm ác, phạm giới thì
lại rơi vào ba đường ác.


Người muốn chứng được Hạnh Bất Thối cần phải phát tâm đại Bồ tát hành Bồ
tát đạo, đồng thời phải đoạn trừ kiến tư hoặc và trần sa hoặc, trên cầu
Phật đạo dưới độ chúng sinh thì mới được xem thành tựu Hạnh Bất Thối.
Người muốn chứng Niệm Bất Thối thì niệm niệm phải an trụ trong thanh tịnh
chân như, phải phá trừ vô minh, đồng thời chứng được pháp thân thì mới đạt
được Niệm Bất Thối.


Người được vãng sinh Tịnh độ, không nhất định phải đoạn trừ nghiệp cảm,
chỉ cần người đó có tin sâu, nguyện thiết, nhất tâm niệm Phật, chỉ mười
niệm tâm không vọng tưởng thôi cũng được đới nghiệp vãng sinh. Một khi
vãng sinh Tịnh độ người đó được sống chung với các bậc thiện nhân và chư
đại Bồ tát, người đó nhất định sẽ không còn bị duyên xấu lôi kéo, cho nên
chứng được Vị Bất Thối. Lại nữa, người được vãng sinh Tịnh độ do nhân
duyên được gần chư Thánh nhân, nên ngày ngày được nghe Phật pháp để tu
tập, công phu ngày càng cao nên không còn bị chướng duyên làm trở ngại
nữa, liền chứng được Hạnh Bất Thối. Người được đới nghiệp vãng sinh Tịnh
độ, hóa sinh trong hoa sen, một khi hoa nở liền thấy Phật, do nhân duyên
được thấy Phật nên niệm niệm tâm mong cầu thành Phật, do đó không có
chướng duyên làm thối tâm hướng về quả Bồ đề vô thượng nữa, người này liền
chứng được Niệm Bất Thối. Thật vậy, khi người nào được vãng sinh Tịnh độ
sẽ chứng được tam bất thối, được vào hàng nhất sinh bổ xứ, thật thù thắng
vô cùng.


4.- Trì niệm Phật Thánh hiệu Tất cánh bất thối

Trong kinh chỉ có đề cập đến tam bất
thối, chớ không nói đến Tất cánh bất thối. Tất
cánh bất thối
là gì? Ðó là chỉ cho việc chuyên trì danh hiệu, viên
mãn vô ngại không thể nghĩ bàn. Không luận là định tâm niệm, hay tán tâm
niệm, có niệm hay không niệm, chỉ cần bạn niệm tai nghe rõ ràng. Mặc dù
bạn không niệm nhưng danh hiệu Phật cũng tự nhập vào tàng thức của bạn làm
thành chủng tử không bao giờ mất. Giả như đời nay bạn không được liễu sinh
thoát tử, trải qua vạn kiếp về sau, đến một lúc nào đó chủng tử này sẽ
thành thục, chắc chắn bạn nhờ vào công đức niệm Phật đó sẽ được liễu sinh
tử và thành Phật.

Niệm Phật công đức không thể nghĩ bàn.
Thí như vào thời Phật còn tại thế, một hôm Phật ở tại tịnh xá của trưởng
giả Cấp Cô Ðộc, có một ông già không biết từ đâu đến xin vào gặp Phật để
xin xuất gia, lúc đó đệ tử lớn của Phật là ngài Xá Lợi Phất liền nhập định
quan sát thử ông này trong vòng tám vạn đại kiếp trở lại có nhân duyên
lành gì để xuất gia hay không. Sau khi nhập định xong, ngài liền bảo với
ông già: “Ông không có thiện căn gì làm sao có thể xuất gia được?”. Nghe
xong ông già buồn bã, khóc lóc van xin thảm thiết. Phật nghe được tiếng
khóc, liền hỏi chúng đệ tử có việc gì mà ông già khóc lóc như thế. Sau khi
nghe chúng đệ tử trình bày sự việc, Ðức Phật liền nói: “Ông có thể xuất
gia, vì tám vạn đại kiếp về trước ông có thiện căn”.

Thiện căn gì? Trước tám vạn đại kiếp
về trước, ông là người tiều phu chuyên đốn củi trên núi. Một ngày nọ ông
bị cọp rượt, trong lúc nguy nan, vội leo lên cây, chỉ niệm “Nam mô Phật”.
Từ đó trải qua vô lượng kiếp, nay nhân duyên của ông đã thành thục và có
thiện căn để xuất gia, đồng thời về sau cũng có thể chứng được quả A La
Hán. Ðiều đó trong Kinh Pháp Hoa cũng được Phật nói đến: “Nếu người tâm
tán loạn, đi vào trong bảo tháp, chỉ niệm Nam mô Phật, cũng được thành
Phật đạo”. Thật vậy, người trong thế gian cũng thế, tuy họ không có tin
Phật, thế nhưng khi gặp thiên tai hoặc nguy hiểm, miệng niệm “A Di Ðà
Phật” hay “Nam mô Quan Thế Âm Bồ tát”. Chỉ cần niệm danh hiệu Phật một
lần cũng đã có chủng tử rồi, trải qua vô lượng kiếp và đến một ngày nào đó
nhất định thiện căn của họ thành thục, cũng có thể thành Phật như mọi
người, đó chính là Tất cánh bất thối.

Hiện tại chúng ta về đây tham dự Phật
thất, mỗi ngày có ít nhất mười hai tiếng công phu, niệm Phật tối thiểu là mấy vạn câu, lễ Phật
năm trăm lạy, công đức không đó thể vãng sinh được hay sao? Nhất
định chúng ta được vãng sinh! Không cần phải niệm đến nhất tâm bất loạn
mới được vãng sinh. Trong kinh có đề cập đến hai loại nhất tâm bất loạn:
1. Lý nhất tâm, 2. Sự nhất tâm. Người chứng được sự nhất tâm tức được Vị
Bất Thối, sẽ sinh vào Phương Tiện Hữu Dư Ðộ. Chứng được lý nhất tâm tức
được Niệm Bất Thối, sẽ sinh vào Thật Báo Trang Nghiêm Ðộ. Phàm phu chúng
ta hiện tại không thể đạt đến cảnh giới sự và lý nhất tâm. Song chỉ cần
chúng ta niệm “Nam Mô A Di Ðà Phật” là đã được Tất Cánh Bất Thối, sớm muộn
gì chúng ta cũng được vãng sinh Tây phương. Do đó, mọi người chỉ cần thành
tâm mà chấp trì danh hiệu là có thể vãng sinh rồi. Vì thế, không cần phải
sợ mình niệm Phật có được vãng sinh hay không, tâm tán loạn làm sao có thể
vãng sinh? Quan trọng nhất là bạn có chấp trì danh hiệu hay không, có đầy
đủ tín, nguyện để niệm Phật hay không. Nếu bạn có đầy đủ tín, nguyện thì
nhất định bạn được vãng sinh. Ðược vãng sinh hay không là do nơi bạn vậy.

 


5.-
Thánh hiệu Di Ðà là nước cam lồ
                       

Thế
gian thường nói: “Chính thắng tà”, song cũng có lúc tà thắng chính. Giống
như thời đại mạt pháp hiện nay, tà thuyết của ngoại đạo rất thịnh hành,
lắm lúc người học đạo lấy giả làm chân, nhận chân cho là giả. Thế nhưng tà
thì luôn có giới hạn, nó không thể nào thắng chính được. Tại sao? Tục ngữ
có nói: “Thiện như thân tùng, ác như loài hoa, hoa nở tùng không động,
một ngày sương tuyết đổ, thấy tùng không thấy hoa”.

Chúng ta là người biết đạo, giống như
nước nhất định sẽ tưới tắt được lửa, nhưng nếu nước chỉ có một bát làm sao
có thể dập tắt được một xe củi đang cháy. Thời đại mạt pháp hiện nay, tà
thuyết ngoại đạo rất thịnh hành trong khi chúng sinh thiện căn lại kém
cỏi, nghiệp chướng lại sâu dày, lấy một ít nước thiện căn làm sao dập tắt
được ngọn lửa ác nghiệp sâu dày của nhiều đời. Vì thế, mọi người khi niệm
Phật mới có vọng tưởng, lúc lạy Phật mới có tạp loạn, đau lưng.

Tuy là như vậy, song nhiều nơi lửa rất
lớn, nước không thể dập tắt được, chỉ có dùng nước cam lồ mới rưới tắt
được lửa lớn. Cũng vậy, khi chúng ta niệm Phật, có vọng tưởng tạp loạn
không nên sợ nó. Chỉ cần bạn niệm một câu A Di Ðà Phật, A Di Ðà Phật… cứ
câu này nối tiếp nối câu kia không cho gián đoạn, vọng tưởng làm sao khởi
lên. A Di Ðà Phật chính là dòng nước cam lồ thanh tịnh, có công năng tiêu
trừ vọng tưởng trần cấu cho chúng sinh, giúp chúng sinh tiêu trừ tội
chướng từ vô thỉ cho đến ngày nay.

Mọi
người về đây tham dự Phật thất, cần phải dụng công tinh tấn mà niệm Phật,
hãy dùng dòng nước cam lồ A Di Ðà Phật mà tưới tắt hết tất cả phiền não
tham sân. Lửa có thể đốt ở phạm vi sơn hà đại địa chớ không đốt được hư
không, cho nên chung quy chính luôn thắng tà là vậy. Tà có thể thắng một
thời chớ không thể tồn tại lâu dài được. Thiện giống như cây tùng, ác
giống như loài hoa. Tùng tồn tại bốn mùa, hoa chỉ nở được trăm ngày rồi
cũng rụng. Cho nên, người làm ác không bao giờ tồn tại lâu dài, gieo nhân
ác rồi cũng gặt quả ác. Chúng ta là người tu hành phải xót thương cho họ,
vì bản tâm của họ vốn cũng có thiện căn như chúng ta, chỉ vì một niệm vô
minh, bất giác mà tạo ra tội ác như vậy. Nếu có thiện duyên trợ giúp,
chung quy họ cũng giác ngộ, xả bỏ tà mà quay về chính.

 


6.- Một đời nhất tâm niệm Thánh hiệu có thể thành Phật đạo  

Chư
vị nghe qua mười phần cũng đã có lòng tin được một phần. Nếu như biết mình
thiện căn kém cỏi, nghiệp chướng sâu dày, không có phước báo, nhất định
phải niệm Phật cho nhiều, tinh tấn mà dụng công thì nghiệp chướng mới có
thể tiêu trừ, mới có an vui được. Duy chỉ có niệm Phật cho nhiều thì
nghiệp chướng mới tiêu, phước tuệ mới tăng trưởng. Một bát nước làm sao có
thể dập tắt được một xe củi đang cháy? Chúng ta cần phải có lòng tin kiên
cố, tin rằng “chỉ xưng Nam mô Phật, đều có thể thành Phật đạo”, quyết định
đời nay vãng sinh để được thọ hưởng vui sướng. Có nên cầu đời sau vãng
sinh không? Một đời chúng ta đã chịu biết bao thống khổ hà huống gì là
phải trải qua tám vạn đại kiếp như lão già Tu Bạt Ðà La. Thọ sinh nhiều
đời phải chịu nhiều khổ não. Vì thế, chúng ta phải quyết định đời nay vãng
sinh thôi, nhất định Phật A Di Ðà từ tôn sẽ tiếp dẫn, kính thỉnh chư vị
phải tự mình quyết tâm vậy.

Mọi
người mỗi ngày niệm Phật đều có đọc hai câu kệ “Bốn mươi tám nguyện mong
độ chúng, hoa sen chín phẩm rước lên ngôi”. Vãng sinh Tây phương được chia
thành ba hạng là thượng, trung và hạ. Mỗi hạng lại chia thành ba phẩm,
cộng lại tất cả là chín phẩm. Do sự dụng công của chúng sinh khác nhau nên
mới cảm quả vị không đồng. Người niệm Phật được lý nhất tâm thì được vãng
sinh thượng phẩm, được sự nhất tâm thì sinh vào trung phẩm. Người niệm
Phật tuy chưa đạt nhất tâm cũng có thể vãng sinh hạ phẩm. Người phạm tội
ngũ nghịch, thập ác, nếu có thể thành tâm niệm Phật sám hối, cũng có thể
vãng sinh hạ hạ phẩm. Ðó là nhờ vào nguyện lực của Phật A Di Ðà và đới
nghiệp vãng sinh, đây cũng là một điểm rất đặc biệt của pháp môn Tịnh độ.
Ðối với chín phẩm, cũng được gọi là người gieo một phần nhân thì hưởng một
phần quả. Giống như trong thế gian, người có tiền ít thì mua đồ rẻ, có
tiền nhiều thì mua đồ đắt, nếu có tiền ít mà muốn mua đồ dùng cao cấp làm
sao có thể mua được? Cho nên, người giải đãi nếu có thể tinh tấn niệm
Phật đến nhất tâm cũng được sinh thượng phẩm, đạo quả Bồ đề viên mãn cũng
có thể thành Phật như Phật.

Do
đó, mọi người cần phải chí tâm lạy Phật, niệm Phật, thì có được vãng sinh
hay không? Chẳng những được vãng sinh mà còn được sinh ở phẩm vị cao nữa.
Nên biết “thân này đời nay không độ, biết đến khi nào độ được thân”. Hy
vọng chư vị tinh tấn dụng công mà niệm Phật, cầu sinh Tây phương.

 


NGÀY THỨ NĂM


1.- Dừng tâm cầu phú quý, chỉ cầu vô thượng đạo     


Trước khi vào vấn đề xin chư vị niệm tình tha thứ cho! Vì thời đại ngày
nay là thời đại mạt pháp, cách Phật diệt độ rất xa.
Hiện tại Phật Di Lặc chưa đản
sinh nên chúng ta hiện đang kẹt trong bát nạn. Thế nhưng, chư vị ngày nay
được nghe đạo vô thượng, gặp được pháp môn Tịnh độ để tu tập, lại gặp được
đạo tràng thanh tịnh như thế này, chứng tỏ chư vị là người đã có gieo nhân
lành trong vô lượng kiếp.

Chúng ta học Phật, điều quan trọng nhất
là phải có chánh tri kiến, người không có chánh tri kiến học Phật cũng
không có lợi ích thiết thực gì. Chánh tri kiến như kim chỉ nam định hướng
cho chúng ta con đường đi đúng đắn. Mọi người đã là người biết đạo, là
người niệm Phật tu hành, không nên giống người trong thế tục chỉ cầu giàu
sang phú quý, thăng quan phát tài, mà mục đích chúng ta học Phật là cầu
giải thoát khổ đau, thoát ly luân hồi sinh tử. Nếu người học Phật với mục
đích chỉ cầu phú quý thì chẳng khác nào ngoại đạo. Nói như thế, Phật pháp
có giảng cầu phú quý không? Ðương nhiên, Phật pháp cũng có nói đến việc
cầu phú quý, song cầu xuất thế gian mới là chân thật phú quý.

Giàu sang phú quý của thế gian thường
làm chướng ngại cho đạo nghiệp, chúng ta phải xả bỏ nó. Trong kinh thường
nói: “Giàu sang học đạo là khó”. Người giàu sang có tiền tài, phú quý, có
danh vọng. Tài và danh là hai loại trong năm thứ ngũ dục. Chúng giống như
hai sợi xích trói buộc con người, đưa con người vào đọa lạc. Người có tài,
có danh vọng thật khó xả bỏ để tu hành. Do đó, người tu hành chúng ta chỉ
cần thân thể mạnh khỏe, ăn mặc vừa đủ là được rồi. Nếu như ăn mặc không
đầy đủ, đương nhiên sẽ khó mà tu hành, vì ăn mặc không đủ dẫn đến thân thể
không an, thân thể không an thì tâm khó an định, thân thể không an làm sao
tu hành được.

Chúng ta sinh vào thời đại ngày nay,
phương tiện ăn mặc không đến nỗi thiếu thốn. Chúng ta sinh được vào hoàn
cảnh tốt như thế này, không cần phải tranh danh đoạt lợi. Vì cầu danh
tranh lợi ắt hẳn làm chướng ngại cho việc tu hành. Mọi người nhất định
phải xả bỏ tâm mong cầu giàu sang phú quý thì mới có thể học đạo được.

Trên sự thật, người giàu sang phú quý
đa số là làm ác, tạo nghiệp nhiều. Chúng ta cứ quan sát xem, người
giàu
sang phú quý có được mấy người chân chính cống hiến cho xã hội,
cho đất
nước? Có được bao nhiêu người giàu sang mà không kiêu ngạo, không
mê muội? Một người đã giàu sang rồi khó mà tránh khỏi sự tham đắm ngũ
dục. Tài,
sắc, danh, thực, thùy là chỗ y cứ cho địa ngục, cho nên chúng ta
không nên
có tâm mong cầu phú quý trong thế gian.

Phật pháp giảng nói điều cao quý nhất là
gì? Tu lục độ vạn hạnh là giàu sang nhất, giải thoát khỏi Nhị tử là phú
quý nhất. Nhị tử bao gồm những gì? Ðó là Phân đoạn sinh tử và Biến dịch sinh tử. Sinh sinh, tử tử trong lục đạo
luân hồi gọi là Phân đoạn sinh
tử. Phàm phu tu đạo chứng được quả A la hán, tức được giải thoát
khỏi Phân đoạn sinh tử. Chứng quả A la hán lại phát Bồ tát tâm hành Bồ tát đạo, phá trừ vô minh chứng được
pháp thân, Phật đạo viên thành, đó là giải thoát khỏi Biến dịch
sinh tử. Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật A Di Ðà, cùng vô lượng chư Phật là
những vị đã giải thoát khỏi Nhị sinh tử, tự do tự tại qua lại trong chín
giới cứu độ chúng sinh, đó mới là cao quý nhất.

Ðức
Phật được gọi là Thế Tôn, là thầy của trời người, là do người thế gian tôn
quý Ngài mà gọi tên như vậy. Vì Ngài có đại từ bi, đại trí tuệ, có thể cứu
khổ chúng sinh thoát khỏi khổ não, đạt được an lạc giải thoát. Chúng ta
thử xem người giàu sang trong thế gian có bao nhiêu người làm được vậy?
Chúng ta là người học Phật, phải noi gương Phật mà học tập, phải hướng tâm
cao thượng cầu đạo xuất thế gian, đó mới là phú quý chân thật nhất, mới là
người Phật tử chân chính.



2.- Tận tình thọ trì, chí thành xưng niệm          

Mọi
người học tập, tu pháp môn Tịnh độ, trước tiên phải có đầy đủ tư
lương
tín, nguyện, hạnh. Trong Kinh A Di Ðà yếu giải có nói: “Không có
tin thì
không thể phát nguyện, không có phát nguyện thì không có thực
hành”. Chúng
ta tham dự Phật thất niệm Phật bảy ngày là chú trọng thực hành.
Phương
pháp dụng công niệm Phật phải như thế nào? Bình thường có bốn
phương pháp
niệm Phật. Hiện tại, tôi xin đơn cử nói đến phương pháp được nhiều
người
thực hành nhất, một phương pháp dễ thực hành, lại dễ thành công
nhất, đó
là phương pháp Trì danh niệm Phật. Trì danh, thế nào là trì danh?
Là trì
niệm danh hiệu A Di Ðà Phật vạn đức hồng danh. Ðương nhiên, trì
niệm danh
hiệu của các Ðức Phật khác công đức cũng không thể nghĩ bàn, vậy
thì tại
sao Ðức Phật Thích Ca lại đề cử Phật A Di Ðà là tôn quý nhất trong

lượng chư Phật? Tại sao Ngài lại khuyên chúng ta thành kính mà
niệm danh
hiệu Ngài? Vì Phật A Di Ðà có nguyện lực rất lớn, Ngài phát bốn
mươi tám
lời nguyện độ tất cả chúng sinh. Do đó, chúng ta không cần phải
trì niệm
bất cứ một danh hiệu Phật nào nữa để dễ chuyên tâm. Vì thế, cổ đức
có nói: “Chuyên tu thì vạn người tu vạn người được” là vậy.

Chúng ta khi dụng công niệm Phật, không kể là niệm bốn chữ hoặc sáu chữ,
phải niệm sao cho từng câu từng chữ rõ ràng. Danh hiệu phải lưu xuất từ
tâm thành kính, tai phải nghe từng câu từng chữ rõ ràng, tâm phải lưu xuất
chú ý vào danh hiệu. Một câu danh hiệu niệm như vậy, nghìn câu vạn câu
cũng niệm như vậy, ngày nay niệm như vậy, ngày mai cũng niệm như vậy, năm
này niệm như vậy, năm tới cũng nên niệm như vậy, cho đến trăm năm cũng
niệm như vậy. Ðiều quan trọng là tâm phải thường hằng, không được ngày nay
niệm ngày mai lại phế bỏ, tâm không chuyên nhất khó mà được vãng sinh, lại
phí công sức nữa.

Chúng ta nên niệm bốn chữ hay sáu chữ?
Kỳ thật, niệm bốn chữ hay sáu chữ công đức đều giống nhau, không phải niệm
sáu chữ là tốt hơn bốn chữ. Trong kinh điển thường dạy người chấp trì “A
Di Ðà Phật”, song tại sao cần phải niệm thêm hai chữ “Nam mô”? “Nam mô”
có nghĩa là quy mạng, là quy y, cũng có ý nghĩa là “nhất tâm”. Chúng ta
nhất tâm quy mạng A Di Ðà, nếu bạn muốn niệm chậm thì niệm sáu chữ, muốn
niệm nhanh thì niệm bốn chữ, cái nào cũng tốt.

Chúng ta niệm Phật cũng phải như ăn cơm
vậy. Mỗi ngày đều phải ăn, từ khi lọt lòng mẹ đã ăn rồi, hiện tại
ngày nào cũng phải ăn. Vậy đến khi nào mới ngừng ăn? Chỉ có khi nào Diêm
vương đến rước bạn mới ngừng ăn
thôi. Chúng ta niệm Phật cũng
phải giống như vậy. Phải niệm cho rõ ràng, niệm đến khi nào Phật A
Di Ðà đến tiếp dẫn mới thôi niệm. Không nên cho rằng niệm một
ngày, hai
ngày, hoặc một Phật thất hay hai Phật thất là được, mà phải niệm
Phật,
niệm đến lúc nào thành thục mới thôi. Giống như một em tiểu học,
học thuộc lòng văn chương, học một lần
không thuộc lại học hai lần, ba
lần vẫn không thuộc thì phải đọc
đến trăm lần, học đến khi nào thuộc mới thôi. Chúng ta niệm Phật
cũng phải như vậy, niệm đến khi nào Phật A Di Ðà đến tiếp dẫn mới có thể
dừng nghỉ được.

Chúng ta một khi được vãng sinh rồi thì
không còn lo sợ không thành Phật nữa. Phàm phu sinh đến Tây phương, đầu tiên là tạm
trú tại cõi Phàm Thánh Ðồng Cư, sau đó lại đến ở tại Phương Tiện
Hữu Dư độ, Thật Báo Trang Nghiêm độ, sau cùng là tiến nhập vào Thường Tịch Quang
Tịnh độ mà thành Phật. Chúng ta
tại sao cần phải niệm Phật? Vì
muốn được thành Phật, thành Phật để làm gì? Vì độ chúng sinh. Do
đó chúng ta cần phải phát Bồ đề tâm mà niệm Phật, hành Bồ tát đạo mà niệm
Phật, có như thế mục đích mới chính xác. Nếu bạn xả bỏ tâm Bồ đề mà niệm
Phật tức là kim chỉ nam của bạn đã sai hướng rồi. Một khi vãng sinh Tịnh
độ rồi cần phải trở lại Ta Bà để độ chúng sinh, độ chúng sinh đến khi nào
mới dừng nghỉ? Ðến khi nào chúng sinh hết, giác hạnh viên mãn mới thôi.


3.-
Bối trần hợp giác hướng Phật đạo                  

Chúng ta niệm Phật cứu cánh là niệm cái gì? Cái được gọi là “tâm tức
Phật, Phật tức tâm”, tâm chúng ta niệm Phật A Di Ðà Phật, A Di Ðà Phật
chính là tâm chúng ta. A Di Ðà Phật ở thế giới Tây phương, thế giới Cực
Lạc cũng đều ở trong tâm chúng ta, thậm chí ngay cả thế giới pháp tạng, hư
không cũng ở trong tâm chúng ta. Hư không là không có giới hạn, tâm chúng
ta cũng chính là vũ trụ hư không. Vũ trụ là gì? Trên dưới, phải trái, bốn
phương gọi là vũ, tức là chỉ cho không gian, từ xưa đến nay gọi là trụ,
tức là chỉ cho thời gian, nói tóm lại vũ trụ tức là chỉ không gian và thời
gian. Chúng ta nói tâm bao trùm cả thái hư, tức chỉ cho sự vô biên, vô
thủy vô chung của tâm. Vì vậy, tâm không phải do duyên sinh, nếu tâm do
duyên sở sinh thì cũng phải tùy duyên mà diệt, tức là không chân thật.
Chân tâm chúng ta, tức là chỉ cho tâm thanh tịnh, tâm này vốn vừa là Phật,
vừa là chúng sinh, là tâm chân thật không sinh không diệt.

Phật A Di Ðà là người đã đoạn trừ hết tất cả phiền não, không còn tạo
nghiệp, thanh tịnh vô vi giải thoát tự tại, chẳng những tự lợi đã viên mãn
mà công đức lợi tha của Ngài cũng đã viên mãn. Nói tóm lại, phước tuệ của
Ngài cứu cánh viên thành, đã chứng được pháp giới tàng thân, cũng đã chứng
được bản tâm thanh tịnh. Thật ra, tất cả chúng sinh vốn có đầy đủ bản tâm
thanh tịnh, có năng lực chứng được pháp giới tàng thân. Song, chỉ vì chúng
ta không có ý chí, không phát tâm tu hành nên khiến cho bản tâm thanh tịnh
của chính mình không hiển phát được, chớ nào phải do một đấng thượng đế có
quyền hạn giáng họa cho chúng ta đâu. Chỉ vì chúng ta không nỗ lực tu
hành, chỉ vì chúng ta quá ư giải đãi mới ra nông nỗi như thế.

Thân của Ðức Phật là thân được tạo nên từ các công đức thanh tịnh, còn
thân chúng ta là thân do tạo ác nghiệp mới có. Vì Phật là người bối trần
hợp giác, tu tất cả các pháp thanh tịnh, phàm phu chúng ta, ngược lại, bối
giác mà hợp trần, mê muội trong trần lao. Trần ở đây chính là ngũ dục, là
tài, sắc, danh, thực, thùy, những thứ mà chúng sinh tìm kiếm để rồi bị đọa
lạc. Nếu như chúng ta muốn chuyển phàm thành thánh, chuyển nhiễm thành
tịnh, thì không gì hơn là niệm Phật. Chúng ta sở dĩ tạo các ác nghiệp sát
sinh, trộm cắp, dâm dục, và làm các việc ác khác, chỉ vì chúng ta đã có
sẵn những hạt giống này trong tàng thức, vì nó đã được huân tập nhiều đời
nhiều kiếp, trở thành tập khí quá nặng nên khó mà chuyển đổi được. Là
người học Phật, cần phải chuyển đổi những tập khí đó trở thành những hạt
giống thanh tịnh, mà muốn chuyển đổi nó không có gì hơn là chư vị hãy
thành tâm niệm Phật sám hối.


4.-
Niệm Phật tức là niệm tự tâm                  

“Tâm tức là Phật, Phật tức là tâm”. Chúng sinh tức là Phật, Phật tức là
chúng sinh; tâm Phật và tâm chúng sinh không hề sai biệt. Khi chúng ta
niệm Phật tức là niệm tự tâm. A Di Ðà Phật là Phật trong tâm chúng sinh,
Phật không lìa khai tâm chúng sinh, cho nên khi chúng ta niệm Phật chính
là niệm tự tính Phật trong tâm chúng ta, đã niệm Phật trong tự tâm rồi thì
có Phật nào nữa mà cảm ứng, lúc đó tự tâm cảm ứng tự tâm. Chẳng những Phật
A Di Ðà ở trong tâm chúng sinh mà mười phương chư Phật cũng ở trong tâm
chúng sinh. Chúng sinh như đứa con thơ trong tâm chư Phật, đã là đứa con
thơ ở trong tâm Phật thì Phật nào mà chẳng từ bi tiếp dẫn, chẳng thương
nhớ chúng sinh. Vì thế Ðức Phật A Di Ðà luôn thương nhớ chúng sinh, Ngài
luôn hy vọng những đứa con lầm đường lạc lối của mình sớm trở về ngôi nhà
Cực Lạc, sớm thành tựu ba đức của Ngài, đó là Trí đức, Ân đức và Ðoạn
đức, cũng là đức Pháp thân, đức Giải thoát, đức Bát nhã.

Chúng ta trăm ngàn đại kiếp đã lầm đường lạc lối mê lầm, cho nên ngày nay
vẫn còn trôi lăn trong vòng sinh tử. Vì thế ngày nay cần phải phát tâm chí
thành, lão thật niệm Phật, nếu tâm nhớ đông nhớ tây, tư tưởng loạn động,
làm sao niệm Phật có cảm ứng được?

5.- Chuẩn bị tư lương vãng sinh Tây phương 

Chúng ta tham dự Phật thất chú trọng ở chỗ thực hành, nếu có điều chi nghi
ngờ phải nên thỉnh giáo, dụng công có thông mới có lợi ích thiết thực, nếu
có trở ngại thì công phu khó mà thành tựu được. Ðối với chúng ta điều
thiết yếu quan trọng nhất là phải dụng công niệm Phật cho nhiều, lễ Phật
cho nhiều!

Chúng ta học Phật phải chú trọng ở điểm thực hành, nếu tu hành mà chỉ nghiêng
về nghiên cứu kinh sách, dù cho bạn thông suốt đến đâu cũng không được
vãng sinh, đôi khi còn bị mắc vào sở tri chướng. Nếu muốn vãng sinh, bạn cần
phải nhờ vào công đức của danh hiệu, lấy đó làm tư lương. Chúng tôi
hy vọng mọi người không nên vì việc làm công quả mà phế bỏ việc niệm Phật.
Cần phải từng giây, từng phút chấp trì Thánh hiệu chuẩn bị tư lương vãng
sinh Tây phương. Thời gian thấm thoát thoi đưa, không chờ đợi một ai, kính
thỉnh chư vị niệm Phật cho thật nhiều,
nhất tâm cầu sinh Tây phương.

 


NGÀY THỨ SÁU

 


Niệm Phật chú trọng cầu vãng sinh,


Xả
bỏ pháp này khó giải thoát.


1.-
Chỉ y theo niệm Phật độ sinh tử

Ấn
Quang Ðại sư có nói: “Ðời mạt pháp chỉ có chấp trì danh, niệm A Di Ðà
Phật mới có thể giải thoát. Tu hành các pháp môn khác khó mà được giải
thoát”. Nói như thế, người không hiểu lý sẽ không bao giờ chịu phục. Tại
sao chỉ vì một câu A Di Ðà đơn giản lại dám phế bỏ đi tất cả những lời dạy
khác của Ðức Phật mà Ngài đã dạy trong cả một thời đại? Nói như thế chứng
tỏ bạn là người không thông hiểu Phật pháp, đạo pháp cũng có thời đại của
nó. Giống như người nông dân trồng trọt cũng phải y theo thời tiết, nếu
gieo giống không đúng mùa làm sao giống có thể mọc được. Thời đại nào cũng
có ảnh hưởng của thời đại đó. Phật pháp cũng phân chia thành ba thời kỳ là
chánh pháp, tượng pháp và mạt pháp. Thời đại chúng ta hiện đang là thời kỳ
mạt pháp, nếu bạn không thành tâm niệm Phật mà cho rằng các pháp là tốt,
đương nhiên các pháp môn khác cũng tốt, song không hợp thời cơ.

Phàm một sự vật hay sự việc gì dù tốt đến đâu cũng có thời hạn sử dụng của
nó, nếu hết thời hạn sử dụng chất lượng sẽ không có. Cũng như trời đông
lạnh giá, bạn nói mặc áo lụa cho mát mẻ thì sai rồi. Áo lụa chỉ thích hợp
cho mùa hè mà thôi. Ngược lại, vào ngày hè thời tiết nóng nực, bạn lại nói
mặc áo da, áo bông là tốt. Áo bông, áo da chỉ có tác dụng chống lạnh.
Ðương nhiên mặc nó cũng tốt, song chỉ tốt cho ngày đông, bạn không thể mặc
nó vào mùa hè mà cho là tốt được, chứng tỏ bạn là người không hiểu rõ thời
tiết. Vì thế, tất cả các pháp không kể là thế gian hay xuất thế gian đều
lệ thuộc vào nhân duyên và thời tiết mà sinh sinh diệt diệt.

Pháp môn đã thuộc vào đệ nhất nghĩa đế, đương nhiên cũng tùy thuộc
vào
thời tiết nhân duyên mà có tác dụng, đó là điểm mọi người cần phải
nhận
thức cho rõ. Vào thời đại ngày nay, chỉ có một câu “A Di Ðà Phật”
mới có
thể liễu sinh thoát tử. Bạn muốn vãng sinh Tây phương không còn
thọ nhận
khổ đau thế gian thì bạn cần phải có chánh tri kiến, có tín tâm
mới có
thành tựu được. Bạn không nên nghe người khác nói pháp môn này
tốt, pháp
môn kia vi diệu rồi tin theo. Bạn cần phải biết rằng: “Thiên kinh
vạn
luận, xứ xứ đều quy hướng Tịnh độ, Tổ Tổ Thánh hiền xưa nay chỉ
quy hướng
Tây phương”, đó là điểm các bạn cần phải chú ý. Vào thời đại này
duy chỉ
nương theo niệm Phật mới được độ thoát, trừ niệm Phật ra, tu các
pháp môn
khác khó mà được giải thoát. Tôi thường giới thiệu cùng chư vị lời
dạy của
Tổ Ấn Quang, vì sao? Vì lời của Tổ dạy từng câu từng chữ đều khế
hợp với
kinh điển, đều được Tổ căn cứ trên kinh điển mà nói. Thí dụ như Tổ
có nói: “Thời đại hiện nay, xả bỏ pháp môn niệm Phật không thể giải
thoát, không
thể liễu sinh tử”, lời nói này rất hợp với lời Phật dạy trong Kinh
Ðại Tập: “Thời đại mạt pháp ức ức người tu ít có người đắc đạo, duy chỉ
y theo
pháp môn niệm Phật mới được độ thoát”. Ðó là một sự thật, vì thời
đại ngày
nay, là thời đại mạt pháp, căn khí của chúng sinh không còn sâu
dày lanh
lợi như thời tượng pháp và chánh pháp, nếu tu tự lực thật khó mà
giải
thoát, khó có được một người thành tựu, duy chỉ có nương theo pháp
môn
niệm Phật mới có thể giải thoát, chỉ vì pháp môn niệm Phật dễ thực
hành,
đơn giản mà lại dễ thành tựu, bất cứ hạng người thuộc căn cơ nào
cũng tu
được.

Lời
dạy của Phật trong kinh điển mọi người cần phải tin, nếu không tin thì
không phải là người Phật tử. Nhất là thân làm người xuất gia, ăn cơm Phật
mặc áo của Phật, bạn không thể tuyên dương chánh pháp là điều không thể
nói rồi, nếu ngay lời Phật dạy cũng không tin, thậm chí lại còn hủy báng
pháp môn niệm Phật, không tin lời Phật, lời Tổ tức bạn là quyến thuộc của
ma, như vậy làm sao tránh khỏi quả báo, làm sao đủ chánh tri kiến học Phật
được?


2.-
Một câu niệm Phật đủ lục độ                

Phật thường dạy: “Pháp môn vô lượng thệ nguyện học”. Thật vậy, chúng ta
là người học Phật, cố nhiên không phải chỉ học một pháp môn mà cần phải
học tất cả các pháp môn khác. Thế nhưng, bạn phải biết pháp môn niệm Phật
là pháp môn tổng trì, có đầy đủ vô lượng vô biên các pháp. Tôi thường thí
dụ danh hiệu A Di Ðà Phật giống như thức ăn duy trì thân mạng, nếu bạn
không ăn thân thể sẽ trở nên tiều tụy. Vì một câu A Di Ðà Phật đầy đủ tứ
nhiếp pháp, lục độ vạn hạnh. Liên Trì Ðại sư cũng có nói: “Một khi khởi
niệm danh hiệu đã đầy đủ vạn đức, một khi trì danh đã đầy đủ trăm hạnh”,
nói như thế người không có trí tuệ sẽ không thể nào lãnh thọ, không thể
hiểu được, đồng thời cũng không tin.

Bình thường có một số người ngộ nhận rằng: “Một câu A Di Ðà Phật đã đầy
đủ lục độ vạn hạnh, tứ nhiếp, như vậy chúng ta tu lục độ và hành tứ nhiếp
pháp thì không cần phải niệm Phật nữa”. Bạn cần phải biết chúng ta niệm
Phật là để cầu sinh Tây phương. Trong Kinh A Di Ðà, Phật có
dạy: “Không thể nào lấy một chút ít phước đức nhân duyên mà được sinh
sang nước ấy”. Chúng ta nhất định phải có lòng tin kiên cố, trước tiên lấy
câu A Di Ðà Phật trì niệm cho chí thành, có như thế nghiệp chướng mới tiêu
trừ, trí tuệ mới phát sinh, sau đó mới tu tập các pháp khác. Vì sao trước
tiên chúng ta phải chấp trì Thánh hiệu? Vì trong Thánh hiệu đã có đầy đủ
công đức tứ nhiếp pháp và lục độ vạn hạnh, nên chúng ta cần phải niệm Phật
cho nhiều, nhờ vào công đức của niệm Phật làm cơ sở, nền móng cho chúng
ta, sau đó mới tu tứ nhiếp và lục độ, có như thế con đường tu đạo mới
thông, từ chỗ thông rồi, dụng công mới nhẹ nhàng, mới có an ổn được.

Tuy nói cần tu lục độ vạn hạnh, song,
chúng ta là người niệm Phật cần phải chú trọng ở việc cầu sinh Tây phương.
Sinh Tây phương chứng được vô sinh pháp nhẫn rồi, sau đó mới trở lại đạo
tràng trong mười phương thế giới, rộng độ chúng sinh, viên mãn hạnh nguyện
Bồ đề, có như thế mới xứng đáng là người tu niệm Phật.

Những lời nói trên đều đã được chư Tổ
nói trong quá khứ. Lời Tổ nói đều căn cứ theo kinh điển, tôi chỉ đem lời
nói của các ngài mà phân tích, diễn bày cho chư vị dễ hiểu. Thật ra lời
nói đó không khác gì lời dạy của chư Tổ. Tại sao tôi lại dám biến đổi lời
dạy của chư Tổ? Vì muốn khế lý khế cơ theo thời đại. Nếu nói hoàn toàn
giống lời văn trong kinh điển, e rằng sẽ có người không thể hội được, vì
thế cần phải tùy theo hoàn cảnh, tùy theo căn cơ của mọi người mà nói.
Song dù trăm thuyết ngàn thuyết cũng không lìa nghĩa lý, giống như các nhà
khoa học y khoa hiện tại rất tiến bộ, đã phát hiện ra nhiều chất dinh
dưỡng để duy trì mạng sống nhân loại, cho nên tôi cũng lấy thí dụ danh
hiệu A Di Ðà vạn đức hồng danh dạy người cho dễ hiểu, quý vị có nhận thức
được không?


3.-
Hạnh Ðại thừa bất não chúng sinh     

Bình thường có một số người cho rằng,
nếu người tu theo Ðại thừa, thì người đó phải ở tại thế giới Ta Bà, hành
Bồ tát đạo, rộng độ chúng sinh mới đúng là Ðại thừa, nếu nói cầu sinh Tây
phương tức là Tiểu thừa. Bạn nói như vậy không sai, người tu theo Phật
pháp là cần phải độ chúng sinh, phải xả tự kỷ để hành lợi tha, chỉ có độ
chúng sinh mới có thể báo đáp ân đức của Phật, mới có thể thành Phật đạo.
Song bạn phải tự suy xét mình có đủ năng lực độ chúng sinh hay không? Nếu
có, bạn cứ lấy lợi tha để làm tự lợi cho việc tu hành. Chúc bạn độ tha sớm
thành Phật đạo.

Chúng ta hiện nay là tội chướng phàm
phu, sinh vào thời đại mạt pháp, nhưng được may mắn gặp được Phật pháp,
lại có đủ lòng tin để tu hành. Ðiều đó chứng tỏ chúng ta là người đã nghe
Phật pháp trong nhiều đời nhiều kiếp, là người có thiện căn; người không
có thiện căn chắc chắn không thể gặp được Phật pháp. Chỉ vì chúng ta có
nghiệp chướng nặng nề nên đến ngày nay chưa được giải thoát. Tuy là tu
thiện, thế nhưng không thể tránh hẳn được làm ác, thiện cũng chưa thuần.
Một mặt tu đức, một mặt thì làm tổn đức; hoặc tuy giữ giới, song chưa tu
phước tuệ, không kết thiện duyên với người. Vì thế, chúng ta muốn độ chúng
sinh cần phải có thứ lớp, trước tiên cần phải trì giới cho tốt, lấy giới
làm cơ sở, tự cầu giải thoát, tiếp theo là tu hạnh Bồ tát rộng độ chúng
sinh, cho nên mới nói “leo cao ắt phải từ dưới thấp, đi xa ắt phải từ chỗ
gần”.

Phải có thứ lớp như thế bạn mới có an
ổn, nếu không nhất định bạn sẽ gặp phải sai lầm. Tại sao? Trong luận có
nói: “Tự thân chưa độ mà độ người, tức là không có”. Bạn nói độ chúng
sinh tốt, song cần phải cảnh giác, phải thấy mình có đầy đủ đạo lực hay
không, nếu không chẳng những bạn không độ được chúng sinh mà ngược lại bị
chúng sinh độ nữa là khác. Kỳ thật người niệm Phật là người đang hành đạo
Bồ đề, cầu sinh Tây phương, một khi hoa nở liền thấy Phật, ngộ vô sinh
pháp nhẫn, sau đó trở lại khắp mười phương rộng độ chúng sinh, theo bạn
thì như vậy đúng hay là sai? Chẳng lẽ lời dạy của chư Phật, chư Tổ lại
cần bạn chấn chỉnh hay sao? Nếu bạn là người chân thật có trí tuệ, sao
lời nói của bạn không tương ưng với lời dạy của chư Phật.

Hiện tại chúng ta không hại chúng sinh là tốt, là quý lắm rồi. Nếu bạn
không muốn làm hại chúng sinh thì bạn cần phải giữ giới hạnh cho thanh
tịnh, bạn hại chúng sinh tức là phạm giới. Nếu bạn không muốn làm hại
chúng sinh, gây khổ đau sầu não cho chúng sinh, bạn cần phải trì giới cho
thanh tịnh, nếu không làm sao bạn có thể tu lục vạn hạnh độ chúng sinh hay
đạt được sự thanh tịnh viên mãn được. Quý vị ở đây những người có chí, có
tâm thiết tha tu hành, kính xin chư vị không nên nói pháp môn niệm Phật
không tốt, rồi đánh mất đi nhân duyên hy hữu được vãng sinh của chính
mình.


4.-
Tưởng nhớ Pháp sư xin niệm Phật
            

Ấn Quang Tổ sư có khuyên người xuất
gia, nếu có nhớ đến ngài xin hãy tha thiết dụng công mà niệm Phật. Nếu bạn
niệm Phật cho tốt, tương lai nhất định cũng có năng lực như Pháp sư. Nếu
bạn không tu trì phước đức lại muốn nghiên cứu kinh điển, học làm Pháp sư,
vì làm Pháp sư thăng tòa uy phong ai mà chả thích, song việc đó bạn có làm
được hay không? Nếu trong quá khứ bạn không có trồng nhân đó, không có
năng khiếu và năng lực, nhân duyên không đầy đủ thì cũng không nên luống
phí tâm lực, hoang phí thời gian làm gì, mà cần phải chí tâm niệm Phật,
lạy Phật. Vì “lễ Phật một lễ tội diệt hà sa, niệm Phật một câu phước tăng
vô lượng”. Bạn cứ như vậy mà dụng công tám năm, mười năm sau, muốn làm
Pháp sư cũng chưa muộn. Thật ra không cần học, tự nhiên bạn cũng có thể
giảng kinh thuyết pháp được, cũng có thể độ chúng sinh được. Vì thế bạn
cần phải theo thứ lớp mà học tập, giống như ban đầu vào chùa làm tiểu sa
di, năm năm đầu phải tinh chuyên giới luật, năm năm sau mới nghe pháp tham
thiền học đạo, niệm Phật, có như thế nghiệp chướng mới tiêu trừ, về sau
thành tựu mới lớn. Nếu không học căn bản, cứ học những điều cao xa, làm
sao thành tựu được. Hy vọng chư vị học giả sơ phát tâm phải nên như vậy,
không nên hy vọng cao xa, mà phải lão thật dụng công mới tốt.

Tổ
sư Ấn Quang sở dĩ khăng khăng không nhận đệ tử xuất gia cũng vì nguyên
nhân đó. Ngài e ngại rằng nếu nhận người xuất gia thì họ sẽ học đòi làm
Pháp sư, sợ họ không đủ giới đức tu hành, luống thọ của đàn na ắt hẳn sẽ
đọa lạc. Hiện tại đa số người xuất gia đều như vậy, cứ vào chùa cạo đầu,
chỉ biết lo thụ hưởng, không nghĩ đến bổn phận cao quý của người xuất gia,
chỉ tu tập cho qua ngày đoạn tháng, chớ không bao giờ nghĩ đến việc giải
quyết sinh tử, cứu độ chúng sinh, thậm chí còn làm mất chánh kiến cho hàng
Phật tử tại gia, làm cho đạo pháp ngày càng đi vào con đường suy đồi. Thảo
nào cổ đức có nói: “Người xếp hàng trước cửa địa ngục nhiều nhất là Tăng
chúng”. Ngày nay thậm chí những người làm sư phụ cũng đều như vậy, bản
thân không có thân giáo, lại nhận đệ tử, tự mình không có gì để làm nơi
nương tựa tu tập, không có kinh nghiệm, làm sao dạy đạo hạnh, công phu cho
hàng đệ tử. Từ chỗ thầy không tốt, cho nên dẫn đến đệ tử không làm sao tốt
được.

Nếu
bạn có thể noi theo gương Hòa thượng Quảng Khâm mà học tập thì tốt nhất.
Học Hòa thượng ở cái gì? Học cái khổ hạnh của ngài, mấy mươi năm tu tập
trên núi không thọ nhận của đàn na đã đành, thế nhưng sau khi trở về thế
gian được thí chủ cúng dường ngài không bao giờ có tâm tham trước, ngài ăn
mặc rất đạm bạc thô sơ giản dị, bao nhiêu của ngon ngọt của đàn na cúng
dường cho ngài, ngài đều chia cho đại chúng, đều lo cho Phật sự. Vì thế
bạn muốn học đạo cho tốt, hãy nên xem ngài là tấm gương mà học tập. Nếu
bạn không học, không khổ công tu hành, lại vọng tưởng làm cái này cái nọ
thật chẳng khác nào bỏ gốc mà theo ngọn, giống như người nông dân không có
cày bừa, không cần cù siêng năng mà lại muốn lúa khai hoa kết nhụy. Vì thế
kính thỉnh chư vị sơ phát tâm, phải khổ luyện cho vững chắc, có khổ luyện
mới có thành tựu lớn, như vậy mới không phụ công lao học Phật của chính
mình.

Hòa
thượng Quảng Khâm không hề thuyết pháp hay giảng kinh, thế nhưng
ngài lại
là một đại Pháp sư, mọi người thấy ngài đều quy kính, lễ lạy, ngài
không
có học vị tiến sĩ, thạc sĩ hay bác sĩ, nhưng thành phần đệ tử quy y
với
ngài đều là những hạng người đó. Chúng ta thử xem, Hòa thượng
Quảng Khâm
không có giảng kinh mà đã có thể độ nghìn vạn người, hà huống gì
ngài
thuyết pháp giảng kinh sẽ độ biết bao nhiêu người? Ngài dựa vào
cái gì?
Dựa vào công đức trì giới trang nghiêm, dựa vào công phu thiền
định tịch
tịnh, dựa vào niệm Phật. Chư vị nên biết, Hòa thượng không phải là
không
giảng kinh được, song chỉ vì ngài không lấy đó làm nhu yếu, ngài
chỉ lấy
giới đức trang nghiêm, lấy công phu chân thật là đã đủ độ người
rồi. Cho
nên nói thân giáo bao giờ cũng quan trọng hơn khẩu giáo. Như vậy
tại sao
chúng ta không thể noi theo học tập Hòa thượng được? Chỉ vì chúng
ta quá ư giải đãi. Bạn có bao giờ thấy người nào giải đãi
mà đạo nghiệp hay học vấn thành tựu không? Do đó, chúng ta chỉ có
tinh
tấn niệm Phật mới có thành tựu vãng sinh Tịnh độ được.


5.-
Tâm, miệng niệm Phật dễ tương ưng             

Chư vị về đây tham dự Phật thất, thông thường mà nói, niệm Phật chỉ dụng
tâm niệm, mà không dụng miệng niệm. Song, chúng ta tu pháp môn Tịnh độ chú
trọng Trì danh niệm Phật, pháp Trì danh là từ kim khẩu của Ðức Thế Tôn
thuyết, cho nên lấy miệng chấp trì danh hiệu cũng rất trọng yếu. Như trên
đã nói, niệm Phật là dụng tâm niệm,
không cần dụng miệng niệm; nên biết rằng tâm niệm đương nhiên là trọng yếu, song
không thể phế bỏ miệng niệm. Người xưa căn tính rất lanh lợi nên
khi dụng tâm niệm, niệm Phật Thật tướng đương nhiên là có thể được. Song,
hiện tại chúng ta đang ở thời đại mạt pháp, căn tính không thể sánh với
người xưa được. Cho nên, chúng ta không thể phế bỏ miệng niệm, miệng niệm
nếu có thể tương tục không gián đoạn, niệm niệm rõ ràng, tuy tu Trì danh
nhưng cũng có thể đạt đến Thật tướng.

Mọi
người cần phải biết, chữ “niệm” trong hai chữ “niệm Phật” là do hai chữ
“kim, tâm” hợp lại mà thành. Chúng ta tu Trì danh niệm Phật, cố nhiên là
phải dùng miệng niệm, song không phải là quên tâm đi, mà nhất định dụng
tâm để niệm. Dụng tâm như thế nào? “Kim, tâm”, chữ “kim” chỉ cho hiện tại,
là giây phút hiện tại, giây đầu tiên là hiện tại, thế nhưng khi bước sang
giây thứ hai, thì giây thứ nhất đã trở thành quá khứ rồi. Giây đồng hồ
chạy tích tắc, tích tắc rất có quy luật. Tâm chúng ta niệm Phật cũng như
giây đồng hồ vậy, từng giây từng giây, tích tắc tích tắc, không ngừng niệm
A Di Ðà Phật, A Di Ðà Phật, A Di Ðà Phật… câu này tiếp nối câu kia, niệm
không cho gián đoạn, câu này qua liền chú ý vào câu kế tiếp, niệm niệm
phải từ tâm mà lưu xuất. Nếu tâm không chú ý tức tâm bạn đã tán loạn, tâm
tán loạn làm sao mà thành tựu việc vãng sinh được?

Chúng ta niệm Phật là nhờ vào tha lực, tức là nhờ vào nguyện lực đại từ bi
của Phật A Di Ðà. Song, trong khi niệm bạn không được quên tâm chí thành,
tâm cung kính, mỗi câu danh hiệu từ tâm thành kính mà lưu xuất, miệng niệm
từng câu từng chữ rõ ràng, tai nghe từng câu từng chữ rõ ràng. Nếu miệng
bạn niệm mà tâm không chú ý tức bạn sẽ bị vọng tưởng khởi lên, cho nên
điều quan trọng là bạn phải dụng tâm mà niệm. Mọi người phải chú ý, nếu
không dụng tâm mà niệm, thì giống như Ðại sư Hám Sơn có nói: “Miệng niệm
Di Ðà tâm tán loạn, chỉ luống phí mất công”. Cho nên khi niệm Phật mà bạn
không dụng tâm chú ý vào câu Thánh hiệu, tán loạn sẽ khởi lên. Nếu có chú
ý thì tâm khó mà tán loạn được. Khi công phu niệm Phật, chúng ta phải tùy
trước vào thời gian, không lo ngại đến tán tâm hay hôn trầm. Nếu bạn có
thể chân thật dụng “kim, tâm” mà niệm, thì càng niệm tâm bạn sẽ càng an
lạc, càng niệm tâm càng thanh tịnh. Một giờ công phu là một giờ an lạc,
một giờ công phu là một giờ giải thoát. Bạn niệm Phật mà cảm thấy khổ đau
hay khó chịu, không thích thú, chứng tỏ trong quá trình dụng công niệm
Phật tâm bạn có nhiều vọng tưởng, do có vọng tưởng nên tâm không an, tâm
không an tức là tâm tán loạn, tâm tán loạn thì làm sao có an lạc được.

Bạn cần phải biết “Phật” có nghĩa là giác. Chúng ta niệm Phật tức là chúng
ta thời thời giác ngộ. Bạn có thể dụng “kim, tâm” mà niệm, từng giây từng
phút niệm niệm rõ ràng, bạn sẽ có được an lạc và tự tại. Bạn muốn có pháp
lạc chỉ cần bạn niệm niệm tương ưng, tương tục là có thể đạt được pháp lạc
của việc tu hành, không có một thú vui nào trong thế gian có thể sánh
bằng.

Nếu bạn có thể dụng “kim. tâm” mà niệm, thì một ngày công phu bạn có thể
đạt đến mười vạn câu. Thế nhưng đối với người sơ phát tâm, một ngày công
phu niệm được bốn hay năm vạn câu là khá lắm rồi. Chư vị sơ phát tâm phải
chú ý điều đó, vì chúng ta là người mới tập tểnh bước vào công phu, chư vị
chỉ cần quy định bốn hay năm vạn câu là khá nhiều, không nên học đòi theo
những người có công phu thành thục, mong muốn mình như họ niệm mười vạn
câu. Thế nhưng, khi vào công phu chúng ta mới thấy được, mình không thể
làm được việc đó, lý do vọng tưởng mình quá nhiều. Từ chỗ công phu không
thành tựu như người thành thục sẽ dẫn đến tâm lý bức xúc, đó là kinh
nghiệm tu hành xin chư vị sơ phát tâm chú ý cho. Ðiều thiết yếu, công phu
niệm Phật không chú trọng ở nhiều hay ít, mà là ở chỗ tâm có an định hay
không.



6.- Hữu tình, vô tình niệm niệm sinh diệt

Nói đến tâm, chúng ta chung quy là có tâm hay không? Thực tế là không có
tâm, tại sao lại không có tâm? Vì không kể là hữu tình hay vô tình đều có
bốn giai đoạn sinh, trụ, dị, diệt. Kỳ thật nói là “trụ” nhưng thực thể của
nó vốn niệm niệm biến diệt. Lấy thí dụ cái bàn chẳng hạn, tuy nhìn bên
ngoài bình thường như thế, nhưng thực thể bên trong của nó biến diệt không
ngừng, một sát na trôi qua, nó đã không còn như trước nữa. Bất kể là sơn
hà đại địa, hữu tình hay vô tình đều phải chịu bốn quy luật sinh, trụ, dị,
diệt. Ngay như con người của chúng ta cũng vậy, nó cũng phải chịu bốn quy
luật sinh, lão, bệnh, tử.

Tâm chúng ta thay đổi so với vật chất nhanh hơn nhiều, nhanh đến tốc độ
nào? Trong kinh luận thường nói: “Trong một cái khảy móng tay có chín
mươi sát na, trong một sát na có chín trăm niệm sinh diệt”. Tốc độ đó
nhanh không? Lấy thí dụ cho dễ hiểu, như máy cắt giấy chẳng hạn, chỉ cần
bấm máy một cái “cạch” thôi, trong nháy mắt đã có một nghìn trang giấy bị
cắt, thời gian máy cắt là một sát na, còn một nghìn trang giấy bị cắt là
biến đổi của một sát na. Trong một sát na sinh diệt cũng có sát na sinh
diệt quá khứ, hiện tại và tương lai. Cũng là một lần cắt, thế nhưng trang
này cắt trước, trang kia cắt sau, tuy không được cắt đồng thời một lần,
nhưng có chung một sát na.

Tốc
độ biến đổi của một sát na cực nhanh, cực ngắn, nhãn quan phàm phu chúng
ta không thể nhìn thấy được. Duy chỉ có nhãn quan của Phật mới nhìn thấy
được thôi. Hiện tại các nhà khoa học nghiên cứu chưa đạt đến trình độ đó.
Chúng ta cũng biết tốc độ điện đàm của máy điện thoại nhanh đến mức độ
nào, chỉ cần chúng ta bấm số thôi, trong giây lát đã có thể nói chuyện với
người mình cần gặp, như đang đối diện trước mặt, dù cách xa nhau đến hàng
nghìn cây số. Sự hiểu biết chúng ta có giới hạn không được thông suốt như
Phật. Bạn muốn đạt được nhãn quan như Phật, muốn thấy được bản lai của các
pháp, xin hãy tinh tấn mà niệm Phật.


7.-
Tu hành theo đệ nhất nghĩa đế

Bạn
phải biết rằng vui thế gian là nguồn gốc của đau khổ, nếu bạn không hiểu
biết điểm này, mà lại tham đắm vào tài của, sắc đẹp, danh lợi, ăn ngon,
ngủ nghỉ thì không bao giờ có ngày liễu sinh thoát tử. Ðã không biết thú
vui thế gian là nguồn gốc của đau khổ, thì làm sao có thể xả bỏ nó được?
Không xả bỏ nó làm sao có được tự tại? Hưởng thọ tình ái, ngũ dục thế
gian có bao giờ tìm thấy được chân hạnh phúc. Bạn nên biết rằng ngũ dục
trong thế gian như nước muối vậy, bạn càng uống càng khát, cho nên người
học Phật chúng ta nên giác ngộ mà xả bỏ nó đi, nếu không thì mãi mãi chìm
đắm trong bể khổ sinh tử, làm sao có ngày giải thoát được. Vì thế, mọi
người hãy đem thế gian tình mà đoạn trừ nó đi. Phật pháp không có giảng
nói thế gian tình, mà chỉ nói đến tình xuất thế gian, đó là liễu sinh
thoát tử. Vì thế chư vị tự mình phải giác ngộ mới có thể tu hành được.

Phật pháp giảng nói đệ nhị nghĩa đế, đương nhiên cũng có nói đến trung
hiếu, nhân nghĩa… Song, chúng ta chân chính tu hành thì không thể y theo
đệ nhị nghĩa đế, hay thế gian tình được, mà chỉ có y theo đệ nhất nghĩa đế
tu hành mới có thể giải thoát, cho nên mới có nói: “Không y đệ nhất nghĩa
đế, không thể đắc Bát nhã giải thoát”. Nếu có thể như vậy mà dụng công tu
hành thì đạo nghiệp mới thành tựu, mới có thể trở lại độ chúng sinh được,
mới chân chính được gọi là: “Phật pháp tại thế gian, không lìa thế gian
mà giác ngộ, nếu lìa thế gian mà tìm Bồ đề, chẳng khác đi tìm lông rùa
sừng thỏ”. Bạn muốn độ chúng sinh nhất định đạo nghiệp phải viên thành,
phước tuệ viên mãn, phải liễu sinh thoát tử mới trở lại độ chúng sinh
được. Bằng không, mơ mơ hồ hồ, không theo thứ lớp, không phân biệt được
trước sau, thì càng tu càng hỏng bét. Làm sao có thể liễu sinh thoát tử?
Muốn liễu sinh thoát tử, kính thỉnh mọi người nên chí tâm mà niệm Phật.

 


NGÀY THỨ BẢY

 


Dụng công có diệu pháp gì?


Trì danh niệm Phật tối thượng
thừa.


Ðối với phương pháp niệm Phật, giả như
bình thường mọi người đã có phương
pháp thực hành rồi, lại thấy phương pháp đó thích hợp, công phu có thành
tựu thì cứ nên theo đó mà thực hành. Những người sơ phát tâm nếu chưa có
phương pháp nào thực hành thì xin hãy lắng tâm nghe tôi nói đây.


1.-
Ba nghiệp tương ưng công phu thành tựu

Công phu niệm Phật không phải một ngày, hai ngày mà có thể thành tựu. Làm
sao cho nhanh chóng? Nếu ngày nay dụng công không tốt, thì ngày sau lại
dụng công, nếu ngày sau nữa lại không tốt thì lại tiếp tục ngày ngày sau
nữa, cứ thế dụng công đến khi nào thấy tốt mới dừng. Dụng công như thế nào
là tốt? Ðó là ba nghiệp thân, khẩu, ý có thể tương ưng với Phật, không
loạn tưởng, ngày đêm an lành, tâm nhớ Phật, miệng niệm Phật, thân lễ Phật,
có thể chấp trì danh hiệu không quên không gián đoạn như vậy mới tốt.

Trước tiên nói về thân nghiệp. Khi ngồi cần phải thẳng thắn, thân
không
cúi về phía trước hay ngã về phía sau, luôn giữ cho lưng thẳng
đứng. Chân
cần phải ngồi xếp bằng, bán già hoặc kiết già tùy theo năng lực.
Ðầu không
nghiêng qua phải, qua trái mà luôn giữ cho thẳng thắng, không nên
cúi tới
trước, hoặc ngã về phía sau. Ðối với tay, lấy tay phải để lên tay
trái đặt
trên đùi. Mắt không liếc trái, liếc phải, mà nhìn theo sống mũi,
cách chỗ
ngồi khoảng ba hoặc bốn tấc. Nếu thấy trong người mệt mỏi, hoặc
buồn ngủ nên mở
mắt, nếu nhắm mắt sẽ đưa đến hôn
trầm. Trong khi công phu nếu thấy tinh thần sảng khoái nên khép
mắt
lại. Chú ý toàn thân các cơ luôn buông thả, chỉ giữ sao cho cột
sống luôn thẳng đứng, lưng không được cong, vì cong sẽ dẫn
đến đau lưng, cũng không được ưỡn về phía trước quá, vì ưỡn quá sẽ
dẫn đến
tức ngực.

Ðối với khẩu nghiệp, không kể là niệm
thầm, niệm lớn hay niệm trung bình, Kim cang niệm hay mặc niệm tất cả đều
tốt, chỉ quý ở chỗ là làm sao “niệm niệm tương tục”, không cho gián đoạn.

Trong quá trình công phu, bạn thấy mình bị hôn trầm hay tán loạn nên niệm
lớn, niệm lớn không có nghĩa là bạn niệm quát tháo lên, để cho tổn hao
thần lực, mà niệm ở đây là niệm vang rền từng câu từng chữ rõ ràng, âm
thanh vừa đủ tai nghe. Âm thanh niệm không nên cao quá, cũng không nhỏ
quá, mà nên trung bình. Ðó là những phương pháp, bạn xem thử mình thích
hợp với phương pháp nào, rồi chọn lấy một mà thực hành. Song, hiện tại chư
vị đang tu tập theo đại chúng, nhất nhất đều nên theo chúng. Không nên
chúng niệm nhanh mình lại niệm chậm, chúng niệm chậm mình lại niệm nhanh,
mà cần phải hòa đồng với chúng, cùng chúng dị khẩu đồng âm mới dễ thu
nhiếp thân tâm, tâm mới có thanh tịnh được.

Kim cang niệm, tức là niệm chỉ có một mình bạn biết, người bên cạnh không
thể thấy biết được. Nếu miệng không động, chỉ niệm trong tâm gọi là mặc
niệm, mặc niệm là niệm không ra tiếng. Tuy không niệm ra tiếng, song tự tâm của
bạn phải niệm từng chữ từng câu cho rõ ràng, tai cũng nghe từng chữ
từng câu rõ ràng, có như thế mới dễ tương ưng.

Như thế nào là ý nghiệp tương ưng? Trong khi niệm Phật bạn cần phải chú
ý, nắm lấy câu danh hiệu mà niệm. Ý niệm từng câu, từng chữ rõ ràng, như
vậy bạn niệm nghìn vạn câu mà trong tâm không có tạp loạn, dụng công lâu
ngày ắt sẽ có tự tại và an lạc, không hôn trầm, không tán loạn, công phu
trở nên thành thục tương ưng “một niệm tương ưng một niệm Phật”. Công đức
niệm Phật như thế không thể nghĩ bàn, kính thỉnh mọi người thành tâm dụng
công niệm Phật. Mỗi câu danh hiệu có thể niệm như trên, thì mỗi một câu
niệm Phật ba ngàn thế giới đều có thể nghe được, âm thanh chu biến khắp ba
ngàn thế giới, công đức như thế có lớn không? Nếu có thể “niệm niệm tương
ưng niệm niệm Phật” thì mười phương các nước chư Phật đều nghe được, như
vậy một câu danh hiệu, âm thanh chu biến khắp pháp giới, công đức đó mới
chân thật là lớn. Kính thỉnh chư vị chí tâm niệm Phật, nếu không thời gian
trôi qua thật tiếc thay! Thật tiếc thay!


2.-
Phật thủ bất tận dụng bất kiệt

Chúng ta mở mắt ra thấy tượng Phật, nhắm mắt lại thấy tượng Phật đó là
Quán tượng niệm Phật. Hiện tại ở đây chúng ta chỉ chú trọng Trì danh niệm
Phật, nên quán tưởng như thế nào? Quán nghĩa là quán chiếu, cũng có nghĩa
là chú ý, tập trung tâm lực lại một chỗ. Chúng ta tu trì danh là tập trung
chú ý vào danh hiệu, niệm từng câu từng chữ sao cho rõ ràng, chú ý vào âm
thanh câu thánh hiệu, dụng nhĩ căn quán chiếu. Nếu miệng niệm mà tâm không
chú ý, đó là tâm bạn đã bị loạn tưởng rồi. Người niệm Phật là đem âm thanh
danh hiệu tập trung lại, phản quan nghe lại âm thanh, tức là tu nhĩ căn,
từng tiếng từng tiếng rõ ràng tâm nhớ không quên đó là bạn nhớ Phật niệm
Phật. Niệm Thánh hiệu là Phật A Di Ðà, tai nghe rõ ràng là Quán Thế Âm,
nhớ Phật là Ðại Thế Chí, như vậy người niệm Phật là lấy Tây phương Tam
thánh làm cảnh giới y chính trang nghiêm, làm cảnh giới cho chánh niệm.

Danh hiệu Phật phải lưu xuất từ đâu? Phải lưu xuất từ tâm của bạn, lưu
xuất từ tâm mới có thể trì niệm lâu dài, như thế mới có thành tựu. Vì tâm
là chủ thể của các pháp, tâm được ví như nguồn nước không bao giờ cạn. Bạn
thấy giếng nước có những mạch nước luôn luôn chảy không gián đoạn, nó cung
cấp nước cho chúng ta, có bao giờ bạn xài hết giếng nước không? Cho nên
tục ngữ mới có câu “thủ chi bất tận, dụng chi bất kiệt” là vậy.

“Thủ chi bất tận” chỉ cho tự tính Phật, “dụng chi bất kiệt
“ chỉ cho âm thanh câu Thánh hiệu A Di
Ðà Phật mãi mãi chuyển biến khắp mười phương, hiện nay các nhà
khoa học
cũng đã chứng minh được điều đó. Lấy thí dụ cho dễ hiểu, khi bạn ở
bờ Tây
biển Thái Bình Dương, bạn lấy tay khuấy động lên mặt biển lập tức
sẽ có
một làn sóng chạy đến bờ Ðông, tuy khuấy nhẹ như vậy mà làn sóng
chuyển biến khắp nơi. Cũng giống như vậy, khi chúng ta niệm Phật, công
đức A Di Ðà Phật chu biến khắp pháp giới, cho
nên một câu Thánh hiệu cũng là viên chứng pháp giới, và một câu A
Di Ðà
Phật cũng chính là pháp giới, pháp giới cũng chính là Thánh hiệu A
Di Ðà
Phật. Hiện tại âm thanh niệm Phật của chúng ta không chỉ giới hạn
trong
phạm vi niệm Phật đường này, không chỉ có những người trong niệm
Phật
đường nghe thôi, mà các thế giới khác cũng nghe được. Danh hiệu
Phật chu
biến khắp pháp giới thì mười phương thế giới chư Phật cũng nghe
được.

Như
vậy, hiện tại sao chúng không nghe được âm thanh niệm Phật của các địa
phương khác? Vì nhĩ căn chúng ta có giới hạn, giống như người điếc làm
sao có thể nghe được? Nếu nhĩ căn chúng ta viên thông như Quán Thế Âm Bồ
tát thì mười phương thế giới không có âm thanh gì mà không thể nghe được.
Cao hơn nữa, lục thông viên thông, chẳng những nghe thấy, mà có thể ngửi,
có thể nếm được nữa là khác. Vì lục căn chúng ta bị che đậy đầy dẫy bởi
lục trần, lục trần không trừ lấy năng lực gì để nghe?


3.-
Lợi ích niệm Phật có thể thành Phật

Chúng ta niệm Phật có công dụng gì? Có công dụng nghiệp chướng được tiêu
trừ, phước tuệ tăng trưởng, cao hơn nữa là được giải thoát sinh tử, độ
chúng sinh thoát khỏi luân hồi. Phật pháp giảng nói muốn khai mở trí tuệ
Bát nhã, phải phát tâm Bồ đề, phải có đại bi đại nguyện, phát đại hạnh.
Hiện tại chúng ta có thể thực hành được đại trí của Văn Thù Bồ tát, đại bi
của Quan Âm Bồ tát, đại hạnh của Bồ tát Phổ Hiền, đại nguyện lực của Bồ
tát Ðịa Tạng không? Hiện tại, bản thân chúng ta không có những năng lực
đó, song nếu bạn nhờ vào tha lực cũng có thể làm được, nhờ vào tha lực gì? Ðó là nhờ vào công đức niệm Phật A Di Ðà.

Phàm phu chúng ta bản thân vốn khổ não vô lượng, tự mình không có công đức
bố thí hết cho mọi người được. Song, Phật A Di Ðà là đại từ bi, danh hiệu
của Ngài vốn có công đức vô lượng, một câu Thánh hiệu đầy đủ tất cả các
phước đức, cho nên chúng ta đem công đức của niệm Phật mà hồi hướng đến
khắp cả mười phương thế giới chúng sinh, đó là hành đại bố thí. Công đức
bố thí đó so với công đức làm bố thí hằng ngày của bạn rộng lớn hơn nhiều,
lại trường tồn tại bất diệt. Nói như thế sẽ có nhiều người hiểu lầm cho
rằng công đức niệm Phật đã lớn rồi cần gì phải làm các việc thiện khác
nữa. Bạn phải biết rằng công đức niệm Phật là chánh nhân để giải thoát,
còn bố thí làm phước mà bạn tạo mỗi ngày là trợ nhân cho giải thoát. Nếu
bạn có khả năng nên làm cả hai thì công đức sẽ rất lớn, nếu không đủ khả
năng nên làm cách bố thí như trên. Song, bạn nên biết rằng công đức tối
cao của niệm Phật vẫn là giúp cho chúng ta thoát khỏi luân hồi sinh tử,
thành tựu Phật đạo, độ chúng sinh, vì thế các bạn nên chí thành mà niệm.



4.- Ðoạn nghi, sinh tín vãng sinh Tây phương

Phật pháp giảng nói duy tâm: “Tâm tức là Phật,
Phật tức là chúng sinh”, tâm bạn nhớ Phật thì bạn là Phật, tâm bạn nhớ
nghĩ đến chúng sinh, trộm cắp, dâm dục, thì “tâm là địa ngục, địa ngục
cũng là tâm”. Trong Kinh Ðịa Tạng có nói đến tám địa ngục nóng, tám địa
ngục lạnh, và vô gián địa ngục. Những địa ngục đó đều do tâm biến hiện,
tâm tạo ác mà có cảm ứng như vậy. Nếu như tạo ác nghiệp sát, đạo, dâm, làm
ô uế già lam, phá hoại ngăn cản mọi người làm thiện, trợ giúp người khác
làm ác hạnh, thì những ác nghiệp đó đều do tâm tưởng tâm tạo, tâm tạo địa
ngục thì tâm cũng cảm ứng địa ngục, địa ngục cũng do tâm tạo. Quốc độ của
Phật A Di Ðà cũng là do tâm tạo, tại sao Phật A Di Ðà tạo nên quốc độ Tây
phương? Vì Ngài muốn cứu độ tất cả chúng sinh đồng thoát khỏi luân hồi
sinh tử, cho nên Phật Thích Ca thấy chúng sinh ở cõi Ta Bà quá khổ đau nên
Ngài mới chỉ dạy cho chúng ta phát nguyện vãng sinh Tây phương để không
còn chịu khổ đau nữa.

Phật A Di Ðà có phát ra lời nguyện rằng: “Nếu có
chúng sinh nào nghe được danh hiệu tôi, chí tâm tin mến, muốn sinh về nước
tôi, cho đến mười niệm, nếu không được vãng sinh, tôi thề không thành
Chánh giác”. Ðó là nguyện lực của Phật A Di Ðà, cho nên mọi người muốn
được vãng sinh cần phải có lòng tin kiên cố, phát tâm chí thành, nếu có
đầy đủ lòng tin, tin sâu, tất nhiên công phu sẽ được viên mãn mà thành tựu
việc vãng sinh. Nói đến việc vãng sinh, có nhiều người không đủ lòng tin,
không dụng công niệm Phật, lại nghi ngờ rằng thế giới Tây phương không có
thật, hoặc cho mình nghiệp chướng nặng nề không có khả năng vãng sinh,
không thể thành Phật. Suy nghĩ như vậy là sai lầm. Vì có nghi là có chướng
ngại, nghi là căn bản phiền não, vì thế chúng ta nhất định phải đoạn nghi
mà sinh tín. Ðức Phật Thích Ca đích thân lấy kim khẩu bảo với chúng ta
niệm Phật là có thể vãng sinh, nhất định chúng ta tin sâu lời Phật, quyết
không nghi ngờ, có bao giờ Phật Bồ tát lại nói dối không?


PHẬT THẤT VIÊN MÃN

Chúc mừng chư vị! Chúng ta có đầy đủ phước duyên tham gia Phật thất bảy
ngày, công đức bảy ngày đến đây đã viên mãn, có gieo nhân ắt sẽ gặt được
quả, chúng ta gieo nhân xuất thế gian thì nhất định sẽ lìa khổ mà được an
lạc. Chúng ta cùng nhau hồi hướng công đức niệm Phật bảy ngày đến tất cả
chúng sinh đồng sinh về Tịnh độ.

 Ngày nay chư vị sẽ trở lại thế gian, điều mà chúng tôi muốn nhắn nhủ cùng
chư vị, là phải luôn nhớ bài kệ cảnh tỉnh của ngài Duy Ma: “Ngày nay đã
qua, mạng sống giảm dần, như cá cạn nước nào có chi vui, đại chúng hãy
cùng nhau tinh tấn tu tập hết mình, nhớ đến vô thường chớ nên phóng dật”.

Ngày mai đây chúng ta về lại tổ ấm gia đình, trở
lại công việc thế gian. Chư vị phải luôn nhớ rằng mạng sống chúng ta mỗi
ngày mỗi ngày trôi qua là tiến dần đến cái chết. Chúng ta phải luôn nghĩ
mình như con cá đang ở trong một hồ nước vào mùa nắng hạn, mỗi ngày trôi
qua là mỗi ngày nước cạn. Những con cá ở trong đó làm sao vui để mà sống
được, vì mạng sống của chúng như đèn treo trước gió, có gì là vui. Chúng
ta cũng như vậy, đã mang thân người tức phải chịu bốn quy luật, sinh, lão,
bệnh, tử không có một ai tránh khỏi định luật đó, sự chết sống chúng ta
nào ai biết được, mà chỉ biết rằng mình rồi cũng chết. Cổ đức có nói:
“Sinh hữu hạn, tử vô kỳ” là vậy.

Phật dạy chúng ta cảnh đời này là vô thường giả
tạm, thân này do ngũ uẩn hợp lại mà thành, đủ duyên là hợp lại, hết duyên
phải phân ly, không có gì là thật cả. Thân đã không thật, vạn vật trong vũ
trụ này cũng không có gì trường tồn bất diệt, mà tất cả đang thầm lặng
biến đổi không ngừng, đến một lúc nào đó rồi cũng bị diệt thôi. Cho nên
chư vị phải có chánh kiến thấy được thế gian là như vậy, để rồi làm sao?
Ðể rồi phải cố gắng mà nỗ lực tu hành, không nên phóng dật như người thế
gian. Chúng ta là đệ tử Phật, Phật nghĩa là giác ngộ, giác ngộ về cái gì?
Giác ngộ về vũ trụ nhân sinh là vô thường, vô ngã, thế gian này là khổ
đau, tất cả vạn vật không có trường tồn, mạng sống con người như điện
chớp, như sương sớm, như dây leo thành giếng, không thể trường tồn mãi.
Phải giác ngộ như vậy thì mới có được tâm buông xả để lo chuyên niệm Phật.
Người thế gian sở dĩ họ khổ đau cũng do chấp trước thân này là thật, tất
cả đều là thật, cho nên lo tham đắm tạo nghiệp, rồi mãi mãi trôi lăn trong
vòng sinh tử khổ đau, không ngày giải thoát. Chúng ta là người tu theo
Phật pháp, phải nương theo chánh pháp mà giác ngộ.

Mai đây chư vị về nhà rồi, cần phải luôn ghi nhớ
những điều đó. Nhớ không được tham đắm như người thế gian, hãy mau mau
công phu niệm Phật, phát tâm chí thành xưng niệm danh hiệu Phật. Bảy ngày
công phu ở đây tuy rất ngắn ngủi, song cũng có thể giúp được chư vị phần
nào trong việc phát khởi tín tâm mà niệm Phật. Thời gian trôi qua không
đợi chờ một ai cả, mỗi ngày trôi qua là mạng sống giảm dần, chúng ta càng
tiến dần đến cái chết, cho nên kính thỉnh chư vị hãy mau mau gấp rút tu
trì, vì thân người khó được, một khi mất thân rồi biết có tìm lại được
không. Chúng ta phải chí thành tin sâu, nguyện thiết mà niệm Phật, vì đời
mạt pháp này chỉ có niệm Phật mới giải quyết được sinh tử thôi. Chúc chư
vị niệm Phật thành tựu vãng sinh, chúng ta hãy cùng nhau hẹn gặp lại tại
thế giới Tây phương vậy.

Nam
mô A Di Ðà Phật!

 

— o0o —

 

Xem thêm: https://www.phaphay.com/phat-phap/

Nguồn: https://www.niemphat.vn/

Add Comment