Yếu chỉ Tâm Kinh Bát Nhã

Yếu chỉ Tâm Kinh Bát Nhã 1

Yếu chỉ Tâm Kinh Bát Nhã 2I. DẪN NHẬP

Tâm kinh Bát-nhã là một
bản kinh trọng yếu trong nhà Thiền, bản kinh này nói về “tánh không”
của các pháp. Người tu Phật phải mở được cánh cửa trí tuệ, thấu đạt lý
Bát-nhã để đi vào Không môn. Do đó chúng tôi xin trao đổi một chút về ý
nghĩa: “Yếu chỉ Tâm kinh Bát-nhã”. Tất cả Phật tử chúng ta đều thuộc
lòng bài Tâm kinh Bát-nhã, nhưng thuộc lòng danh tự Bát-nhã vẫn chưa
đủ mà phải thuộc lòng Bát-nhã.

Thuộc lòng Bát-nhã là
sao? Chúng ta ra đường gặp ai nói xúc phạm một chút, nghe hơi buồn
buồn thì ngay khi đó chúng ta phải nhớ Tánh không. Những tiếng nói
không thật, chúng ta cũng không thật, buồn cũng không thật chúng ta
liền buông xuống thì mới là thuộc lòng Bát-nhã. Ngược lại, chúng ta để
phiền não nổi lên, chỉ nhai đi nhai lại câu nói của người; tâm vẫn
chạy theo vọng tưởng là chưa thuộc lòng Bát-nhã. Thuộc lòng Bát-nhã
tức là lúc nào cũng thấy muôn pháp là không, nên không dính không mắc.

II. TINH THẦN BÁT-NHÃ LÀ PHÁ CHẤP, PHỦ ĐỊNH

Theo Bát-nhã, phủ định
tất cả đều là không. Bồ-tát Quán Tự Tại khi quán chiếu sâu về Bát-nhã
thấy năm uẩn đều là không. Năm uẩn là: sắc, thọ, tưởng, hành, thức đều
không. Sáu trần là: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp cũng không; Sáu
căn: nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý cũng không; sáu thức: nhãn thức,
nhĩ thức v.v… cũng không. Mười tám giới đều không, rồi không sanh,
không diệt, không cấu, không tịnh v.v… không cả Tứ Đế, Mười hai nhân
duyên, không chứng cũng không đắc. Vì vậy người học Bát-nhã là phá
sạch, không cho tâm bám víu bất kỳ chỗ nào để không còn duyên mà sanh
khởi.

Vì có chỗ tâm sanh là có
chỗ tâm diệt, có sanh tử có khổ đau. Cho nên trước tiên là Phật phá
chấp, không cho con người chấp vào cái gì hết, từ pháp thế gian cho đến
pháp xuất thế gian.

Pháp thế gian Phật dạy
chúng ta phải bỏ nhưng pháp xuất thế gian cũng không cho chúng ta bám,
vì còn bám chấp là còn có ngại. Tu mà còn dính mắc bất cứ cái gì đều
thành chướng ngại, cho dù đó là pháp xuất thế gian. Vì pháp xuất thế
gian cũng là phương tiện, giống như vị lương y cho thuốc để trị bệnh
cho người. Chúng ta uống thuốc hết bệnh thì phải bỏ thuốc, không ai
hết bệnh mà lại uống thuốc hoài, nếu còn uống thuốc là chưa hết bệnh.

Pháp thế gian hay pháp
xuất thế gian cũng đều là pháp, có lập ra thì có phá. Giống như chiếc
xe là phương tiện chuyên chở con người đi từ chỗ này đến chỗ kia, như
từ đây mà đến Đà Lạt, chiếc xe là phương tiện chở chúng ta đến Đà Lạt,
nhưng chiếc xe không phải là Đà Lạt. Chúng ta ngồi trên chiếc xe để
đến Đà Lạt, nhưng đến Đà Lạt rồi mà chúng ta cứ ngồi trên chiếc xe
hoài thì cũng không đi được đâu hết, không biết gì về Đà Lạt. Cho nên
tới Đà Lạt rồi chúng ta phải xuống xe, chiếc xe không phải mục đích,
Đà Lạt mới là mục đích. Vì vậy Phật nói pháp nhưng rồi phá tất cả để
con người không bám chấp vào pháp. Do tâm con người là quen nắm bắt,
nên luôn có đối tượng để duyên theo. Như chúng ta ngồi chơi không có
việc gì hết nhưng lại không chịu rảnh rang, ngồi một mình thấy buồn cô
đơn bèn mở ti-vi xem hoặc kiếm sách báo đọc. Có người vào nhà vệ sinh
còn đem theo tờ báo để đọc, tâm chúng ta không bao giờ chịu buông mà
ngược lại luôn nắm bắt tìm chỗ để duyên. Nếu con người luôn sống với
tâm rảnh rang, thoải mái, tự do thì có sướng hơn không? Nhưng con
người lại thấy như vậy là trống vắng, cô đơn chịu không nỗi nên phải
tìm chỗ duyên chỗ bám.

Do đó, tâm con người
luôn đi đôi với pháp (có tâm thì có pháp), để tâm duyên với pháp, pháp
là đối tượng để cho tâm duyên. Tâm duyên theo pháp gọi là tâm sinh
diệt. Thí dụ: Như con mắt duyên với sắc, lỗ tai duyên với âm thanh, ý
duyên với pháp trần v.v.. Các căn luôn có đối tượng để duyên theo hiểu
biết, ngược lại nếu không có chỗ duyên thì giống như là tâm không còn
biết. Khi ngồi thiền, nếu bảo chúng ta đừng nghĩ gì hết thì rất khó,
vì chúng ta luôn có đối tượng để duyên.

Trong kinh Lăng-nghiêm, Đức Phật dạy: “
hai thứ căn bản phiền não: Thứ nhất là căn bản sinh tử từ vô thỉ là
nhận tâm phan duyên làm tự tánh. Tâm phan duyên luôn nắm bắt đối tượng
để duyên theo, rồi nhận cái đó làm tự tánh của mình. Đó là gốc sinh tử
từ xưa tới nay, vì có đối tượng thì biết còn không đối tượng thì
không biết gì hết. Đây gọi là tâm sinh diệt, là gốc sinh tử. Thứ hai
là căn bản “Bồ-đề Niết-bàn”, tức là “Thức tinh nguyên minh” hay sanh
ra các duyên mà bị các duyên bỏ sót nó
”. Nguyên là nguyên vẹn,
minh là sáng suốt, “Thức tinh nguyên minh” là cái thức nguyên vẹn,
tinh ròng không bị xen lẫn bất cứ cái gì. Nghĩa là cái thức căn bản
nguyên vẹn sáng suốt hay sanh ra các duyên nhưng bị các duyên bỏ sót
nó. Tức là nó biết cái này, biết cái kia, biết đủ thứ đó là sanh các
duyên, nhưng khi nó biết cái nào rồi thì nó chỉ nhớ cái đó mà quên mất
chính nó. Cho nên gọi là bị các duyên bỏ sót nó.

Thí dụ: như khi nó nhìn
cái bình hoa thì chỉ nhớ cái bình hoa, mà quên mất chính nó. Chính chỗ
đó mà người ta tu hành ít có đến được chỗ rốt ráo, ngược lại hay rơi
vào các thú hoặc rớt vào các đường sanh tử. Con người thấy cái nào rồi
thì đồng hóa mình với cái đó mà quên mất nó. Bây giờ chúng ta khéo trở
lại, biết hết tất cả nhưng không bỏ sót nó thì đó là Bát-nhã. Như vậy
không phải không cho chúng ta biết, biết hết nhưng đừng bỏ sót chính
nó. Đó gọi là biết Bát-nhã, là gốc trở về Bồ-đề Niết-bàn. Chúng ta
thấy giữa sanh tử và Niết-bàn cách nhau bao xa? Chỉ là một cái xoay
thôi. Thay vì biết tất cả rồi đồng hóa nó với tất cả mà quên mất chính
nó, thì đó là sanh tử luân hồi. Biết tất cả mà không quên mất chính
nó, luôn luôn có mặt chính nó thì đó là gốc Bồ-đề Niết-bàn. Chỉ nhích
chút xíu, đâu có cách biệt xa xôi gì. Nhưng tập khí nhiều đời làm con
người không chịu nhích, nó biết cái gì thì đồng hóa cái đó, chỉ nhớ
cái đó thôi.

Đúng như kinh Lăng-nghiêm, Phật quở Ngài A-nan. Phật đưa cánh tay lên, hỏi: “Thấy không?”. A-nan thưa: “Thấy”. Phật để cánh tay xuống, hỏi: “Thấy không?”. Đáp: “Không thấy”.
Như vậy rõ ràng, khi đưa cánh tay lên thì thấy cánh tay, biết có cánh
tay rồi đồng hóa chính nó với cánh tay luôn. Nó nhớ cánh tay mà quên
mất chính nó, nên khi để cánh tay xuống thì nói là không thấy, vì nó
chỉ nhớ cánh tay. Sự thật là giơ cái tay lên thì nó thấy cái tay, để
cái tay xuống thì nó thấy không có cái tay, chính nó luôn có mặt, lúc
nào cũng sáng suốt. Rồi nghe tiếng cũng vậy, khi nghe có tiếng nói thì
bảo có nghe, khi ngưng không có tiếng nói thì gọi là không nghe. Đó là
đồng hóa chính nó với cái tiếng, nên quên mất chính nó, đó là gốc
sanh tử luân hồi. Bây giờ chúng ta tu Bát-nhã là trở lại, khi nghe nó
cũng biết có tiếng nhưng không quên mất chính nó. Nghe tiếng thì biết
có tiếng, không tiếng thì biết không tiếng, vậy thôi. Lúc nào nó cũng
biết, cũng nghe, nghe có tiếng nghe không có tiếng, đâu có lúc nào
mất. Đó chính là trở về Bát-nhã, là gốc Bồ Đề Niết-bàn.

III. KHẲNG ĐỊNH

Tâm kinh Bát-nhã là trừ
sạch các tâm phan duyên, tâm bám chấp theo duyên nên nói cái gì cũng
không, để nó không bám dính vào bất cứ cái gì. Không bám không dính gì
hết là trả về gốc Bồ Đề Niết-bàn. Nhưng theo tinh thần Bát-nhã chỉ là
phá chấp, chứ không nói đến cái gốc của nó. Đến tinh thần Lăng-nghiêm,
Pháp Hoa, Phật mới chỉ ra cái gốc chân thật đó. Cho nên, Bát-nhã ban
đầu vào là phá hết, nói gì cũng không. Nhiều người hiểu chưa chính xác
Bát-nhã, nói học Bát-nhã dễ rơi vào chấp không.

Nhưng nếu là người học
kỹ Bát-nhã, sẽ thấy tinh thần của Bát-nhã là phủ định tất cả để thành
tựu tất cả. Mở đầu bài Tâm kinh là phủ định cái gì cũng không, nhưng
đoạn cuối thì xác định ba đời chư Phật đều nương Bát-nhã Ba-la-mật-đa
mà được đạo quả vô thượng Bồ-đề, Bồ-tát cũng y theo Bát-nhã
Ba-la-mật-đa mà tâm không ngăn ngại, vì tâm không ngăn ngại mà đạt đến
cứu cánh Niết-bàn. Như vậy, ba đời chư Phật đều nương nơi Bát-nhã mà
thành Chánh đẳng Chánh giác. Bồ-tát cũng nương nơi Bát-nhã mà tâm
không ngăn ngại, xa rời điên đảo vọng tưởng đến cứu cánh Niết-bàn.
Cuối cùng, đâu có phải là không hết, ban đầu phủ định sau là xác định
trở lại.

Như vậy trước là phá hết
để chúng sanh không còn mê chấp, sau mới chỉ ra cái thật. Có người
không hiểu Bát-nhã, nói Bát-nhã dạy cái gì cũng không, rồi trở lại chấp
không. Bản tâm kinh ban đầu là phá chấp có, sau phá luôn chấp không,
sạch hết các chấp đó mới là Bát-nhã Ba-la-mật.

Thiền sư Duy Tín nói: “Lúc
chưa học đạo, thấy núi sông là núi sông. Khi học đạo, thấy núi sông
chẳng phải núi sông, sau ba mươi năm thấy núi sông là núi sông
”.
Con người khi chưa học đạo thấy gì cũng thật: mình thật, người thật, vật
thật v.v… nhưng đến khi học Bát-nhã thấy cái gì cũng không thật: Ta
không, vật không, pháp cũng không v.v… nên thấy núi sông chẳng phải
núi sông. Nhưng đến chỗ rốt ráo, tâm sáng suốt phá sạch hết không còn
chấp bất cứ điều gì nên thấy trở lại núi sông là núi sông, không nói
có nói không gì cả.

Tuy nhiên, đến giai đoạn
này thấy núi sông là núi sông khác với lúc chưa học đạo. Vì chúng ta
thấy trong trí tuệ sáng suốt, thấy rõ núi sông là núi sông nhưng không
mê lầm nó, nên khác hơn với lúc chưa học. Như vậy khi tâm phá sạch
tình chấp thì nhìn cái gì nó cũng sáng ngời, tỏ rõ không mê lầm. Giống
như chúng ta mang mắt kính, nếu đôi kính màu đen thì thấy cảnh vật
cũng màu đen, nếu đôi kính màu hồng nhìn cái gì cũng màu hồng. Khi gở
mắt kính ra thì thấy cái gì đúng như thật cái đó. Khi tâm sạch hết
tình chấp thì nhìn tất cả đều trong ánh sáng chân thật. Nên nói
Bát-nhã rốt cùng là chân thật bất hư, thấy rõ cái chân thật không hư
đối.

Như vậy, chúng ta học
Bát-nhã đâu phải là không còn thấy biết, chỉ không tất cả cái hư dối
để trả lại cái biết chân thật nơi mỗi người. Trong nhà Thiền có câu
chuyện: Mã Tổ là thiền sư nổi tiếng trong thời Đường, ban đầu Ngài dạy
học nhân mới đến: “Tức Tâm tức Phật”, Phật ngay nơi tâm; Tâm tức Phật
để chúng ta soi trở về nơi tự tâm. Nhưng thời gian sau, Mã Tổ nghe ai
cũng bắt chước nói theo tức Tâm tức Phật, ngay nơi Tâm là Phật nên
không cần phải tu. Nhiều người lập đi lập lại câu tức Tâm tức Phật
nhưng chỉ thuộc mà không có hành nên thành vướng mắc. Để phá cái dính
mắc của học nhân, sau đó Mã Tổ lại nói: “Chẳng phải tâm chẳng phải
Phật chẳng phải vật”. Khi đó, có một vị tăng mới đến ngài Nam Tuyền
hỏi:

– Mã Tổ nói chẳng phải tâm chẳng phải Phật chẳng phải vật, là ý gì?

Ngài Nam Tuyền đáp:

– Tâm chẳng phải Phật, trí chẳng phải đạo.

Vị tăng thưa:

– Con chưa biết ý nghĩa thế nào?

Ngài Nam Tuyền nói:

– Nếu ngươi không nhận tâm là Phật, trí là đạo. Ngay bây giờ nếu lão tăng chợt được tâm thì để chỗ nào?

Vị tăng thưa:

– Đã hoàn toàn chẳng được, đâu khác với hư không.

Ngài Nam Tuyền bảo:

– Đã chẳng phải vật làm sao so với hư không, lại nói cái gì là khác chẳng khác.

Vị tăng thưa:

– Chẳng lẽ là không luôn cái chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật nữa hay sao?

Ngài Nam tuyền bảo:

– Ông nếu nhận cái ấy thì thành tâm Phật.

Tức là ngay khi ông nhận rõ cái chẳng phải tâm, chẳng phải vật, chẳng phải Phật thì đó chính là tâm Phật.

Cho nên, trước là phủ
nhận tất cả, không còn chỗ để học nhân bám nhưng khi tâm sạch hết
không còn chỗ bám thì đó chính là tâm Phật. Nhưng chúng ta thì đòi phải
có cái gì khác nữa, do muốn có cái gì khác nữa là chỗ mắc kẹt, chỗ mê
lầm của chúng ta. Bát-nhã là phá chấp, thấy tất cả đều không và chính
cái thấy đó là Bát-nhã.

IV. VƯỢT QUA DẤU VẾT VĂN TỰ NGÔN NGỮ

Tinh thần
Bát-nhã là vượt qua hết dấu vết văn tự, chữ nghĩa, cuối cùng kết thúc
bằng một câu thần chú: “Yết-đế yết-đế, ba-la yết-đế, ba-la-tăng
yết-đế, Bồ-đề tát-bà-ha”.
Chúng ta đọc kỹ thấy có mâu thuẫn không?
Trước đó nói: “Bát-nhã Ba-la-mật-đa là đại thần chú, là đại minh chú,
là vô thượng chú, là vô đẳng đẳng chú, v.v…”. Bát-nhã đã là đại thần
chú, đại minh chú

tức là thần chú
uy linh, thần lực sáng suốt to lớn, rồi vô thượng, vô đẳng đẳng không
gì bằng. Thần chú như vậy quá siêu rồi, nhưng tại sao lại còn nói
chú?

Nếu người đọc
theo chữ nghĩa thì không thấy được cái ý đó, nhưng đó là ý nghĩa sâu
mà Phật muốn chỉ. Nói Bát-nhã là đại thần chú, đại minh chú, vô thượng
chú, vô đẳng đẳng chú, là cũng dùng văn tự chữ nghĩa để giải thích
cho người ta hiểu. Đến rốt cùng nói bằng một câu chú thì không ai
hiểu, đó là phủi sạch hết chữ nghĩa cho người ta vượt qua khỏi văn tự,
đưa thẳng người học trực tiếp vào Bát-nhã.

Do tâm con
người lúc nào cũng muốn hiểu biết, nên luôn tìm cách duyên theo để
hiểu. Đúng theo tinh thần Bát-nhã là ngay khi không còn chỗ nào để
hiểu là đi vào Bát-nhã. Ý nghĩa rất sâu xa nhưng thường thì chúng ta
đọc chữ nghĩa rồi cho qua, chứ không thấy được ý nghĩa đó. Vì vậy không
có gì mâu thuẫn, mà đầy đủ ý nghĩa. Như nhà Thiền thường hét một
tiếng, đập một gậy là hết nghĩ ngợi đưa thẳng vào Bát-nhã, gọi là một
đao chặt đứt hai đầu. Người lanh lợi, bén nhạy thì ngay đó là vào cứu
cánh Bát-nhã, mới đúng là học xong Bát-nhã. Bài tâm kinh Bát-nhã là
tinh yếu, hệ thống của bộ kinh Bát-nhã. Cho nên, chúng ta có thể học kỹ
bài tâm kinh Bát-nhã là đủ thành Phật rồi. Nên kinh nói ba đời chư
Phật đều y đó mà thành Phật, Bồ-tát cũng y đó mà tâm vô quái ngại đạt
đến cứu cánh Niết-bàn. Đúng tinh thần học Phật là học ngay tâm chứ
không phải chỉ học chữ nghĩa.

Khi Phật mới
thành đạo, Ngài thấy chỗ chứng đạo quá sâu xa, khó hiểu, sợ nói ra
người ta không hiểu, hay hiểu lệch lạc nên Ngài do dự không muốn
thuyết pháp. Sau đó, Phạm thiên thỉnh ba lần Phật mới nhận, ngay đó
Phật đã muốn nhắn nhủ cho người sau: muốn học Phật, muốn thấy được ý
nghĩa của Phật thì phải vượt qua những ngôn ngữ, chữ nghĩa. Những điều
mà Phật nói ra chỉ là bất đắc dĩ Phật mới nói thôi. Còn chỗ Phật chứng
rất là khó nói, không thể nói được, nhưng vì thương chúng sanh mới
dùng phương tiện nói đến cái chỗ không thể nói.

Qua đây, Phật
muốn nhắn nhủ cho người sau là phải vượt qua chỗ Phật đã nói để thấy
được chỗ Phật chưa nói, chỗ Phật không thể nói, đó mới là khéo hợp với
ý Phật. Kinh Lăng-già ghi: “Phật ra đời từ khi ban đầu chuyển
pháp luân cho đến sau nhập Niết-bàn, trong khoảng bốn mươi chín năm
Phật thuyết pháp nhưng cuối cùng ngài xác định: “Như Lai chưa từng nói
một lời””
. Thuyết pháp bốn mươi chín năm mà chưa từng nói một
chữ, rõ ràng muốn nhắn những người đệ tử Phật là không nên mắc kẹt trên
chữ nghĩa, tuy chữ nghĩa do Phật nói nhưng mà lý thật không ở trên
chữ nghĩa đó. Phật nói xong là phủi sạch, chưa từng nói một chữ nào.

V. TÓM KẾT

Chúng ta học
Bát-nhã là học xả tất cả để được tất cả. Học Bát-nhã là sẵn sàng
buông, là phá chấp chứ không phải phá pháp. Có người phê bình Bát-nhã
nói cái gì cũng không: Tứ đế, Mười hai nhân duyên đến trí đắc cũng
không, như vậy Phật phá hết pháp lấy gì tu? Nếu chúng ta hiểu đúng theo
tinh thần Bát-nhã, phá ở đây là phá chấp về cái pháp đó chứ không
phải là phá pháp. Pháp là Phật dạy cho người tu: Tứ đế, Mười hai nhân
duyên, Lục độ Ba-la-mật đâu có lỗi, lỗi là người ta chấp vào pháp đó.

Thí dụ: như
chấp vào Tứ đế cho mình thật có chứng đắc được quả A-na-hàm, A-la-hán
v.v… Do chấp có chứng có đắc mới là lỗi, nếu biết đó là phương tiện
Phật dạy để chúng sanh trừ mê lầm, chấp trước trở về cái chân thật thì
đâu có lỗi. Biết rõ quả vị cũng là phương tiện không phải là mục đích
cứu cánh, thì chúng ta không mắc kẹt trên những quả vị đó. Không thấy
tôi là người chứng A-la-hán nên không mắc kẹt.

Học Mười hai
nhân duyên là để phá chấp về sanh tử luân hồi. Con người sinh tử luân
hồi là từ: vô minh duyên hành, hành duyên thức v.v… nên có sinh tử,
ưu bi, khổ não. Do chúng sanh lầm chấp Mười hai nhân duyên, nên Phật
nói Mười hai nhân duyên để người tỏ ngộ chúng không có thật. Nhưng
chúng ta lại chấp sinh tử có thật vào Mười hai nhân duyên. Sinh tử
không có thật, chỉ do nhân duyên mà có sinh tử. Do cái này có nên cái
kia có, nếu cái này không thì cái kia cũng không. Như vậy rõ ràng sinh
tử không có tính thật, ngay đó nhận ra sinh tử vốn không tức là vô
sanh. Phật nói Mười hai nhân duyên để chúng ta thấu suốt được sinh tử
không có thật, chúng sanh có thể thoát được sanh tử.

Chúng ta hiểu
như vậy mới thấy được ý nghĩa sâu của Phật dạy. Phá chấp hết thì chân
thật hiện bày, Bát-nhã sáng ngời. Tinh thần của đạo Phật là vô ngã:
nhân vô ngã, pháp vô ngã cuối cùng không có gì để bám. Nhưng cái gì thấu tất cả đều vô ngã? Và cái này có phá được không? Chính Bát-nhã thấu suốt tất cả, phá hết tất cả, khi phá sạch hết rồi chính đó là Bát-nhã. Và cái đó không làm sao phá được.

Nhà Thiền có câu chuyện:

Vị tăng đến Ngài Tào Sơn Bổn Tịch (Thiền sư Bổn Tịch ở Tào Sơn) hỏi:

– Thế nào là cây kiếm không mũi?

Ngài Tào Sơn đáp:

– Đó là chẳng do rèn luyện mà thành.

Vị tăng hỏi:

– Vậy dụng của nó thì như thế nào?

Ngài Tào Sơn đáp:

– Ai gặp cũng đều phải chết hết.

Vị tăng hỏi:

– Còn không gặp thì sao?

Ngài Tào Sơn đáp:

– Cũng phải rơi đầu luôn.

Vị tăng hỏi:

– Người gặp đều phải chết đó là cố nhiên, vậy người không gặp thì sao cũng rơi đầu?

Ngài Tào Sơn bảo:

– Ông không nghe nói là nó hay sạch hết tất cả sao!

Vị tăng hỏi:

– Vậy khi sạch hết thì sao?

Ngài Tào Sơn bảo:

– Thì mới biết có cây kiếm này.

Người xưa mượn
hình ảnh cây kiếm của thế gian để chỉ cho Bát-nhã. Cây kiếm đó không
có hình tướng, nên không có mũi cũng không phải do rèn luyện mà thành.
Nó ở ngay nơi mỗi người không phải do đúc luyện mà tạo nên. Dụng của
nó là quét sạch tất cả, gặp cũng chết mà không gặp cũng chết. Tức là
“có” cũng chém, “không” cũng chém, “đụng” cũng chém, “không đụng” cũng
chém, chém sạch hết không cho bám vào cái gì. Khi sạch hết không còn
chấp, không còn bám thì mới biết “có cây kiếm này”.

Như vậy, tinh
thần của Bát-nhã là thể hiện chân lý sự thật ngay nơi con người, không
ở nơi xa xôi. Điều này chúng ta có thể chứng nghiệm ngay đời này,
không phải đợi qua đời sau mới chứng minh. Ngay nơi hiện tại chúng ta
không chấp, không bám thì chứng liền Bát-nhã. Quan trọng là chúng ta
dám buông, không bám chấp vướng tình thì Bát-nhã sáng ngời như thật. Vì
vậy chúng ta phải phát huy được ánh sáng chân thật của chính mình,
làm đuốc soi để tự mình đi và có thể đưa chúng sanh về nhà. Mong thay!

 

TT Thích Thông Phương

Xem thêm: https://www.phaphay.com/phat-phap/

Nguồn: https://www.niemphat.vn/

Add Comment