Ý nghĩa của Công Ðức và Phúc Ðức

Ý nghĩa của Công Ðức và Phúc Ðức 1

Nguồn: http://phatgiaovnn.com (Phật Giáo Việt Nam Net)


Ngày xưa, khi Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma từ Ấn Ðộ sang Trung Hoa hoằng pháp,
Ngài đến gặp Vua Lương Võ Ðế. Trong lúc luận bàn đạo lý, nhà vua hỏi:
“Trẫm một đời cất chùa, độ tăng, bố thí, cúng dường, đúc chuông, tạo
tượng, ấn tống kinh sách, như vậy có được công đức gì chăng?”.

Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma trả lời một cách rõ ràng rằng: “Những việc làm ấy thực không có công đức gì cả!”.

Vấn đề này làm cho nhiều người thắc mắc, không biết tại làm sao như
vậy lại không có công đức gì cả? Bởi vì, theo lịch sử ghi chép lại thì
Vua Lương Võ Ðế xây cất hằng trăm ngôi chùa, độ tăng chúng tu hành rất
đông, thiết trai bố thí, cúng dường, đúc chuông, tạo tượng, ấn tống kinh
sách nhiều vô số kể.

Nhà vua suy nghĩ làm như vậy tức nhiên được rất nhiều công đức,
nhưng không ngờ khi đem vấn đề này ra hỏi, Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma trả lời:
Không! Tại sao vậy? Có người không hiểu giáo lý nên giải thích là: Vua
Lương Võ Ðế không đích thân ra “công” thực hiện những việc làm đó, chỉ
sai người khác làm, nên không có “công đức” gì cả!

* * *

Thời gian sau đó, có người đem sự việc này thưa hỏi Lục Tổ Huệ Năng
và được Lục Tổ dạy như sau: Quả thực là không có công đức gì cả. Vua
Lương Võ Ðế vì không biết Chính Pháp, nên lầm lẫn hai chữ “Công Ðức” và
“Phúc Ðức”!

Nghĩa là cất hàng trăm ngôi chùa, độ tăng chúng tu hành rất đông,
thiết trai cúng dường, bố thí, đúc chuông, tạo tượng, ấn tống kinh sách,
chỉ là những việc làm “bên ngoài”, có ích lợi cho mọi người, những việc
làm cầu phúc, nên gọi là phúc đức.

Phúc đức có công năng giúp chúng ta giảm thiểu nghiệp chướng, tiêu
trừ quả báo, để được tai qua nạn khỏi, để được may mắn và sung sướng
trên đường đời, để bớt chướng ngại trên đường đạo, chứ không giúp chúng
ta thoát ly khỏi vòng trầm luân sinh tử.

Phúc đức có tính cách “hữu lậu” hay “hữu vi”, nghĩa là con người
hưởng phúc vẫn còn trong lục đạo luân hồi. Khi thụ hưởng hết phúc rồi
thì bị đọa lạc để đền trả quả báo.

Còn công đức là công phu tu tập “bên trong”, có ích lợi cho chính
mình, nhờ hành trì theo lời Phật dạy trong các kinh điển, luôn luôn niệm
Phật, giữ gìn giới luật, tu tập thiền định, phát huy trí tuệ bát nhã.

Nghĩa là chúng ta tu tập tam vô lậu học “Giới Ðịnh Tuệ” và tam tuệ
học “Văn Tư Tu”, nhằm mục đích cứu kính là: thoát ly khỏi lục đạo sinh
tử luân hồi.

Công đức có năng lực giúp chúng ta vượt qua bể khổ sông mê, chóng
đến bờ giác ngộ và giải thoát. Công đức có tính cách “vô lậu” hay “vô
vi”, nghĩa là không còn trong lục đạo sinh tử luân hồi nữa. Công đức
giúp con người chuyển hóa tâm tính từ phàm phu tục tử trở thành bồ tát,
thành Phật.

Chúng ta làm những việc như lập chùa hay góp phần xây cất chùa, tham
gia phát triển chùa, phát huy các sinh hoạt, các hoạt động của chùa,
của giáo hội, giúp cho mọi người khác có được cơ sở để tu học, để hành
đạo, giúp cho Phật giáo có cơ hội phát triển mạnh mẽ hơn, rộng rãi hơn,
vững chắc hơn, độ được nhiều người hữu duyên hơn nữa.

Những việc làm này đem lại lợi ích cho nhiều người như vậy, tất nhiên sẽ đem lại cho chúng ta thực nhiều phúc đức.

Còn riêng bản thân mình thì không biết tu tâm dưỡng tính, không học
kinh điển, không biết trì giới, không tu tập thiền định, không phát huy
trí tuệ bát nhã, cho nên tất cả việc làm trên đây chỉ là những việc làm
bên ngoài, có ích lợi cho nhiều người, nhưng không ích lợi cho bản thân
mình về phương diện giác ngộ và giải thoát. Tại sao vậy?

Bởi vì, tâm tham lam, sân hận, si mê bên trong chẳng những không
giảm bớt mà lại có chiều hướng tăng thêm, vô minh phiền não không tan
biến chút nào mà lại có phần dầy đặc hơn.

Vì chấp chặt mình đã làm được bao nhiêu việc ích lợi như vậy, dễ có
mấy ai làm được như mình, nên tâm cống cao ngã mạn, phách lối ngày một
tăng thêm, mục hạ vô nhân, khen mình khinh người.

Những việc làm khác như góp phần ấn tống kinh sách cho người khác
đọc, còn mình thì không đọc, góp phần bố thí cúng dường, giúp đỡ người
hoạn nạn, nghèo khó, nhưng không hiểu ý nghĩa cao cả của những việc làm
đó, lại sinh tâm cầu mong được “trả công bội hậu” ở cõi thiên đàng sau
này. Tất cả những việc làm đó chỉ tạo nên phúc đức mà thôi.

Thí dụ như có người bố thí cho nhà nghèo, hoặc cúng chùa một số tiền
nào đó, với tâm mong cầu được trúng số độc đắc, được buôn may bán đắt,
được nhất bản vạn lợi, được thi đâu đậu đó, được gia đạo bình an, được
tình duyên may mắn, được vạn sự bình yên, được muôn sự như ý, muốn gì
được nấy.

Như vậy, lòng tham lam tăng thêm quá mức thì “làm sao có công đức
được!”. Làm như vậy, chỉ có phúc đức hạn chế theo số tiền đã bỏ ra mà
thôi. Gieo nhân nhỏ thì chỉ nhận được quả nhỏ, không thể khác được.

Nếu như bố thí, cúng dường mà tâm không mong cầu gì cả, thi ân bất
cầu báo đáp, cúng chùa để chùa có thêm phương tiện sinh hoạt ích lợi cho
mọi người, giúp người để cho người qua cơn khó khăn, túng thiếu, không
đắn đo, không suy nghĩ, không tính toán gì thêm nữa, chúng ta sẽ bớt đi
tâm tham lam, bỏn sẻn, tăng trưởng tứ vô lượng tâm: từ, bi, hỷ, xả.

Như vậy, những việc làm đó vừa ích lợi cho người, vừa ích lợi cho mình. Nghĩa là vừa được phúc đức vừa được công đức.

Chúng ta hãy tinh tấn làm tất cả những việc thiện, rồi quên hết đi,
không chấp chặt vào đó, để kể lể công lao, hay mong cầu phúc báo về sau,
tâm cầu danh của chúng ta sẽ bớt đi, tâm chấp ngã cũng nhẹ hơn trước,
thì những việc làm đó vừa ích lợi cho người và cho mình, tạo nên phúc
đức và công đức vậy.

Trong Kinh Ðại Bát Niết Bàn, Ðức Phật có dạy: “Chư ác mạc tác. Chúng
thiện phụng hành. Tự tịnh kỳ ý. Thị chư Phật giáo”. Nghĩa là chúng ta
không làm tất cả các việc bất thiện, không làm những việc ác, tránh
những việc tổn người hại vật, cố gắng làm tất cả những việc thiện, những
việc ích lợi cho người khác, nhưng đừng ghi nhớ, đừng chấp chặt vào
những việc ích lợi đã làm, thì tâm ý của chúng ta sẽ được thanh tịnh.

Ðó là tu tâm dưỡng tính, đó là điều cốt yếu chư Phật mười phương ba đời muốn dạy như vậy.

Thí dụ chúng ta đã làm những việc ích lợi cho bất cứ ai mà chấp chặt
vào đó thì tâm của chúng ta sẽ bực dọc, bất an khi không được ai khen
tặng hoặc không được ai đáp ứng như ý.

Nếu như quên đi những việc thiện đã làm, giúp đỡ người với tâm “thi
ân bất cầu báo đáp”, thì chúng ta sẽ yên ổn, bình an, tâm của chúng ta
sẽ không loạn động, không bực bội khi gặp phải người vô ơn.

Trong Kinh Pháp Bảo Ðàn, Lục Tổ Huệ Năng dạy rằng: “Trong tâm khiêm
tốn là công. Ngoài hành lễ phép là đức”. Hay: “Nội cần khắc niệm chi
công. Ngoại hoằng bất tranh chi đức”.

Nghĩa là “bên trong” chúng ta phải chuyên cần vận nội lực loại trừ
những tâm niệm kiêu ngạo, tật đố, ngã mạn, ganh tị, đố kỵ, khen mình
khinh người, để đạt được tâm niệm khiêm tốn, hạ mình, nhún nhường, tùy
hỷ công đức.

Ðồng thời, chúng ta cũng phải vận nội công để khắc phục các tạp niệm, để tâm không còn có các vọng tưởng.

Mỗi khi tạp niệm, vọng tưởng khởi lên, chúng ta liền giác ngộ, liền
nhận biết và dừng ngay, không tiếp tục theo dòng tâm thức, đi lang thang
từ đông sang tây, từ quá khứ đến hiện tại và vị lai, từ chuyện này đến
chuyện khác. Như vậy chúng ta có được “công”.

Ðiều quan trọng cần biết là: chúng ta đừng sợ có vọng tưởng, tạp
niệm khởi lên trong tâm thức. Ai ai cũng có vọng tưởng và tạp niệm.

Chỉ sợ chúng ta không giác ngộ, không nhận biết kịp thời, nên bị
vọng tưởng, tạp niệm lôi cuốn, đi lang thang làm khách phong trần, quên
mất cố hương, từ bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp.

Khi dong ruổi theo các vọng tưởng, tạp niệm như vậy, tâm của chúng
ta sẽ loạn động với thất tình lục dục, tức là quên mất “bản tâm thanh
tịnh” sẵn có của chúng ta.

Còn “bên ngoài” chúng ta thực hành lễ phép, cung kính, tôn trọng tất
cả mọi người, bởi vì mọi người ai ai cũng có “Chân Tâm Phật Tính” như
nhau, mọi người ai ai cũng có ưu điểm để chúng ta học hỏi, noi theo,
không phân biệt, không thành kiến, không kỳ thị, không tranh cãi, không
hơn thua, không thị phi, không ỷ mình là kẻ trên người trước, kẻ có
nhiều công lao, kẻ có nhiều tài năng, kẻ làm được nhiều việc không ai
bằng.

Như vậy chúng ta được nhiều người thương mến, gần gũi. Như vậy chúng ta có được “đức”.

Thêm nữa, người Phật Tử muốn có công đức thì bên trong không có tâm
chấp ngã, tâm chấp pháp, nói chung là tâm cố chấp; bên ngoài hành động
luôn luôn ngay thẳng, bình đẳng, công minh, chính trực.

Hãy phát tâm tìm học kinh điển, biết đúng Chính Pháp mà hành theo,
tránh chuyện tu mù, tu mò, để khỏi lạc sang tà giáo, ngoại đạo. Công đức
là ở “Pháp Thân”, phát sinh trí tuệ bát nhã, không do tu phúc, không do
làm những việc phúc thiện mà được.

Chúng ta ngày nay cũng hay lầm lẫn cho rằng lập chùa, giúp chư tăng
tu học, bố thí, cúng dường, làm Phật sự, đi chùa lạy Phật là được nhiều
công đức và tự hào rằng mình làm vô lượng vô biên công đức, cần phải
được tán thán, rồi chờ đến ngày được vãng sinh về cõi tây phương cực lạc
quốc của Ðức Phật A Di Ðà!

Trong Kinh A Di Ðà, Ðức Phật dạy rất rõ ràng cõi Tây phương cực lạc
là nơi chỉ có các bậc bồ tát “nhứt sinh bổ xứ”, tức là các bực “thượng
thiện nhơn” sắp thành Phật, những người hiền thiện bậc thượng, gặp gỡ
nhau mà thôi.

Những người còn đầy dẫy tham sân si, đầy dẫy nghiệp chướng, đầy dẫy
phiền não thì nhứt định không thể nào đạt được cảnh giới đó. Không thể
chỉ lấy có một chút ít thiện căn phúc đức làm nhân duyên, để cầu nguyện
về cõi cực lạc đó được.

Ví như người đeo nặng qua sông thì phải chìm, không thể nổi được.
Chứ không phải Ðức Phật A Di Ðà không có lòng từ bi cứu độ chúng ta.

Chư Phật có tâm đại từ đại bi muốn cứu độ chúng ta, nên chỉ dạy các
pháp môn tu học, các phương pháp, để chúng ta noi theo đó mà tự mình tu
tập, để tự được cảnh giới an lạc và hạnh phúc hiện đời và vãng sinh mai
sau.

Có người quan niệm “đới nghiệp vãng sinh”, nghĩa là con người vẫn
còn mang nghiệp chướng, nhưng nhờ biết niệm Phật A Di Ðà, nên được Ngài
thương xót cho vãng sinh về cõi tây phương cực lạc, rồi tu tiếp sướng
hơn.

Ðiều này có vẻ “phe đảng” cũng như quan niệm cứ chấp nhận rước
thượng đế vào lòng thì sẽ được thượng đế cho về thiên đàng, hưởng phúc
đời đời, không cần biết đó là người như thế nào!

Thực ra, đạo Phật không có dạy như vậy. Nếu thực sự muốn tu cho
thành người tốt, thì chúng ta hãy tu ngay ở cõi đời này, đừng hẹn. Còn
mang nghiệp chướng nặng nề, tham giận kiêu căng, si mê lầm lạc, nếu về
tây phương, chỉ làm nơi đó ô uế mà thôi.

Dù có được về bên đó chăng nữa, không thấy thích hợp, cũng sẽ đòi về trở lại mà thôi!

Sống với những người thế tục, chúng ta mới cần phải tu, mới có cơ
hội để tu. Chứ về bên đó gặp toàn người tốt thì đâu cần phải tu nữa.

Cũng như người còn nhiều phiền não quá, nhiều nghiệp chướng quá, dù
có được đưa vào chùa ở, mà không quyết tâm trì chí, cũng khó mà tu được,
có ngày cũng xuất, nếu không xuất thì sẽ gây biết bao nhiêu việc đáng
tiếc cho cảnh thiền môn!

Trong Kinh A Di Ðà, Ðức Phật cũng dạy nếu có thiện nam, thiện nữ nào
nghe được danh hiệu Phật A Di Ðà, luôn luôn trì giữ danh hiệu đó trong
tâm trí, lúc nào cũng niệm Phật, nhớ nghĩ tới Phật, trong một ngày, hai
ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày, cho đến bảy ngày, đạt được
tâm yên không loạn.

Khi thọ mệnh hết, người như vậy giữ gìn được tâm không điên đảo, tức
thời được vãng sinh cõi nước tây phương cực lạc của Ðức Phật A Di Ðà.
Tại sao vậy?

Bởi vì khi tâm của người đó luôn luôn niệm Phật, không còn lăng
xăng, lộn xộn, không còn loạn động vì các việc đối đãi thị phi, hơn
thua, tốt xấu, cho nên cảm ứng được cảnh giới tịnh độ của Ðức Phật A Di
Ðà vậy.

Nói cách khác, tâm của người đó thấy mọi sự đúng như thực, thấy mọi
việc không còn điên đảo, gọi là “tâm bất điên đảo”, cho nên người đó
thấy được “Tự Tính Di Ðà, Duy Tâm Tịnh Ðộ”.

Nghĩa là nhờ tâm được thanh tịnh, bất loạn động, bất điên đảo, cho
nên người đó thấy được “Phật Tính”, tức là “Pháp Vô Sinh”, không còn
sinh tử luân hồi, tức đắc vãng sinh tây phương cực lạc.

Nếu còn nghiệp chướng nặng nề, tham giận kiêu căng, si mê lầm lạc,
nghĩa là tâm còn điên đảo, tâm còn loạn động, làm sao vãng sinh được mà
mong cầu!

Cõi tây phương cực lạc hay cõi thiên đàng là cảnh giới “bất tùy phân
biệt”, bình đẳng tuyệt đối, chí công vô tư, làm gì còn chia giai cấp có
chín phẩm, ba hạng, thượng trung hạ, như con người tưởng tượng cho thêm
lộn xộn và phức tạp! Không thể lấy tâm lượng phàm phu xét cảnh giới bồ
tát!

Như vậy, cốt tủy của đạo Phật, không phải là van xin cầu nguyện,
cúng kiến lễ lạy cho nhiều, mà chính là lúc nào cũng nhớ nghĩ tới hạnh
nguyện của chư Phật, nói lời như Phật dạy, hành động như Phật dạy, luôn
luôn giữ gìn tâm ý thanh tịnh, bình an, yên tĩnh, không loạn động, không
điên đảo.

Ðược như vậy, tam nghiệp hằng thanh tịnh, chúng ta vừa có phúc đức
vừa có công đức đầy đủ, phúc tuệ trang nghiêm, tùy tâm mãn nguyện. Kinh
sách có câu: “Phúc Tuệ Lưỡng Toàn Phương Tác Phật”. Cứu kính của đạo
Phật chính là nghĩa đó vậy.

Trên thế gian này, chung quanh chúng ta có đủ hạng người, có đủ loại
người. Có người tạo thuận cảnh dễ dãi, giúp đỡ chúng ta tu tập, cũng có
người tạo nghịch cảnh, gây phiền hà, khó khăn, khổ đau, để thử thách
công phu tu tập của chúng ta. Tất cả mọi người đều là thiện hữu tri thức
của chúng ta cả.

Nếu ai ai cũng hiền thiện hết, không ai làm phiền mình hết, làm sao
biết chúng ta nhẫn nhịn được tới đâu? Ví như người học sinh đi học, được
thầy dạy cho kiến thức, được bạn bè giúp đỡ, rồi cũng cần có vị giám
khảo để kiểm tra trình độ, hạch hỏi, thử thách, nếu vượt qua được, mới
cấp văn bằng chứ.

 

Tóm lại, vì không biết rõ đâu là Chính Pháp, cho nên chúng ta không
thể thực hành lời Phật dạy, một cách tường tận, một cách đúng đắn, để
thoát ly sinh tử luân hồi, thoát ly phiền não và khổ đau.

Trong Kinh Pháp Cú, Ðức Phật có dạy: “Hãy tự thắp đuốc lên mà đi.
Thắp lên với Chính Pháp”. Nghĩa là mọi người phải tìm hiểu, học hỏi
Chính Pháp, đem ngọn đuốc trí tuệ của mình mồi với ngọn đuốc trí tuệ
Phật, bằng cách nghe giảng giáo lý, nghiên tầm kinh điển, rồi tự suy
nghĩ, ứng dụng trong cuộc sống hằng ngày, giữ gìn giới luật, tu tập
thiền định, phát triển trí tuệ bát nhã.

Nhờ giữ gìn giới luật nên tâm trí được thanh tịnh và trí tuệ bát nhã
khai mở. Ðó chính là tam vô lậu học “Giới Ðịnh Tuệ” và tam tuệ học “Văn
Tư Tu”, có khả năng đưa chúng ta đến chỗ giác ngộ và giải thoát.

Kinh sách có câu: “Phúc Tuệ Lưỡng Toàn Phương Tác Phật”. Nghĩa là
chúng ta hãy phát tâm bồ đề dũng mãnh, làm tất cả những việc tạo phúc
đức trong các dịp lễ thượng nguyên, trung nguyên, hạ nguyên, và tất cả
dịp nào tùy duyên, tùy khả năng, tùy hoàn cảnh trong suốt năm, suốt đời.

Ðồng thời chúng ta cũng làm tất cả những việc tạo công đức như Văn
Tư Tu, Giới Ðịnh Tuệ, để phát triển trí tuệ bát nhã. Ðầy đủ “Phúc và
Tuệ” chúng ta sẽ sống trong an lạc và hạnh phúc hiện đời và về cõi Phật
sau này, không nghi. Cũng như con chim có đủ hai cánh sẽ bay thăng bằng
và bay được xa.

Có câu: “Ai ăn nấy no. Ai tu nấy chứng”. Ðó là lẽ công bằng tuyệt
đối. Cũng vậy, thực rõ ràng “Mình làm mình hưởng. Mình làm mình chịu”.

Vì thế cho nên, ngay từ bây giờ, chúng ta hãy phát tâm, tự thắp sáng
ngọn đuốc trí tuệ của mình, thường xuyên về chùa lạy Phật, nghe thuyết
pháp, tham dự các khóa tu học bát quan trai giới, để được học Phật Pháp
một cách tường tận.

Trong bầu không khí tu học đầy đạo vị, không phân biệt người mới
phát tâm, hay người đã tham gia tu học từ lâu, chúng ta cùng hướng dẫn
nhau, nương tựa nhau, giúp đỡ nhau, trên bước đường tu giác ngộ và giải
thoát.

Ðược như vậy, chúng ta có “Công Ðức và Phúc Ðức”, một cách viên mãn, một cách song toàn.

Tỳ Khưu Thích Chân Tu

Xem thêm: https://www.phaphay.com/phat-phap/

Nguồn: https://www.niemphat.vn/

Add Comment