Yếu tính thể nghiệm trong tôn giáo của đạo Phật từ Phật giáo nguyên thủy đến Phật giáo phát triển

Yếu tính thể nghiệm trong tôn giáo của đạo Phật từ Phật giáo nguyên thủy đến Phật giáo phát triển 1

Từ suy niệm về bức thông điệp của thời đại mới

Tôi xin vào đề từ câu kinh: “Hãy trở về nương tựa mình và nương tựa pháp; ngươi là hải đảo, là nơi nương tựa của chính ngươi!” để làm tiền đề cho thảo luận này.

Chúng ta biết rằng, trong một bối cảnh lịch sử, khi mà phần lớn
các tôn giaó đều chủ trương con ngươì và mọi hiện hữu trên thế gian
này hoặc là tạo vật của Thượng Ðế, của Ðấng toàn năng vô hạn, của
một Bản Thể Ðại ngã…, hoặc là phải chịu sự chi phối của một thế
lực siêu nhiên vô hình nào đó, thì Phật giáo ngược lại, chủ trương
con người là chủ nhân của tất cả. Mỗi con người là một thế giới, một
vũ trụ, một hành tinh của các phạm trù đối lập: khổ đau và hạnh
phúc, thiện và bất thiện…; và quan trọng hơn hết, mỗi người là hải
đảo của chính mình, là nơi nương tựa của chính mình.Lời tuyên bố
của bức thông điệp ấy qủa thật là phi thường. Vì đối diện trước nó,
con người chỉ có thể hoặc là sống buông trôi theo dòng sinh tử bất
tận, sống như kiểu: “Phận bèo đâu quản nước xa, lênh đênh đâu nữa
cũng là lênh đênh” (Nguyễn Du); hoặc là – chủ động tái thiết cuộc
đời dâu bể này thành một hành tinh cuả hạnh phúc thực thụ – Niết bàn
trần thế hay “Tịnh độ nhân gian”.

Thế nhưng trước hết, theo quan niệm thông thường, chúng ta biết
rằng, đặc tính của con người là bất toàn. Do bất toàn mà con người
luôn hướng về một Ðấng toàn thiện, hòng mong được cứu rỗi, được độ
trì chở che. Và lúc bấy giờ, với một tâm thức như thế, hẵn nhiên,
chỉ có kẻ trên cao mới có thể cứu người dưới thấp. Cũng như một
người, khi đứng dưới đất thì không thể tự mình nắm tóc mình và nhấc
mình lên khỏi mặt đất, nếu muốn được như thế, phải có một người khác
ở trên cao làm nhiệm vụ cứu độ… Phải chăng xuất phát từ ý niệm đó
mà con người luôn luôn đi tìm kiếm một đối tượng siêu nhân ? Và
cũng từ đó, thay vì từ cứu độ theo trực nghĩa, được hiểu như là sự
giúp đỡ lại biến thành học thuyết cứu độ, như cứu độ cho những linh
hồn (Soul’s salvation) và cưu mang trong nó một thế giới của huyền
học thần bí? Từ đó, khi con người càng trầm kha trong dục vọng khổ
đau thì tâm thức của họ càng bị cuốn hút vào thế giới của các thế
lực vô hình, ở đó khát vọng được cưú độ xuất hiện như là một trú xứ
bình yên duy nhất mà con người khả dĩ nương tựa. Bởi lẽ, như đã nói,
đặc tính của con người là tội lỗi và khổ đau; mà tội lỗi và khổ
đau, bản chất của nó không gì khác hơn là sự bất lực, sự không vượt
qua nỗi con người của chính mình- con người của khát vọng. Do đó,
càng khát vọng thì càng khổ đau. Tất nhiên, khát vọng được đề cập ở
đây là khát vọng được phát sinh từ tự ngã- cái tôi,cái của tôi, cái
tự ngã của tôi. Và, phần lớn nhân loại đều / hoặc ra đi, hoặc trở về
với cái tự ngã đó. Ðây là lý do tại sao Ðức Phật kêu gọi sinh linh
của Ngài “hãy trở về nương tựa mình và nương tựa pháp“.

Hẵn bạn đọc cũng hiểu rõ khái niệm trở về – tiếng gọi đầu tiên
trong bức thông điệp của thời đại mới. Ðó là sự quay đầu trở lại,
trước hết là với con người của chính mình và tâm thức của chính
mình; và sau đó là trở lại với con đường Chánh pháp (nương tựa
pháp).

Ở đây, con người xuất hiện như một thế giới phổ quát với đầy đủ
các hiện tượng sai biệt đa thù, các đức lý thiện ác phân minh,và cho
đến cả những phẩm tính siêu việt (như những con người đã chứng
ngộ). Và Pháp xuất hiện như những chân lý, vừa mang tính hiện thực
khách quan – chân lý công ước, lâm thời; lại vừa mang tính tuyệt đối
– chân lý bất khả thuyết.

Từ đây chúng ta thấy rõ rằng, Ðạo theo Phật giáo là con đường qui
ngưỡng về một nếp sống mà ở đó vai trò của Thượng Ðế không có mặt.
Mọi trách nhiệm về khổ đau và hạnh phúc của đời người đều do con
người phán quyết; và đều đáng chú ý nhất ở đây là định luật nhân
qủa, một định luật mà đối với con người thì qủa thực là vô cùng khắc
khe. Nhân quả ở đây chính là định mệnh hiện tiền của mỗi con người.
Vì đó là nơi tích tụ của tất cả thiện nghiệp cũng như ác nghiệp của
con người chính nó từ vô lượng kiếp quá khứ.Và tương lai của định
mệnh đó như thế nào cũng tuỳ thuộc vào sự tạo tác của chính con
người – định mệnh hiện tiền này. Như thế, sự trở về ở đây, trước hết
là trở về với mọi trách nhiệm luân lý đạo đức, moị trách nhiệm
trong cuộc sống tư duy và hành động, trong thể cách ứng xử giữa tự
thân và tha nhân, giữa cá nhân và xã hội của mỗi con người. Thế giới
này là bao la, đời sống tâm thức này là vô tận, do đó, sẽ không có
bất kỳ một động lực tự nhiên hay siêu nhiên nào có thể ngự trị trong
dòng sinh tử luân lưu, ngoài trừ định luật nhân quả. Nhân quả như một
thứ trái khoán, mà một ngày nào đó nó phải được trả về cho trái chủ.

Trên một bình diện cao hơn, Ðức Phật dạy tất cả chúng sinh đều có
khả năng thành Phật. Nghĩa là cái hạt giống giác ngộ hay cái năng
lực giác ngộ là năng lực tiềm ẩn, vốn có trong tâm thức của mọi
chúng sinh. Do đó, trở về nương tựa mình chính là trở về với khả
năng giác ngộ mà bao lâu con người đã lãng quên. Trên con đường tìm
kiếm hạnh phúc và chân lý, con người luôn luôn đóng vai trò trung
tâm.Nghĩa là, khổ đau hay hạnh phúc là tùy thuộc ở cái nhìn của mỗi
con người khác nhau. Nhưng quan trọng hơn hết, cội nguồn của hạnh
phúc phải được khai phóng từ nguồn lực cá thể, tức là từ trong chiều
sâu tâm thức của mỗi người, đó là một bản thể tâm thức bình yên nội
tại, nó vận hành như một nguồn sinh lực uyên nguyên,như thác đổ,
như suối nguồn, như đại dương mênh mông bao la không giới tuyến.Và
cội nguồn hạnh phúc đó, người ta không thể cho nhau,và không thể vay
mượn của nhau. Ở đây cần ghi nhận rằng,dù là hiện thực hay tiềm
năng, thì cội nguồn hạnh phúc vẫn là yếu tố thường trực vốn có trong
mỗi con người. Thực tế cho thấy rằng, đời sống của con người do
không làm chủ được dòng vận hành của tâm thức, thân thể, môi trường
vv… nên thường xuyên đối diện với hai ảnh tượng bất an đó là hy
vọng và sợ hãi.Cho đến khi nào con người còn tìm kiếm hay nương tựa
vào một nơi trú ẩn nào khác ngoài con người của chính mình thì khi đó
đối tượng của sự bất an vẫn luôn luôn hiện hữu trong dòng sông tâm
thức. Càng không làm chủ thì càng bị dao động. Càng bị dao động thì
càng thao thức trong / hoặc hy vọng hoặc sợ hãi.

Cuối cùng nhưng không kém phần quan trọng đó là yếu tố chánh
pháp. Vì như đã đề cập, mặc dầu con người cũng như tất cả chúng sinh
đều có khả năng thức tỉnh- giác ngộ.Song, do tính chất lầm lỗi(vô
minh) và bất toàn nên cần phải được soi sáng bởi chánh pháp trong
mọi thế cách của tư duy và hành động. Bấy giờ, Pháp đóng vai trò là
con đường dẫn vào Ðạo.Và Pháp ở đây được cụ thể hóa như là cuộc sống
giới định tuệ… hay nói khác hơn là chân lý như thật (Dharma) đối
với con người, một thứ chân lý mà con người dù muốn hay không nó vẫn
là như thế. Ðó chính là dòng nhân qủa hai chiều cuả thế gian (con
người còn vô minh) và bậc xuất thế (con người giác ngộ) như được cụ
thể hoá trong pháp thoại về Bốn Chân lý.

Nói tóm lại, trên căn bản của đời sống, con người cần phải làm
chủ được hay ít ra là điều hành được cuộc sống tâm lý và vật lý của
chính mình.Và xa hơn, trên con đường đi đến giác ngộ, mỗi người phải
tự thắp đuốc lên mà đi, như lời Ðức Phật dạy: “Ngươi phải làm công việc của ngươi,vì Như Lai chỉ chỉ dạy con đường” (Dhp.XX). Hoặc là: “Ngươi là nơi nương tựa của chính ngươi, không ai khác có thể là nơi nương tựa
(Dhp.XII. 4). Ðây chính là bức thông điệp của thời đại mới, một bức
thông điệp không tiền khoáng hậu trong lịch sử tôn giáo và triết
học Ðông phương mà cách đây trên 26 thế kỷ, Ðức Phật đã truyền
trao cho loài người.

Ðến đời sống thể nghiệm tôn giáo trong kinh Lăng-già

Tôi xin vào đề từ câu chuyện của chúa loài Ràkshasa (La sát) như
được giới thiệu trong kinh Lăng già. Chuyện kể rằng, sau khi thuyết
giảng trong cung điện Long vương, Thế Tôn ra khỏi thất nhật định
trong lúc chư thiên đang tán hoa tôn tụng Ngài. Lúc ấy, Thế Tôn mĩm
cười, nhìn thành Lăng già, rồi Ngài dạy rằng:

“Các Như lai trong qúa khứ đã dùng chân lý này làm đề tài
thuyết giảng tại thành Lăng già trên đỉnh Malaya, đấy là chân lý
được chứng đắc từ trong chiều sâu của tâm thức, vượt ra ngòai tri
thức lý luận của các triết gia, cũng như các trạng thái tâm thức
của hàng Thanh văn, Duyên giác. Nay ta cũng thế, sẽ vì lợi ích của
chúa loài La sát mà thuyết giảng chân lý này”.

Lúc bấy giờ, do thần lực của Như Lai mà Ràvana, chúa loài La sát
nghe được những lời ấy.Trong khi đó, Thế Tôn vừa ra khỏi cung điện
Long vương, Ngài nhìn sóng biển và nhìn cả những giao động trong tâm
thức của chúng hội vây quanh Ngài, rồi Ngài bèn nghĩ đến tâm thức
alaya trong đó các thức đang sinh khởi và bị khấy động bơỉ ngọn gió
đối đãi -phân biệt. Trong khi đang lặng yên trong định như thế, thì
Ràvana trông thấy Ngài, liền vui sướng thốt lên rằng:

“Ta sẽ đến xin Thế Tôn vào thành Lăng già,vì suốt đêm nay Ngài
có thể làm lợi ích, hoan hỷ cho chư thiên và loài người.”

Ngay sau đó, Ràvana cùng với đoàn tùy tùng cỡi xe trời đến chỗ
Thế Tôn, nhiễu quanh Thế Tôn ba vòng, rồi gãy đàn ngọc tôn tụng tán
dương Thế Tôn bằng nhiều giai điệu khác nhau… Sau đó xin Thế Tôn
tuyên thuyết thánh nghĩa của kinh Lăng già…

Thế Tôn nhận lời mời thỉnh của Ràvana, Ngài im lặng bước lên xe
kết hoa, rồi các chàng nam tử ca múa nghinh tụng Ngài vào thành Lăng
già. Tại đây, vì lòng từ vô lượng, Thế Tôn đã tuyên giảng thánh
nghĩa về chân lý đưa đến chứng ngộ thâm sâu nhất bằng một loại âm
thanh tuyệt hảo,làm rung động cả đất trời. Thế rồi bỗng dưng, Thế
Tôn và các nam tử của Ngài biến mất trong hư không, chỉ còn lại
chính Ràvana đang đứng nơi lâu đài của mình.

Ràvana tự hỏi: “Cái gì thế này? Sao lại thế này? Thế này nghĩa là
gì? Ai đã nghe nhỉ? Ai đã thấy nhỉ? Thành quách đâu rồi? Những gì
đã chợt thấy nhỉ ? Và Thế Tôn đâu rồi? Ta bị bụi trong mắt ư? Hay do
khói hỏa luân mà ta thấy ra thế này?… “

Rồi Ràvana suy nghĩ: Ðây là bản chất như như (pháp tính) diệu
dụng của tâm mà kẻ ngu si lẫn lộn bởi các hình tướng huyễn ảo nên
không hiểu được. Kẻ nào thấy sự vật như đã từng thấy trước đây thì
không thể thấy Phật; Ðức Phật tòan giác chỉ có thể được nhìn thấy
nơi mà tự nó không hề biến đổi. Suy nghĩ như thế, chúa thành bỗng
đạt đến một sự chứng ngộ sâu thẳm từ nội tâm (Paràvriti), ông đã trú
vào cảnh giới thông tuệ vô phân biệt.

Bấy giờ giữa hư không bỗng có tiếng nói rằng: “Hãy tự mình biết
lấy! Tốt lắm, hỡi chúa thành Lăng già! Tốt lắm, hỡi chúa thành Lăng
già! Kẻ tu hành phải tu hành như ông vậy.”

Có thể nói rằng, câu chuyện trên, như được ghi chép cụ thể trong
chương thứ nhất của kinh Lăng già, là một cấu trúc điển hình của đời
sống tư tưởng tôn giáo của đạo Phật. Mặc dù Lăng già được xem là
một bộ kinh thuộc về tư tưởng Ðại thừa Phật giáo chính thống.Song,
như đã thấy, những gì được nói ra ở đây đều được tập chú vào cái cơ
cấu vận hành trong tâm thức của con người và cái tâm thức đó được
xem như làđiểm trung tâm hay là cái trục chính yếu cho mọi sự cô kết
của đời sống, biểu hiện hay không biểu hiện, đa thù hay nhất thể
v.v…

Trong cái bản thể tự nội của tâm thức, như kinh trình bày, chúng
ta thấy rõ khía cạnh của hai sự biểu hiện giữa một tâm thức đã đạt
đến một sự an tịnh tuyệt đối- như tâm thức của Phật và một tâm thức
lao xao bởi những làn sóng nhấp nhô phân biệt của chúng sinh. Cái
bản thể của tâm thức nhất như thì không thay đổi – như là thể tính
của nước, ngược lại, cái khác với nhất như thì luôn luôn biểu hiện
như sóng gió ba đào, một thứ sóng gió biểu trưng cho những tập quán
của tư duy của con người gắn liền với mọi sự đối đãi phân biệt như
có và không, sinh và diệt, sai biệt và đa thù v.v… Ở đây, có một
điều quan trọng cần nói đến là sự phân biệt. Phân biệt tự thân nó
không phải là một tập quán xấu của tư duy, mà chính sự bảo thủ và
bám viú vào các khái niệm phân biệt đã hình thành nên những chướng
ngại lớn lao trong sự thăng hoa của đời sống tâm thức. Con người sẽ
đánh mất tất cả sự thành kính, lòng thương yêu và cho đến cả cái
hạnh phúc thực thụ của chính mình khi mà mọi thứ đều bị buộc chặt
trong phân biệt không thể tự giải phóng ra khỏi các trật tự của khái
niệm. cũng như trong yêu thương có khái niệm tình yêu, nhưng trái
lại không ai có thể yêu thương bằng khái niệm hay trên khái niệm.
Tình yêu thực thụ thì không có khái niệm .Khái niệm về tình yêu và
tình yêu chính nó thì hoàn tòan khác nhau. Ðấy là lý do tại sao
Ràvana tự nói rằng với chính mình rằng: “Kẻ nào thấy sự vật như đã
từng thấy trước đây thì không thể thấy Phật; Ðức Phật toàn giác chỉ
có thể được nhìn thấy nơi mà tự nó không hề biến đổi.”

Một điều khác nữa cũng cần được bàn đến đó là tại sao trong đời
sống thể nghiệm tôn giáo của đạo Phật luôn đòi hỏi một sự siêu việt
lên trên mọi khái niệm phân biệt như lời ấn chứng từ trên không
trung của Phật cho chúa loài La sát: “Hãy tự mình biết lấy! Tốt lắm,
hỡi chúa thành Lăng già! Tốt lắm, hỡi chúa thành Lăng già! Kẻ tu
hành phải tu hành như ông vậy.”

Ở đây có hai con đường nhận thức một là nhận thức thông thường,
hai là nhận thức trong thể nghiệm tâm linh. Nhận thức thông thường
được xây dựng trên cơ sở phân biệt của các khái niệm,trái lại nhận
thức theo xu hướng thể nghiệm tâm linh được bắt nguồn từ sự gội rửa
mọi khái niệm phân biệt trong cách thế của nhị nguyên. Ðấy là một
hướng đi ngược lại hoàn toàn. Trong viễn kiến của tự nhiên, con
người trần thế luôn luôn khát khao đạt đến một kiến thức rộng lớn về
các vấn đề liên quan đến cuộc sống của con người cũng như thế giơí
thực tại chung quanh con người bằng một trật tự lắp ghép của các
khái niệm. Và thường những kiến thức đó gắn liền với một cái khung
ngã tính, như đây là kiến thức của tôi, đây là sự hiểu biết của tôi
v.v… Cái kiến thức thì đương nhiên là không có vấn đề gì để nói,
dù lớn hay nhỏ, uyên bác hay nông cạn. Nhưng cái tôi trong kiến
thức, trái lại, luôn luôn là một chướng ngại lớn lao trong đời sống
thể nghiệm tâm linh. Vì như đã nói, khái niệm tự thân nó thì không
gì khác hơn là những mẫu sơ đồ được phát họa bởi tâm thức trong
tương quan. Bao lâu con người còn bị buộc chặt trong những mẫu sơ đồ
như thế, nghĩa là tâm thức còn bị lệ thuộc vào trật tự của các khái
niệm-ngôn từ, thì hẳn nhiên không làm sao mà lĩnh hội được những
cái vượt lênể được thông hiểu bằng những biểu từ suông về nó, nên
các ngôn từ không phải là thực tính tối cao. “Và, này Mahàmati, cái
thực tính tối cao phải được đạt đến bằng sự chứng ngộ tự nội của
Thánh trí.” (Kinh Lăng Già, ch.XXXIII, tr.208, bản dịch của Thích
Chơn Thiện & Trần Tuấn Mẫn, Nxb.Tp HCM, 1998)

Vả lại, như tôi đã nói ngay trong phần suy niệm về bức thông điệp
của thời đại mới, sự thể nghiệm chân lý không phải là một bài học
như kiến thức được trao truyền từ thầy qua trò, từ người này sang
người khác; mà trái lại, hệ qui chiếu của nó luôn luôn hướng về vai
trò của trách nhiệm cá thể, sự thể nghiệm cá thể, sự chứng ngộ cá
thể. Ở đây hoàn toàn không hề có cái gọi là khuôn mẫu của sự chứng
ngộ hay khuôn mẫu của sự thể nghiệm chân lý, mỗi người đạt đến
sự thể nghiệm chân lý theo cái cơ hội và khả năng riêng biệt khác
nhau. Ðiều này đã được chứng minh rõ ràng trong lịch sử chứng ngộ
của đạo Phật. Ðấy là lý do tại sao Ðức Phật bảo Ràvana rằng: “Hãy tự
mình biết lấy” và “kẻ tu hành phải tu hành như ông vậy.”

Nói tóm lại, con đường thể nghiệm chân lý trong tôn giáo của đạo
Phật từ truyền thống của Phật giáo Nguyên Thủy đến Phật giáo Phát
triển luôn luôn đi theo một chiều hướng nhất quán, bất di bất dịch.
Tuy nhiên, phương tiện thực hành của đời sống tôn giáo thì có muôn
ngàn sự khác nhau, điều đó cũng như nước trăm sông đều đổ về biển
cả, vậy thôi. Trên thực tế, bây giờ cũng là lúc chúng ta cần xác lập
lại giá trị của sự thể nghiệm này trong mọi lĩnh vực của đời sống
sinh hoạt tôn giáo, nếu không như thế, thì giá trị của tôn giáo sẽ
bị xóa nhòa giữa bao trận chiến của quyền lực kinh tế, quyền lực xã
hội của những kẻ đội lốt tôn giáo, bên cạnh những niềm tin đang còn
được ấp ủ trong mong manh hương khói.

Thích Tâm Thiện

Xem thêm: https://www.phaphay.com/phat-phap/

Nguồn: https://www.niemphat.vn/

Rate this post

Add Comment