Từ Pháp Môn Tịnh Độ Nói Đến Đại Thừa Và Tiểu Thừa

Từ Pháp Môn Tịnh Độ Nói Đến Đại Thừa Và Tiểu Thừa 1

Từ Pháp Môn Tịnh Độ Nói Đến

Đại Thừa Và Tiểu Thừa





Nguyên tác:


Trương Huệ Minh









Việt dịch:



Thíc
h
Tâm An


Phật pháp là pháp bình đẳng hoàn toàn
không có cao thấp, tu tập bất kỳ pháp môn Phật pháp
nào, cũng có công đức và cũng có thể thành Phật.
Phật pháp vốn không có phân biệt Tiểu thừa và Đại
thừa. Phật dạy vô lượng pháp môn, chẳng qua là tùy
bệnh mà cho thuốc. Vì chúng sinh nghiệp lực không
giống nhau, tâm lượng lại có lớn nhỏ. Phật phương
tiện dẫn đạo chúng sinh nên nói Tiểu thừa và Đại
thừa. Tất cả các pháp, vốn là không hai, không khác,
đồng về một thật tướng.

 

Trong các pháp môn, chỉ có pháp môn
Tịnh độ là đầy đủ phương tiện nhiếp độ tất cả các
căn chúng sinh, thượng, trung, hạ. Từ kẻ ngu dốt cho
đến người trí, trên các bậc Thánh nhân, dưới cho đến
phàm phu nếu người nào có tin sâu, nguyện thiết,
hành chuyên, phát nguyện vãng sinh, đều có thể thành
tựu. Vì pháp môn Tịnh độ, lấy bốn chữ “A Di Đà Phật”
làm cương yếu tu trì, phương pháp đơn giản, dễ thực
hành, lại thực tiễn, đầy lý nghĩa thâm sâu. Vì thế
từ xưa đến nay, các bậc Thánh nhân thường nói : “Một
câu A Di Đà Phật là vua các pháp”.

 

Pháp môn Tịnh độ đã thù thắng như vậy
rồi, tại sao Như Lai lại sáng lập thêm tám vạn bốn
nghìn pháp môn nữa làm gì ? Vì Như Lai thấy được căn
cơ chúng sinh phần lớn đều không giống nhau, nhân
duyên lại thiên sai vạn biệt. Nếu như không phương
tiện tạo nên nhiều pháp môn thì không thể nào độ hết
tất cả chúng sinh được. Chẳng qua các pháp môn khác
cũng từ pháp môn Tịnh độ mà lưu xuất, tu các pháp
môn khác chung quy cũng trở về pháp môn Tịnh độ.
Người tu pháp môn Tịnh độ nếu đạt đến tu trì cao,
thì không có pháp môn nào mà không đắc.

 

Phật nói Tịnh độ ở phương Tây, chúng
ta có tin hay không là một vấn đề, cũng không chấp
trước làm gì, chẳng qua đó cũng là một thí dụ, vì
mặt trời vốn mọc phương Đông và lặn ở phương Tây.
Phật lấy phương Tây làm thí dụ để cho chúng sinh quy
túc về đó, thật ra thế giới Tịnh độ không chỉ có
giới hạn ở phương Tây, mà bao trùm khắp cả hư không
pháp giới. Như vậy, các vị trí Đông Tây có cố định
hay không ? Chẳng qua chúng sinh căn cơ có lợi độn.
Đối với người có căn tính chậm chạp, tâm lượng nhỏ
hẹp, không thông hiểu tự tâm, chỉ tham cầu Phật ở
bên ngoài, Đức Phật phương tiện, tùy bệnh mà cho
thuốc, nên chỉ cho họ thế giới Tịnh độ ở phương Tây.
Đối với người có căn tính lanh lợi, tâm lượng rộng
lớn, Phật dạy thế giới Tịnh độ ở tự tâm, tâm tịnh
thì Phật độ tịnh, tâm nhiễm thế giới Tịnh độ cũng
trở thành ô trược. Do đó, có thể thấy được Tịnh độ
Tây phương cũng do tâm mà sở hiện. Nếu tự tâm chúng
ta không thanh tịnh thì thế giới Tịnh độ cách xa
mười cõi ức Phật, ngược lại tâm thanh tịnh, thì thế
giới Tịnh độ chỉ trong một niệm, một khảy móng tay.
Thế nhưng, luận về việc vãng sinh thì ngày nay đa số
người được vãng sinh là ông già bà cả, những người
có căn tính thấp kém, trong khi đó ít thấy người trí
thức hay học giả vãng sinh là phát xuất từ nguyên
nhân nào ? Vì các bậc học giả trí thức phần lớn bị
mắc vào sở tri chướng, họ chấp lý mà quên sự, cứ cho
Phật tại tâm, tâm thanh tịnh thì Phật độ tịnh, từ đó
bỏ quên sự, rồi không thực hành. Vì vậy, các bậc Tổ
sư sợ chúng ta bỏ lý mà quên sự, cho nên có nói :
“Lý tuy đốn ngộ, nhưng sự phải lần lượt tu hành” là
vậy. Người tu Tịnh độ phải có lý sự viên thông,
không được chấp lý mà quên sự.        

 

Như vậy tóm lại, thế giới Tịnh độ cứu
cánh là có thật hay không ? Xin thưa ! Như chúng ta
hiện nay đang ở thế giới Ta Bà, đều nhận thức thế
giới này là thế giới đầy ô trược là có thật, thì thế
giới Tịnh độ bằng bảy báu trang nghiêm cũng chính
xác là có thật. Điều đó đã được Phật nói trong các
kinh Tịnh độ như Quán Vô Lượng Thọ Kinh, Vô Lượng
Thọ Kinh và Kinh Di Đà, ngoài ra các kinh Đại thừa,
cũng như lịch đại Tổ sư cũng đều tán thán và khuyên
răn chúng sinh nên về thế giới đó mà tu hành. Chư Tổ,
nhất là chư Phật và chư đại Bồ Tát không lẽ lại nói
dối chúng ta, do đó đối với thế giới Tịnh độ chúng
ta phải nên tin sâu, không nên có nghi ngờ gì hết.
Người tu Tịnh độ có bốn phương pháp thực hành là :
1. Trì danh niệm Phật, 2. Quán tượng niệm Phật, 3.
Quán tưởng niệm Phật, 4. Thật tướng niệm Phật. Trong
bốn phương pháp đó thì trì danh niệm Phật là thịnh
hành hơn cả. Vì người tu trì danh niệm Phật, nếu đạt
được đến nhất tâm bất loạn thì nghìn người tu, nghìn
người được vãng sinh. Do đó, hành giả đang tu trì
danh niệm Phật nên có tin sâu, nguyện thiết, niệm
cho đến ngày lâm chung, nếu giữ cho tâm không có tạp
loạn mà chỉ có thuần một niệm niệm Phật thanh tịnh,
liền có cảm ứng Phật A Di Đà hiện ra tiếp dẫn vãng
sinh Tịnh độ. Điều đó là hoàn toàn có thật không có
chi mà nghi ngại. Bình thường có một hạng người, tuy
không có biết đạo niệm Phật, thế nhưng đến phút lâm
chung, gặp được thiện hữu tri thức khai thị, do túc
nghiệp thiện căn nhiều đời gieo hạt giống niệm Phật,
nên phát khởi tâm tha thiết niệm Phật cũng được vãng
sinh.

 

Người vãng sinh Tây phương còn gọi là
đới nghiệp vãng sinh. Vì sao ? Vì một khi chúng ta
khởi tâm động niệm đã là tạo nghiệp rồi. Song, người
vãng sinh Tây phương đến lúc lâm chung, các tư tưởng
thiện ác hiện đời cũng như quá khứ chưa khởi hiện
hành, mà chỉ có thuần một niệm thanh tịnh là niệm
Phật, mà một niệm thanh tịnh cũng gọi là nghiệp, vì
thế tu Tịnh độ còn được gọi tu tịnh nghiệp, hay
người vãng sinh Tây phương còn gọi là đới nghiệp
vãng sinh là vậy.

 

Người muốn đới nghiệp vãng sinh, cần
phải gia công tu hành. Nếu như bình thường miệng
niệm Phật, mà tâm nhớ nghĩ chuyện thế gian thì đến
lúc lâm chung nói đến việc vãng sinh thật khó. Vì
sao ? Vì đến lúc lâm chung, một mặt do tâm niệm Phật
hằng ngày không tha thiết, mặt khác bị bệnh khổ
nghiệp chướng hiện hành, thì biết dựa vào đâu mà
phát khởi tâm niệm Phật. Đó cũng chính phần giải đáp
cho câu hỏi, tại sao người niệm Phật lại nhiều mà
chỉ có số ít được vãng sinh.

 

Phương pháp quán tưởng và quán tượng
niệm Phật chỉ là phương tiện giúp hành giả thu nhiếp
vọng tâm, chứ không có cứu cánh. Vì sao ? Kinh Kim
Cang có nói : “Phàm những vật có hình tướng tất cả
đều hư vọng”, nghĩa là bất kỳ sự việc gì đã có hình
tướng hoàn toàn đều là hư vọng, do đó quán tưởng hay
quán tượng đều nằm trong phạm vi hư vọng. Vì vậy
không được gọi là cứu cánh. Chỉ có ngộ đến “vô sinh”
mới được coi là chứng được thật tướng; chứng được
thật tướng mới được xem là cứu cánh. Thật tướng là
đối với tướng hư vọng mà giả lập, thật tướng vốn là
vô tướng, đã là vô tướng thì có thể quán và tưởng
được không ?

 

Vì vậy, chỉ có thật tướng niệm Phật
là không có dính mắc vào tướng Phật, cũng như tướng
niệm, đạt đến chỗ niệm mà không niệm, không niệm mà
niệm, đó là niệm Phật tam muội. Khi niệm đạt đến
trình độ “năng” là người niệm Phật, “sở” là câu niệm
Phật không hai, thì thật tướng hiện tiền. Không cần
phải chờ đến phút lâm chung nhờ Phật tiếp dẫn nữa mà
hiện đời đã thân hành chứng Bồ đề vô tướng, đó mới
là cứu cánh tối thượng.

 

Căn cứ những điều đã nói, cho chúng
ta thấy được rằng, tuy cũng đồng là một pháp môn
Tịnh độ thế nhưng cũng có phân chia thành Đại thừa
và Tiểu thừa. Người niệm Phật mà chỉ cầu vãng sinh
là Tiểu thừa, thật tướng niệm Phật là Đại thừa.
Phương pháp niệm Phật thì pháp nào vốn cũng rất tốt,
chẳng qua một bên cầu vãng sinh Tây phương là thuộc
về hữu tướng, hữu tướng thì có chỗ trụ, mà còn chỗ
để trụ là đã có giới hạn, có giới hạn nên gọi là
Tiểu thừa. Còn thật tướng niệm Phật, niệm đến trình
độ toàn thể chân tâm hiển lộ, liền chứng được thật
tướng. Thật tướng thì không có hình tướng, không có
hình tướng thì không có giới hạn, cho nên gọi là Đại
thừa. Hơn nữa, người tu được đới nghiệp vãng sinh,
luôn luôn phải trở lại Ta Bà hành Bồ Tát đạo. Trong
khi đó người đạt được thật tướng niệm Phật, niệm
Phật là Phật, thân là thân Phật, hiện đời có thể độ
sinh, điều đó rất thù thắng.

Chỗ cứu cánh của việc học Phật là
chuyển hóa tâm thành thanh tịnh. Tất cả pháp môn đều
có thể làm cho tâm hành giả tu hành trở nên thanh
tịnh. Vì thế có nói “Pháp môn tuy vô lượng, nhưng
chỗ cứu cánh không hai” ý là vậy. Pháp môn Tịnh độ
thống nhiếp tất cả các pháp môn, tất cả các pháp môn
cũng thống nhiếp pháp môn Tịnh độ. Thí như, Thiền
tông trọng ở minh tâm, học giả Thiền tông thường nói,
tu hành Phật pháp nếu tự tâm không thông, thì không
thể thành tựu một pháp gì, vì ngoài tâm không có một
pháp nào có thể đắc. Đối với pháp môn Tịnh độ, tu
pháp trì danh, nếu có thể trì đến nhất tâm bất loạn,
thì cảnh giới nhất tâm đó không phải là thiền chứ là
cảnh giới gì ? Trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ, Phật có
nói : “Tâm làm Phật thì tâm là Phật”, đó chính là
thiền chứ cái gì ? Lại nữa, tu thật tướng niệm Phật,
nếu đạt đến tam muội hiền tiền liền nhập vào chánh
định. Nhập vào chánh định là cảnh giới thiền, ngoài
ra không có cảnh giới nào khác. Vì thế, trong Kinh
Đại Tập có nói : “Nếu người nào niệm Phật thì người
đó được gọi là tu thiền vô thượng thậm thâm vi diệu”.
Đã nói là niệm Phật rồi, tại sao lại còn nói tu
thiền ? Qua đó, cho chúng ta thấy được niệm Phật
chính là thiền vậy.

 

Tịnh độ và Mật tông cũng không có sai
biệt gì, bốn chữ “A Di Đà Phật” chính là tổng trì
tất cả các kinh điển, mà tổng trì cũng là ý nghĩa
của mật chú. Niệm Phật mà không tác ý và mong muốn
thành Phật, thì chính là mật chú. Bốn phương pháp
niệm Phật của Tịnh độ và sơ quán tưởng trì chú của
Mật tông hoàn toàn giống nhau. Chẳng qua tu Tịnh độ,
trong bốn phương pháp niệm Phật, chọn lấy một pháp
rồi chuyên tu, trong khi đó tu mật phải theo thứ lớp
mà tiệm nhập. Chỉ có điểm khác nhau như vậy.

 

Do đó có thể thấy được, Thiền chính
là Tịnh, Tịnh chính là Mật, một là tất cả, tất cả là
một. Tại sao lại có phân biệt đại tiểu ? Chỉ vì hàng
hậu học chúng ta, chỉ nghiên cứu một pháp, đối với
các pháp còn lại không thông, từ đó cho pháp mình là
lớn, là Đại thừa, có ai chấp trước cũng sẵn sàng
tranh biện. Do chấp trước sự tướng nên tư tưởng bị
sự tướng trói buộc. Thật ra chỗ cứu cánh của Phật
pháp không đại, tiểu, mà tất cả các pháp môn chung
cuộc đều quy về một thừa. Niệm Phật đạt đến tam muội
hiện tiền, tu Thiền đạt được minh tâm kiến tính, tu
Mật đạt đến tam mật nhất như, tất cả không ngoài mục
đích chuyển hóa tâm thức trở thành thanh tịnh, tâm
thanh tịnh thì thành Phật có gì là khác nhau.

 

Pháp môn tu học của Phật giáo tuy
nhiều, thế nhưng trì giới được xem là quan trọng
nhất. Giới cũng có nhiều loại khác nhau, nhưng cũng
không ngoài hai loại giới : Giới tâm và giới thân.
Thân là không vọng động, tâm là không vọng tưởng.
Không luận là Đại thừa hay Tiểu thừa, nếu có trì
giới thì được xem là Phật pháp, không có trì giới
thì không phải là tu theo Phật pháp. Đại thừa hay
Tiểu thừa phải xem trọng giới luật, có khác nhau ở
chỗ xem trọng giới này hay giới nọ. Tu Đại thừa,
thường thường vì hằng thuận theo chúng sinh, tùy
duyên làm lợi ích cho tha nhân, tự lợi lợi tha, cho
nên trọng ở giới tâm. Tu theo Tiểu thừa, vì phải giữ
gìn gia nghiệp Như Lai, trong bốn oai nghi, đi đứng
nằm ngồi, cần phải giữ gìn thanh tịnh trang nghiêm,
để cho người đời kính trọng Phật pháp, vì thế coi
trọng ở giới thân. Bất luận là Tiểu thừa hay Đại
thừa, ngũ giới vẫn là giới điều căn bản. Bất kỳ một
loại giới luật nào, chỉ cần chúng ta tha thiết trì
giữ, không những có công đức rất lớn mà còn tạo nên
niềm tin, dẫn người khác vào đạo. Bằng ngược lại, đã
thọ giới mà không giữ gìn, chẳng những mang tội mà
còn tạo cơ hội cho ngoại đạo phỉ báng Phật pháp,
đồng thời làm mất chánh kiến đối với những người sơ
học. Qua đó, cho chúng ta thấy được rằng, nếu có trì
giới thì Tiểu thừa cũng tốt, Đại thừa cũng tốt, mục
đích cứu cánh đều đưa đến thành Phật. Nếu không có
trì giữ giới luật, dù tu Tiểu thừa hay Đại thừa,
chẳng những không thành tựu được gì, mà lại còn bị
đọa lạc nữa là khác.

 

Giới Đại thừa không trụ ở tướng, giới
Tiểu thừa thì trụ ở tướng. Trụ tướng thì dễ thấy, dễ
phát hiện, không trụ tướng thì khó thấy khó biết,
người khác không thể nhìn thấy được, do đó phải giữ
gìn, so với giới tướng thì khó giữ hơn nhiều.

 

Đứng trên mặt giới tướng và giới tính,
tuy có phân biệt khó dễ như thế, thế nhưng công đức
trì giới cả hai hoàn toàn giống nhau, do đó chúng ta
phải tự mình giữ giới không nên nói lỗi của người.
Trong Kinh Duy Ma Cật có nói : “Tự mình nên giữ giới,
đừng nên chê trách lỗi người”, có như thế mới thích
hợp với tông chỉ của Phật pháp. Có rất nhiều người,
do không thông hiểu lý sự, tự mình đặt ra rồi phân
biệt môn này môn khác, hủy báng người này chê bai
người kia, thật là đáng tiếc vô cùng. Cụ thể lấy
giới đoạn dâm, giới này là giới trọng căn bản của
người học Phật. Theo Tiểu thừa là đoạn dâm, vì đó là
cội gốc liễu sinh thoát tử. Thế nhưng đối với Đại
thừa Bồ Tát, tâm không trụ tướng, tâm không lìa
tướng, Bồ Tát tại gia chỉ đoạn tà dâm, không đoạn
chánh dâm. Tại sao ? Vì Bồ Tát tùy căn cơ mà thị
hiện, hòa mình vào thế tục, để giáo dục chúng sinh,
nên nhất thời phải đồng sự, có hành dâm. Tuy nhiên,
họ hành động với tâm vô nhiễm, không có tâm tham ái
như chúng sinh. Bồ Tát thị hiện nhiều thuận cảnh,
nghịch cảnh khác nhau, phàm phu chúng sinh không thể
đo được. Trong Kinh Viên Giác, Bồ Tát Di Lặc hỏi
Phật : “Thưa Thế Tôn ! Những hàng Bồ Tát muốn vào
trần lao, phải dùng những phương tiện nào ?”. Phật
đáp : “Bồ Tát phải dùng tâm đại bi, thị hiện thuận
cảnh, nghịch cảnh, đồng sự làm phương tiện nhập thế”.
Bồ Tát Phổ Giác lại hỏi Phật : “Thưa Thế Tôn, chúng
sinh đời mạt pháp, nên cầu những người nào, nên y
theo pháp gì để không rơi vào tà kiến ?”. Phật đáp :
“Chúng sinh phải cầu tất cả người có chánh tri kiến,
tâm không trụ tướng, chẳng chấp vào cảnh Thanh Văn,
Duyên Giác, tuy hiện trong trần lao mà tâm hằng
thanh tịnh, dù có thị hiện những lỗi lầm mà vẫn tán
thán hạnh thanh tịnh…”. Phật còn nói : “Bồ Tát tuy
thị hiện các thứ tội lỗi, mà tâm không kiêu mạn,
huống nữa là tài sản vợ con quyến thuộc”. Qua đó cho
chúng ta thấy rằng, tu theo pháp Đại thừa là không
trụ tướng, tuy Bồ Tát thị hiện các hành động bất
chính tà vạy, thuận cảnh, nghịch cảnh, thế nhưng tâm
vẫn thanh tịnh vô sự, không đắm trước chấp thủ,
nhiễm ô như chúng sinh. Nếu người tâm không thanh
tịnh, mạo miệng xưng ta đây là Đại thừa, không trụ
tướng, rồi hành động các nghịch cảnh Bồ Tát, thì
người này không tránh được A Tỳ địa ngục, vì luật
nhân quả vốn không sai khác. Vì thế, đã là người học
Phật, chúng ta phải luôn luôn có chánh tri kiến,
phải luôn luôn nhận thức đâu là tà, đâu là chánh,
pháp nào phù hợp hay không phù hợp với mình, không
nên chê bai phỉ báng pháp môn này hay, pháp môn kia
dở. Có như thế mới không đắc tội với chư Phật, chư
Tổ, phù hợp với tông chỉ của người học Phật.

 

Phật pháp chú trọng ở chỗ giải ngộ.
Song, thực chứng vẫn là quan trọng hơn hết. Cho nên,
Lục Tổ có nói : “Thấy nghe tụng đọc là Tiểu thừa”;
vì tụng đọc, chỉ là học rộng nghe nhiều, chỉ tăng
thêm phần tri kiến, đối cảnh tâm vẫn khởi niệm, tâm
còn vọng động, cho nên gọi là Tiểu thừa. “Ngộ pháp
liễu nghĩa là trung thừa”; vì Phật pháp vốn có ý
nghĩa thậm thâm, cho nên hiểu được ý nghĩa đã có
công đức, thế nhưng tuy có hiểu, mà không tu hành
thì sự hiểu biết vẫn không đạt đến hiện thực, cho
nên gọi là trung thừa. “Y Phật pháp tu hành là Đại
thừa”; vì Phật pháp, Pháp pháp vốn bình đẳng, vốn
không có đại, tiểu. Tất cả các pháp môn đều lấy tu
hành làm căn bản. Nếu có thể y Phật pháp tu hành từ
đầu chí cuối, thì có thể thành tựu đạo quả, cho nên
gọi là Đại thừa. “Muôn pháp trọn thông, muôn pháp
đầy đủ, tất cả không nhiễm, ly các pháp tướng, một
cũng không có, gọi là tối thượng thừa”. Nếu có thể
ngộ được thật tướng vốn là vô tướng, thông đạt tất
cả các Pháp, không lìa các Pháp, ở trong các Pháp mà
không bị các Pháp làm ô nhiễm, chuyển đổi, không có
sở cầu, cũng không có sở đắc, lìa ngôn thuyết gọi là
tối thượng thừa. Qua bốn thừa mà Lục Tổ đã trình bày
ở trên thì hai thừa đầu, không có thực hành, không
có thân chứng, cho nên đối với cảnh giới hiện thực
và thực tiễn của Phật pháp không có kinh nghiệm. Vì
vậy, y Phật pháp tu hành là điều căn bản của người
học Phật, giả như có hiểu biết Phật pháp mà không
thực hành, hoặc tu hành mà không y theo Phật pháp,
thì có hiệu quả gì.

 

Đã là người học Phật, không luận là
theo tông phái nào, đều được gọi là đệ tử Phật. Thế
nhưng, có người tự mình đã không y theo Phật pháp tu
hành, lại còn phân biệt đại tiểu. Hiện tại chánh
pháp suy vi như thế, cũng là do hạng người này. Đã
là đệ tử Phật, chúng ta phải trừ khử hạng người này
ra khỏi Giáo hội, nhằm mục đích Phật pháp sương minh,
chúng ta phải luôn y theo Pháp và giới luật mà tu
hành, không luận là tâm giới hay thân giới, chỉ cần
chúng ta trì giữ là chánh đạo, không trì giữ không
phải là chánh đạo. Lục Tổ có nói : “Muốn được thấy
đạo chân chính, phải hành đạo chân chính”, hành động
chân chính là phải xuất phát từ tâm chân chính. Đối
với hay dở cũng không nên phân biệt, vì các pháp vốn
bình đẳng. Đối với người cũng không nên hủy báng,
với chính mình cũng không được ca ngợi. Ngay thời
Phật còn tại thế, Phật còn bị người hủy báng, huống
hồ gì là hàng phàm phu chúng ta. Hơn nữa, bị người
hủy báng chính là cơ hội cho chúng ta tiêu nghiệp,
không lợi cũng không có hại gì. Nên xem những lời
hủy báng đó như pháp vị cam lồ, đón nhận nó một cách
vui vẻ, không nên có tâm sân hận. Chúng ta tu pháp
môn tâm địa, lấy lợi tha, vô ngã làm tâm niệm, cần
gì phải chú ý đến việc khen chê của người khác.

 

Tóm lại, có thể thấy được rằng, người
được gọi là Đại thừa, người đó phải có tâm nguyện
lớn, trí tuệ lớn hạnh nguyện lớn, công đức lớn,
không chấp tướng. Bằng ngược lại, tâm lượng nhỏ hẹp,
hạnh nguyện nhỏ, trí tuệ nhỏ, lại hoan hỷ chấp trước
sự tướng. Tuy tu Đại thừa cũng trở thành Tiểu thừa.

Xem thêm: https://www.phaphay.com/phat-phap/

Nguồn: https://www.niemphat.vn/

Rate this post

Add Comment