Trụ Định hành trang tối thiểu của người tu

Trụ Định hành trang tối thiểu của người tu 1

GNO – Giáo lý của Đức Phật có nhiều pháp môn tu, tùy theo căn cơ và trình độ
hiểu biết của mỗi người khác nhau mà việc áp dụng có khác nhau và dẫn
đến kết quả cũng khác nhau. Thật vậy, tuy cùng xuất gia tu học, nhưng có
người đạt được kết quả tốt đẹp, có người không được.

Cho
nên làm sao việc tu hành của chúng ta được thăng hoa, để không uổng phí
cuộc đời tu. Đây là khóa hạ mà việc tu là chủ yếu; vì vậy, các thầy
phải kết hợp việc học để tu, không phải học để biết như ở trường Phật
học.

Khi thọ trì kinh Pháp Hoa, nhiều vị cao tăng,
thánh tăng có những sở đắc truyền lại để chúng ta nương theo đó tu hành.
Điển hình là ngài Từ Ân đại sư phân chia thành năm thứ kinh Pháp Hoa gọi là ngũ chủng Pháp Hoa theo thứ tự từ ngoài vào trong như sau:

Kinh Pháp Hoa của hàng phàm phu trì tụng.
Kinh Pháp Hoa của hàng nhị thừa xuất gia tu hành.
Kinh Pháp Hoa của hàng Bồ tát sơ tâm tu hành.
Kinh Pháp Hoa của các Bồ tát bản địa tu hành.
Kinh Pháp Hoa của Đức Như Lai.

thiendinh-1.gif

Ngài Trí Giả đại sư thì chia kinh Pháp Hoa thành
hai môn là Bổn môn Pháp Hoa và Tích môn Pháp Hoa. Tích môn Pháp Hoa dễ
hiểu hơn. Đức Phật xuất hiện trên cuộc đời và Ngài giảng dạy trong 49
năm, tất cả những gì Phật làm và nói gọi là Tích môn Pháp Hoa.

Nếu nhìn về Đức Phật, đầu tiên chúng ta quan sát tám
tướng thành đạo của Phật, hay những điều kiện để thành Phật phải có thì
tu mới thành Phật. Điều thứ nhất phải là Bồ tát nhứt sanh bổ xứ trụ đại
thiền định ở cung trời Đâu Suất cỡi voi trắng sáu ngà xuống trần gian.
Nhứt sanh bổ xứ Bồ tát nghĩa là một đời hiện tại là thành Phật. Chúng ta
không có điều kiện này thì không phải là nhứt sanh bổ xứ Bồ tát.

Vậy tu thế nào để thành Bồ tát? Kinh Hoa Nghiêm
vẽ ra lộ trình tu của Bồ tát, từ Bồ tát thập tín sang Bồ tát thập trụ,
đến Bồ tát thập hạnh, Bồ tát thập hồi hướng và Bồ tát Đẳng giác, Bồ tát
Diệu giác, nghĩa là phải trải qua 52 chặng đường thành tựu viên mãn Bồ
tát đạo và chỉ còn một đời cuối cùng là thành Phật; nhưng cũng phải chờ
đủ duyên mới giáng trần thành Phật, không phải muốn xuống trần gian liền
là được.

Điều kiện thứ hai là cha và mẹ của Bồ tát nói lên yếu
nghĩa về huyết thống, kinh nói rằng “Sanh ra dòng họ cùng dung sắc,
tướng tốt, trí huệ đều đầy đủ, các ma ngoại đạo không phá được, kham làm
phước điền cho ba cõi”. Chúng ta không hội đủ điều kiện này thì không
phát huy được quả vị Phật.

Cha mẹ phải như thế nào mới sanh được người con làm
Phật, hay nói cách khác, cha mẹ ví như cái khuôn đúc thành Phật. Cha là
Tịnh Phạn nổi tiếng bảy đời làm vua hiền đức, mẹ là hoàng hậu Ma Gia
cũng nổi tiếng đức hạnh. Đó là huyết thống của dòng họ, ngày nay gọi là
“gene” của dòng tộc bên nội và bên ngoại của Phật tốt đẹp như vậy mới
sanh được thái tử Sĩ Đạt Ta có 32 tướng hảo, có sức khỏe tuyệt vời và
thông minh tuyệt đỉnh.

Điện trong trời đất có sẵn, nhưng phải có nơi tương
ưng tiếp thu được dòng điện.Thần thức của đứa bé có thể ví như cường độ
dòng điện, mà bào thai ví như bóng đèn. Nếu bóng đèn có 10 watt, nhưng
cho cường độ dòng điện 1.000 watt vào là nổ bóng đèn liền. 1.000 watt ví
cho thần thức của Bồ tát nhứt sanh bổ xứ không thể tồn tại trong thân
xác quá tầm thường, quá yếu ớt như bóng đèn 10 watt. Vì vậy, Bồ tát phải
tìm chỗ thọ sanh, điều này không dễ ví như hoa Linh Thoại đúng thời
tiết mới nở.

Cha mẹ khỏe mạnh sẽ sanh đứa trẻ khỏe mạnh. Điều này
thể hiện rõ nét nơi cơ thể của thái tử Sĩ Đạt Ta. 16 tuổi, Ngài chỉ dùng
một tay nhấc được cây cung đồng thờ trong miếu và giương cung bắn nhẹ
nhàng, mũi tên trúng đích; trong khi phải cần đến 16 lực sĩ mới khiêng
nổi cây cung này. Và trên bước đường đi tìm chân lý, Ngài đã tu khổ
hạnh, nhịn đói đến mức da bụng dính với xương sống, nhưng vẫn không
chết. Nơi Đức Phật toát lên một sức khỏe kỳ diệu, một sức mạnh phi
thường. Có một cơ thể hoàn mỹ tuyệt đỉnh như vậy, Ngài mới tu khổ hạnh
được. Không tu khổ hạnh thì Phật quả khó thành.

thiendinh-2.gif

Nhiều thầy hiểu lầm rằng người tu không sống xa hoa,
nhưng cũng không khổ hạnh là đi theo Trung đạo. Tuy nhiên, thiết nghĩ
nếu cứ đi tà tà như vậy đến bao đời cũng không được gì. Thật vậy, nếu
Thiền sư không nếm cái giá lạnh buốt xương thì cũng không có hoa đào nở.
Tôi điểm lại cuộc đời hành đạo của các vị cao tăng, các vị Tổ sư, nhận
thấy rằng các ngài đều vượt được chướng ngại mà người thường không kham
nổi. Ví dụ như Tổ Hiếp tôn giả từ khi tu cho đến viên tịch, ngài không
bao giờ nằm. Ở Trung Quốc có Cao Phong thiền sư cũng vậy, trọn đời ngài
không nằm. Còn Thiên Thai đại sư tu hành trên núi, khát uống nước suối,
đói ăn rau rừng, ngài không ăn cơm cháo như chúng ta và ngài cũng không
bao giờ xuống thị thành.

Ở Nhật Bản, tôi gặp Thiền sư Kono, ngài dẫn tôi lên
đỉnh núi xem những ngôi mộ của các chú Sa di. Quý thầy nghĩ sao? Thiền
ít nói, chỉ cho mình thấy như vậy thôi. Tôi nhận ra rằng sức khỏe mình
tới đâu và có thể làm gì. Các Sa di này cố gắng tối đa vượt mức cơ thể
cho phép thì không sống được. Người có cơ thể đặc biệt mới thành Phật,
thành Tổ. Phàm phu nghĩ còn không được, huống chi là làm.

Điều kiện thứ ba để thành Phật là yếu tố bồ đề, nghĩa
là cơ thể này có khả năng tiếp nhận năng lực siêu hình. Chúng ta có khả
năng hiểu biết thì thầy mới truyền được. Mặc dù học cùng trường, nhưng
ra trường mỗi người đạt được kết quả khác nhau, vì khả năng tiếp thu
khác nhau; đó là yếu tố bồ đề. Yếu tố bồ đề cao nhất là Phật, kế là Bồ
tát nhứt sanh bổ xứ và Bồ tát thập địa, xuống đến Bồ tát sơ tâm… thể
hiện căn tánh từng người khác nhau. Căn tánh là phàm phu thì chỉ hướng
tâm được nhị thừa mà thôi. Ví dụ như khỉ làm được vài động tác giống
người, nhưng khỉ không là người.

Vì vậy, phàm phu ở thế giới phàm phu, vì suy nghĩ và
khả năng tiếp thu của họ chỉ như thế, không thể khác. Cho nên, chúng ta
chỉ gieo vào lòng họ niềm tin đạo để họ trồng căn lành với Phật pháp và
phải trải qua nhiều đời nữa, họ mới phát huy được việc thể nghiệm giáo
pháp. Tuy rằng ai cũng thành Phật được, nhưng với trí tuệ yếu kém và cơ
thể bạc nhược, tất nhiên cần phải trải qua nhiều đời để chuyển hóa thân
tâm, không thành Phật trong khoảng thời gian ngắn được. Kinh Pháp Hoa gọi là căn tánh hành nghiệp của mỗi người khác nhau, cho nên phải thích ứng với khả năng, họ mới tu được.

Đức Phật thông minh tuyệt vời, khi Ngài chưa tu mà
không có thầy nào có khả năng dạy Ngài, ngày nay gọi là thần đồng, không
học nhưng biết hơn thầy. Tuy yếu tố bồ đề của Phật hoàn mỹ như vậy,
nhưng Ngài cũng phải trải qua ít nhất năm năm tầm sư học đạo và sáu năm
khổ hạnh, cuối cùng mới nhập thiền định ở Bồ Đề Đạo Tràng; vì không khổ
hạnh thì không đắc đạo.

Ngày nay, các thầy tu có khổ luyện về cơ thể và trí
óc mới thấy rõ điều này. Như vậy, có yếu tố bồ đề rồi, còn đòi hỏi yếu
tố khổ luyện. Cùng học ở đây, nhưng có người không tiếp thu được thì cảm
thấy mệt mỏi, chán nản, mong hết giờ để ra ngoài chơi. Nhưng đối với
người học và có tiếp thu, có suy nghĩ thì tiến xa hơn, nên họ thành
công. Vì thầy dạy ít, nhưng phải hiểu nhiều, ra khỏi lớp rồi mà đầu vẫn
còn tiếp tục suy nghĩ những ý thầy dạy, bởi đó là đại tiền đề mà thầy
đưa ra và chúng ta phải triển khai mới có sở đắc. Tu rồi luyện, thầy chỉ
đưa công thức, nhưng mình không khổ luyện không thể thành công. Ví dụ
muốn làm giảng sư phải tập nói cho lưu loát và thể hiện được ý chính.
Như vậy, có khổ luyện mới phát hiện được điều Phật và chư Tổ dạy và phải
đồng hạnh đồng nguyện mới cảm, mới hiểu được.

Phật xuất gia làm Sa môn, đầu tiên Ngài cắt ái ly
gia, rời xa thế tục. Hòa thượng Thiện Hoa nói “Phước đức thay cho người
cô độc, không bị phiền não thế tục quấy rầy”. Tôi nghe và nhớ điều này
lắm. Đức Phật cũng vậy, Ngài xuất gia, một mình một bóng không bị phiền
não quấy rầy và cơ thể Ngài có sức chịu đựng đói khát nóng lạnh.

Đầu tiên, các thầy tu phải trải nghiệm điều này. Giai
đoạn một ở địa vị phàm phu thì đói vì nghiệp, hay đói con mắt, đói cái
tâm. Bụng chưa đói, nhưng thấy thức ăn, hoặc nghe mùi, chúng ta thèm ăn,
mới cảm thấy đói. Hòa thượng Thanh Kiểm kể rằng thời gian ngài học ở
Nhật là lúc kinh tế xuống thấp, vì nước họ vừa bị bại trận. Ngài nghe
tiếng gõ của người bán khoai lang nóng, vì chiều không ăn nên đói bụng
quá và nghe vậy càng thấy đói đến không chịu nổi. Ngài mới giải quyết
cơn đói bằng cách uống nước và tọa thiền thì quên đói.

Phàm phu đói quá thì không vào định được. Nhưng người
có căn lành vào định, quên đói. Nhập định, không nghĩ đến khoai lang sẽ
quên đói, nên ngài phát hiện cái đói này là nghiệp; vì trữ lượng trong
cơ thể còn, nên thiền sư nhịn ăn cả tháng cũng không chết. Từ đó, chúng
ta mới biết được nghiệp sai biệt của mỗi người.

Nếu chúng ta ăn uống bình thường thì tu mãi cũng là
phàm Tăng, cũng bị sự chi phối như tất cả mọi người. Chi phối lớn và căn
bản là đói, khát, nóng, lạnh. Bốn điều này dù có tu hay không vẫn bị nó
chi phối. Tuy nhiên, người tu phải từng bước vượt được là bắt đầu trụ
định, tức có cuộc sống nội tâm rồi thì dùng nội lực này để áp đặt, chi
phối bốn điều ấy. Đó là Sa môn khác với người thường, hay từ phàm tăng
tiến lên hiền vị, nghĩa là ta cũng là người phàm, nhưng đắc định thì sử
dụng định lực này để đối phó với nghiệp.

Vì vậy, việc đầu tiên của người tu là phải có định.
Không có tư lương này, không tiến tu được. Tư lương này là của quả Tu đà
hoàn giữ trong lòng thì mới thăng tiến trên đường đạo. Chưa chứng Dự
lưu, chắc chắn còn thăng trầm trong sinh tử. Trong mùa an cư, quý thầy
cần nỗ lực tối đa để thành tựu được quả vị này và dùng đó làm hành trang
cho các năm tháng hành đạo kế tiếp mới không bị đọa.

Người chứng quả Dự lưu là không bị phiền não quấy
rầy, không bị người và thiên nhiên chi phối. Nói cách khác, chúng ta làm
sao trụ định để không có bốn tướng xấu là buồn, giận, lo, sợ trên bước
đường hành đạo. Ai làm gì, mình cũng không giận. Có thầy nào đó phát
nguyện rằng dù bị người xử sự ra sao cũng không để tâm sân hận nổi dậy;
nhưng phát nguyện như vậy, coi chừng gặp thử thách. Ví dụ khi có chia
phần cúng dường, người ta quên mình thì cũng không giận; người ta xử sự
tệ, mình vẫn cười được. Chưa có sở đắc này, không nên ra ngoài hành đạo,
vì khi bị đụng chạm với đời thì nghiệp sanh khởi liền.

thiendinh-3.gif

Hòa thượng Thiện Hòa dạy tôi là Sa di nên thực tập
việc nào dễ nhất làm trước; đó là hành động, cử chỉ, vì mình kiểm soát
được, nên cố gắng hạn chế nó. Dù việc gì xảy ra, mình cũng không động
tay động chân, bằng cách ngồi thiền kiết già để khóa tay chân mình lại.
Giả sử bị giết cũng chịu, không đối phó bằng tay chân. Các Tỳ kheo nên
nhớ không bao giờ đánh nhau. Hai thầy đánh nhau, hoặc bị đánh mà đánh
trả thì cả hai cùng bị xử biệt chúng, tức đuổi đi; đó là nguyên tắc tu.
Thầy tu đầu tiên phải tập đức nhẫn trước. Làm sao từ đầu hạ đến ra hạ
không có thầy nào đánh nhau, bị đuổi.

Khóa tay chân trong lòng là nghĩ không bao giờ phản
ứng bằng tay chân, nhưng bước thứ hai xa hơn, Hòa thượng Thiện Hòa dạy
rằng hễ giận thì không nói; vì khi ghét giận có nói lời ngọt cũng bọc
tánh ác trong lòng. Để ý chúng ta thấy nếu anh A không ưa anh B, dù ca
ngợi, B cũng thấy giả dối.

Nếu ghét giận ai, chúng ta tuyệt đối không nói về
người đó, nói phải cũng không nói. Khi nào chúng ta thương họ được, hay
vui trong lòng, chúng ta nói thì dễ nghe, dù mắng, người ta cũng thấy đó
là cần thiết và chấp nhận được. Người trong lòng buồn, hoặc bực tức nói
gì cũng không nghe được. Các thầy tu nên tập không nói. Hòa thượng Huệ
Hưng xưa kia phát nguyện ba năm không nói. Mãn ba năm, Hòa thượng nói
hay niệm Phật cũng lơ lớ như trẻ con. Bậc thầy tổ, cao tăng đều có khổ
luyện như vậy mới gặt hái được thành quả.

Hành động ác và lời nói ác không có, tâm chúng ta dễ
thanh tịnh, sẽ chứng quả Dự lưu dễ dàng, không bị xã hội và thiên nhiên
chi phối. Vì sự thật cơ thể chúng ta không đòi hỏi nhiều như tham vọng,
nhưng vì nghiệp, vì tham vọng đòi hỏi; cho nên phải xóa nghiệp.

Đức Phật tu xóa nghiệp này khó hơn chúng ta; vì Ngài ở
giai cấp cao nhất mà phải sống với giai cấp thấp nhất, Ngài là người
trí thức tuyệt vời mà sống với người tầm thường, có một khoảng cách quá
lớn. Vì vậy, kinh nói rằng khi Phật mới thành đạo, Ngài muốn nhập Niết
bàn, vì những gì Ngài tu chứng không thể truyền dạy cho mọi người được.
Những gì không chấp nhận được mà Phật chấp nhận là Ngài bằng lòng ôm
bình bát đi khất thực, sống với năm anh em Kiều Trần Như. Đức Phật đã
làm việc khó làm như vậy đó. Còn chúng ta mới vừa lên một chút thì liền
không chấp nhận được ai. Điều này nguy hiểm, không phải Phật đạo. Phật ở
địa vị cao tột đỉnh, nhưng Ngài sống hòa hợp với tất cả mọi người. Ngài
có yếu tố Bồ đề hoàn mỹ như thế, nên ngồi Bồ Đề Đạo Tràng, xóa nghiệp
là Ngài thành Phật.

Trí Giả đại sư kiến giải rằng Phật có thân quyền và
thân thật. Thân nào là quyền và thân nào là thật? Phật từ thế giới vĩnh
hằng bất tử của Ngài nhập vào thai mẹ ở ta bà, gọi là Vị thật thi quyền.
Nghĩa là bên trong Ngài có ông Phật không sanh diệt là thân thật và ông
Phật này nhập vào thân Sĩ Đạt Ta hiện hữu trên cuộc đời, nên thân Sĩ
Đạt Ta là thân quyền.

Khai quyền hiển thật là Phật tuy mang thân người,
nhưng suy nghĩ và hành động của Ngài không giống người khác. Người đời
ham giàu sang sung sướng, trong khi Phật có đầy đủ như vậy, nhưng Ngài
đã từ bỏ, cốt để khai ra cái thật là tại sao có ngôi vua mà lại bỏ, đi
xuất gia, vì bên trong Ngài có ông Phật thôi thúc. Ngài phải lang thang
sống đời phạm hạnh, cực khổ, vì nhiều đời Ngài đã tu rồi, nên đời này
muốn tiếp tục làm như vậy. Ai có độ cảm về Phật sẽ dễ nhận ra điều này.

Riêng tôi lần đầu tiên về thăm nhà khi bà ngoại mất.
Tôi không bao giờ có ý nghĩ về nhà, vì sống với đại chúng cảm thấy thân
thương hơn. Từ cảm nhận này, tôi cảm về Phật dễ dàng. Cốt lõi của Phật
là Sa môn thì không thích ai hầu hạ, chăm sóc, thấy đó là sự ràng buộc
vô lý, cho nên Ngài đi lang thang tìm đạo thấy hạnh phúc hơn. Và điều
này để cho mọi người thấy được ông Phật bên trong của thái tử.

Cuối cùng Phế quyền tồn thật, vì thân này là giả tạm,
nên phải bỏ thân xác hữu hạn để trở về sống với ông Phật bất tử bên
trong, không còn bị thân tứ đại ràng buộc. “Tồn thật” là còn tồn tại mãi
mãi Đức Phật vĩnh hằng.

Người tu Bổn môn Pháp Hoa đi tìm cái gốc, tức xem Phật Niết bàn về
đâu và Ngài đang ở đâu, để chúng ta cũng trở về được thế giới vĩnh hằng
của Phật.

HT. Thích Trí Quảng (GNO)

Xem thêm: https://www.phaphay.com/phat-phap/

Nguồn: https://www.niemphat.vn/

Add Comment